Mục lục
Danh mục sơ đồ, bảng biểu
1
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian làm việc khẩn trương và nghiêm túc, đến nay chuyên đề đã
được hoàn thành. Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy
giáo, cô giáo Quản Lý Đất Đai, Trường Đại học Tài Nguyên Và Môi Trường Hà
Nội đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Xin trân trọng cảm ơn Thầy giáo ThS. Nguyễn Thị Huệ, người trực tiếp
hướng dẫn em thực hiện chuyên đề này.
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo UBND xã Cao Viên, huyện
Thanh Oai, thành phố Hà Nội, Ban Địa chính xã, Văn phòng UBND xã, Hợp tác xã
Nông nghiệp, ... để tôi có những thông tin cần thiết hoàn thành chuyên đề này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn !
Cao Viên, ngày 26 tháng 03 năm 2017
Sinh viên
Lê Văn Yên
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT
:
Uỷ ban nhân dân
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là cơ sở không gian
của mọi quá trình sản xuất, là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp, là thành
phần quan trọng nhất của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây
dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại chương II
Điều 18 quy định “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật
đảm bảo sử dụng đúng mục đích và hiệu quả”. Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998, năm 2001 (Điều 13) đều quy định: “Quy
hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất” là 1 trong 7 nội dung quản lý Nhà nước về
đất đai. Luật Đất đai năm 2013 một lần nữa khẳng định rõ nội dung lập điều chỉnh quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai theo ngành, theo cấp lãnh thổ hành chính và được cụ
thể hóa tại Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 06 năm 2014 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất.
Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
nhằm định hướng cho các cấp, các ngành lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết trên địa
bàn lãnh thổ; là cơ sở pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai, làm căn cứ
cho việc giao đất, cho thuê đất... và đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội.
Đồng thời việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một biện pháp hữu hiệu của
Nhà nước nhằm hạn chế việc sử dụng đất chồng chéo, lãng phí, kém hiệu quả, ngăn
chặn các hiện tượng tranh chấp, lấn chiếm, huỷ hoại đất, phá vỡ cân bằng môi
- Thông tư số 30/2014/NĐ-CP ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu
hồi đất;
- Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn
một số điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy
định về thu tiền sử dụng đất;
- Thông tư của Bộ Tài nguyên và Môi trường số 24/2014/TT-BTNMT ngày
19/5/2014 Quy định về hồ sơ địa chính;
- Quyết định số 49/2014/QĐ-UB ngày 19/8/2014 của UBND thành phố Hà Nội
ban hành quy định về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
6
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh TP
Hà Nội;
- Căn cứ vào số liệu, tài liệu về thống kê, kiểm kê đất của xã qua các năm.
- Căn cứ vào phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, phương
án quy hoạch sử dụng đất xã đến năm 2020.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Khái niệm về đất đai
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động. Trong quá trình lao động
con người tác động vào đất để tạo ra các sản phẩm cần thiết phục vụ cho con người,
vì vậy đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên, đồng thời vừa là sản phẩm lao động
của con người.
1.2.2. Khái niệm quản lý nhà nước,quản lý nhà nước về đất đai
Khái niệm quản lý nhà nước:
Là điều hành của bộ máy nhà nước,hoạt động của các tổ cức nhà nước trên các
phương diện pháp luật, hành pháp và tư pháp. Hay có thể hiểu là cơ chế “Đảng lãnh
11. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
12. Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định
của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
13. Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai.
14. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý
và sử dụng đất đai.
15. Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.
1.3 Cở sở thực tiễn
- Tình hình quản lý đất đai và vấn đề sử dụng đất ở Việt Nam
8
Bất kỳ một quốc gia nào, nhà nước nào cũng có một quỹ đất nhất định được
giới hạn bởi biên giới quốc gia mà thiên nhiên ban tặng. Bất kỳ một nhà nước nào,
chế độ chính trị nào ở thời kỳ lịch sử nào cũng cần có đất. Đất đai là vấn đề sống
còn của mỗi quốc gia vì vậy nhà nước muốn tồn tại và phát triển thì phải quản chặt
nắm chắc tài nguyên đất đai đó. Mỗi thời kỳ lịch sử với giai cấp khác nhau, chế độ
chính trị khác nhau đều có chính sách quản lý đất đai đặc trưng cho thời kỳ lịch sử
đó.
Ở chế độ nô lệ thì nước ta triều đại hùng vương kéo dài hàng nghìn năm, xã hội
Việt Nam đang ở thời kỳ công xã nguyên thủy tan rã. Vì vậy ruộng đất đang chuyển
từ tay tập thể công xã sang giai cấp chủ nô. Các chủ nô nắm quyền quản lý đất đai
và cả nô lệ.
Sang thời kỳ phong kiến thì đất đai chủ yếu tập trung vào tay của tầng lớp
thống trị và bọn địa chủ. Nhân dân không có ruộng đất, phải làm thuê hoặc mướn
ruộng để sản xuất.
Đối với chế độ thực dân phong kiến thì từ khi tới xâm lược nước ta thực dân
pháp đã điều chỉnh mối quan hệ đất đai theo luật pháp của nước Pháp. Công nhận
Năm 1987 luật đất đai đầu tiền ra đời mở ra bước ngoặt mới cho công tác quả
lý và sử dụng đất nước ta. Tiếp theo đó là các thông tư nghị định của các bộ ban
hành nhằm điều chỉnh, hướng dẫn những chính sách đất đai của Nhà nước : Thông
tư luên bộ số 05-TT/LB ngày 18/12/1991 của bộ thủy sản và tổng cuc quản lý ruộng
đất hướng dẫn giao cho những ao nhỏ, mương rạch nằm gọn trong đất thổ cư cho hộ
gia đình và ao lớn, hồ lớn thì giao cho một nhóm hộ gia đình sử dụng; quyết định
327/CT của hội đồng bộ trưởng ngày 15/07/1992 về thực hiện chính sách giao
ruộng đất, đồi núi trọc, ruộng bãi bồi, ven biển và mặt nước cho hộ gia đình sử
dụng.
Năm 1992 Luật đất đai tiếp tục bổ sung, sửa đổi nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng
đất trong thời kỳ đổi mới.
Để phù hợp với những yêu cầu kinh tế trong giai đoạn mới, kỳ hợp quốc hội
khóa IX ngày 14/07/1993 Luật đất đai, Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp được
thông qua. Sau đó liên tục các văn bản của chính phủ và các bộ ngành ra đời nhằm
triển khai luật này: Nghị đinh 64/CP ngày 27/09/1993 về đất nông nghiệp, nghị định
88/CP ngày 17/08/1994 về đất đô thị, nghị định 02/CP ngày 15/01/1994 về đất lâm
nghiệp.
Ngày 26/11/2003 Luật đất đai ra đời và có hiệu lực ngày 01/07/2004 tiếp tục
sửa đổi cho phù hợp với nền kinh tế thị trường trong thời đại mới, hàng loạt các văn
bản hướng dẫn thi hành luật kèm theo đã thực sự đưa công tác quản lý và sử dụng
đất đi vào nề nếp, ổn định.
Mới nhất là Luật đất đai 2013 và các Nghị định liên quan hướng dẫn thi hành
Luật đất đai 2013.
10
CHƯƠNG 2:ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu
Phân tích các tài liệu, số liệu đã có trên địa bàn tỉnh; quy hoạch của các
ngành đã và đang được xây dựng có liên quan đến việc sử dụng đất đai để rút ra quy
luật phát triển, biến động đất đai.
12
CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Xã Cao Viênthuộc huyện Thanh Oai, TP Hà Nội. Ví trí địa lý của xã như sau:
•
Phía Bắc giáp quận Hà Đông.
•
Phía Nam giáp xã Thanh Cao và huyện Chương Mỹ.
•
Phía Đông Nam giáp xã Bích Hòa, xã Bình Minh.
•
Phía Tây giáp huyện Chương Mỹ
b. Địa hình, địa mạo
Nguồn nước ngầm chủ yếu là nước giếng khoan, có độ sâu 30-35 m, qua xử
lý làm nước sinh hoạt cho nhân dân trong xã.
e. Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên đất
14
-Về diện tích: Tổng diện tích tự nhiên theo địa giới hành chính của xã là
718,97ha. Trong đó, đất nông nghiệp có 472,56 ha, đất phi nông nghiệp có 235,44
ha, và 10,97 ha đaát chưa sử dụng .
- Về thổ nhưỡng: căn cứ nguồn gốc phát sinh tài nguyên đất cũng như gắn
liền với sự phân bố tự nhiên của địa hình, thổ nhưỡng của xã được chia thành 2
nhóm đất chính như sau:
+ Đất được phù xa bồi: Phân bố chủ yếu ở các khu vực bãi ngoài đê trong
vùng phân lũ song Đáy , có độ phì cao, thành phần cơ giới là cát pha thịt nhẹ, thích
hợp cho việc trồng các loại rau màu và cây trồng trên cạn.
+ Đất phù sa không được bồi: Phân bố chủ yếu trên địa bàn xã, độ phì không
cao, phù hợp với mô hình lúa-cá-vịt, lúa màu và các loại cây lâu năm.
Nhìn chung , đất đai xã Cao Viên có độ phì tiềm năng cao, ở nhiều khu ruộng
tầng đất mặt có thành phần cơ giới là đất thịt nhẹ, tơi xốp có thể bố trí được nhiều
loại cây trồng như cây lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp và cây ăn quả.
*Tài nguyên nhân văn
Trên địa bàn xã có 17.659 nhân khẩu với 4.335 hộ cùng sinh sống . Lao động
đã qua đào tạo là 2.499 người, chiếm khoảng 25,0%. Với lịch sử văn hiến giàu
truyền thống cách mạng, người dân xã Cao Viên luôn phát huy tính cần cù sáng
tạo , ý chí tự lực tự cường, khắc phục khó khan, kế thừa phát huy những kinh
nghiệm, thành quả đạt được trong lao động sản xuất. Xã có nền văn hóa khá đa
dạng và phong phú, có nhiều nét độc đáo.
Năm 2011, tổng giá trị sản xuất ước đạt 219.851 triệu đồng tăng 13,60% so
với phương hướng đề ra. Cơ cấu kinh tế của xã như sau:
+ Nông nghiệp 41.911 triệu đồng chiếm tỷ trọng 19,10%
+ Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng 97.834 triệu đồng chiếm tỷ
trọng 44,50%
+ Thương mại và dịch vụ 80.026 triệu đồng chiếm tỷ trọng 36,40%
16
Hiện tại, thu nhập bình quân đầu người của người dân trong xã ước đạt 12,46
triệu đồng/người/năm, bằng 1,2 lần bình quân khu vực nông thôn của huyện Thanh
Oai ( 10,27 triệu đồng/người/năm ).
b. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
Những năm qua nhờ có sự lãnh đạo đúng hướng của Đảng ủy, UBND xã và
sự quan tâm chỉ đạo của UBND huyện Thanh Oai, nền kinh tế của xã đã có những
bước phát triển đáng kể, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện.
- Hiện nay ngành nông nghiệp vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong cơ cấu kinh tế
của xã, do đó luôn được chú ý quan tâm đầu tư đúng mức, kết hợp với trình
độ thâm canh được nâng lên, ngành chăn nuôi khá phát triển. Do đó bước
đầu đã đem lại hiệu quả kinh tế cho ngành và tăng thu nhập cho các hộ gia
đình.
- Lĩnh vực ngành nghề dịch vụ cũng từng bước phát triển theo hướng đa
dạng và nâng dần quy mô, số lao động chuyển dịch từ nông nghiệp sang dịch
vụ, thương mại phát triển tập trung ở khu vực chợ và trung tâm xã, chủ yếu
là buôn bán nhỏ lẻ nhằm phục vụ nhu cầu tại chỗ của nhân dân.
* Khu vực kinh tế nông nghiệp
Nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chính của địa phương giúp đảm bảo đời
sống cho nhân dân.Trong những năm qua sản xuất nông nghiệp phát triển
toàn diện cả về trồng trọt, chăn nuôi.
trường tiêu thụ và nhu cầu về sản phẩm từ chăn nuôi ngày càng lớn, do đó giá cả
cũng tăng cao, tạo tâm lý tốt cho bà con yên tâm sản xuất, sản phẩm từ chăn nuôi
được tiêu thụ kịp thời, bà con đã chủ động lựa chọn được loại vật nuôi và hình thức
chăn nuôi phù hợp.
Toàn xã năm 2011 có 360 con trâu, bò. Đàn lợn tăng trưởng nhanh, năm 2011 có
14.000 con, trong đó 98% là lợn hướng nạc. Diện tích nuôi trồng thủy sản 70 ha,
sản lượng ước đạt 140 tấn. Đàn gia cầm phát triển mạnh, số lượng gia cầm năm
2011 trên địa bàn xã là 66.000 con, trong đó nhiều giống gà, vịt , ngan đực người
dân tuyển chọn từ các trại giống tốt hàng năm cung cấp hàng chục tấn thịt, trứng
làm sản phẩm, mang lại thu nhập khá cao cho người dân.
18
Trong quá trình sản xuất, người dân đã chủ động học hỏi và nắm bắt được
kỹ thuật chăn nuôi , chủ động kiểm soát tình hình dịch bệnh, tổ chức tốt công tác
thú y nên sản phẩm chăn nuôi đảm bảo an toàn sinh học. Đây là một trong những
điểm mạnh trong ngành chăn nuôi của xã.Tuy nhiên đến nay 100% vẫn là chăn nuôi
trong khu dân cư, có gia đình nuôi từ 200-300 con lợn thịt tại gia đình. Mặc dù có
85% số hộ gia đình chăn nuôi ở đây đã xây dựng chuồng trại hợp lý, làm hầm
bioga, nuôi lợn theo mô hình bán công xong đây vẫn chỉ là cách khắc phục tạm
thời.
*Khu vực kinh tế tiểu thủ công nghiệp và xây dựng
TTCN – XD phát triển khá trong 5 năm qua.Số cơ cấu sản xuất TTCN năm 2011 là
167 cơ sở. Số lao động phục vụ cho cơ sở sản xuất TTCN năm 2011 là 5.710 người.
Một số ngành nghề chủ yếu như: sản xuất may mặc quần áo, xay sát, chế biến lương
thực, xây dựng… Tuy nhiên xã không có điểm sản xuất hàng hóa lớn, điểm sản xuất
hàng hóa để xuất khẩu, không hình thành được các làng nghề… và hiện mới chỉ có
4 doanh nghiệp tư nhân.
Xây dựng cơ bản trong nông thôn trên địa bàn xã có nhiều khởi sắc hơn, các
4,335 hộ, bình quân 4,07 người/hộ.
+ Thành phần dân tộc: 99,9% dân tộc Kinh còn lại là các dân tộc khác.
+ Mật độ dân số: 2,456 người/km2 và được phân bố ở 6 điểm dân cư
Bảng 2.1. Hiện trạng dân cư xã Cao Viên
STT
Tên thôn
Số người
1
2
3
4
5
6
Đồng
Vỹ
Trung
Đàn Viên
Phù Lạc
Bãi
Tổng
3.475
1.998
2.837
3.916
772
3,77
4,30
4,07
- Lao động, việc làm
Theo thống kê, đến năm 2011 trên địa bàn xã có 9,965 người tham gia vào
các hoạt động kinh tế chiếm 61,76% so với tồn dân số. Trong đó lao động nam là
4,882 lao động ( chiếm 49%), lao động nữ là 5,083% lao động (chiếm tỷ lệ 51%).
Cụ thể như sau:
+ Lao động trong lĩnh vực nông nghiệp 2.501 người chiếm tỷ lệ 25,10%
+ Lao động trong lĩnh vực TTCN - XD là 3.710 người chiếm tỷ lệ 37,23%
+ Lao động trong lĩnh vực thương nghiệp , vận tải, dịch vụ khác là 3.443
người chiếm tỷ lệ 34,55%
+ Không tham gia hoạt động kinh tế là 311 người chiếm tỷ lệ 3,12%
Có thể nói nguồn nhân lực khá dồi dào, song chất lượng nguồn nhân lực
chưa cao. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đến năm 2011 là 2,499 người, chiếm
25,08%, còn thấp so với tiêu chí nông thôn mới (
* Thuỷ lợi
Hệ thống thủy lợi của xã cơ bản đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu phục vụ sản
xuất và sinh hoạt của nhân dân.
22
Trong những năm qua được sự quan tâm chỉ đạo của UBND xã và HTX, các
tuyến kênh tưới tiêu chính đã được nạo vét, khơi thông dòng chảy đảm bảo cho sản
xuất.Công tác nạo vét kênh mương và phòng chống lụt bão được triển khai sâu rộng
từ xã đến các thôn, đảm bảo cho sản xuất và tài sản của nhân dân.
-Trạm bơm: xã có 4 trạm bơm trong đó 1 trạm do công ty thủy lợi sông Đáy
quản lý bao gồm 3 máy bơm, 1 máy công suất 1.000m3/giờ, 2 máy công suất
540m3/giờ. Xã quản lý 2 trạm bơm mỗi trạm có 1 máy công suất 540m3/giờ, ngoài
ra còn có 2 máy bơm dầu ( máy bơm dã chiến ). Ngoài ra trạm bơm cao bộ mới xây
dựng xong.
-Cống: có 117 cống nội đồng, hầu hết đã xuống cấp cần phải nâng cấp.
-Hệ thống kênh mương: có tổng chiều dài 24,85km kênh mương nội đồng,
trong đó đã cứng hóa được 7,23km đạt tỷ lệ 29,09% chưa đạt so với tiêu chí nông
thôn mới
* Y tế
Trạm y tế xã đặt tại trung tâm xã, gần đường giao thông, đã đạt chuẩn quốc gia
năm 2007, diện tích đất là 1.460m2, diện tích xây dựng là 700m2, đã có vườn thuốc
nam diện tích 100m2.
Tổng thể công trình gồm 24 phòng chức năng, xung quanh có tường xây bảo vệ,
có cổng và biển hiệu tên trạm.
-
Đội ngũ cán bộ:
thôn Vỹ, thôn Trung, thôn Phù Lạc.
Các di tích lịch sử, văn hóa từng bước được trùng tu, tôn tạo. Trên địa bàn xã
có 01 di tích được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia là Đền Vỹ, thờ vị tướng
Vũ Chiếu Tông, và 05 di tích được công nhận là di tích lịch sử cấp Tỉnh.
* Quốc phòng, an ninh
- Quốc phòng:
Luôn quán triệt và giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ Đảng viên, lực
lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên và nhân dân cảnh giác với âm mưu diễn biến
hòa bình của các thế lực thù địch, sẵn sang hoàn thành nhiệm vụ được giao đối với
lực lượng dân quân tự vệ.
24
Duy trì tốt phương án phòng chống cháy nổ, phương án tác chiến trị an, tuần
tra, phương án phòng chống bão lũ trên địa bàn.
Quán triệt và thực hiện triệt để các chỉ thị, mệnh lệnh về nhiệm vụ sẵn sàng
chiến đấu của các cấp, duy trì chặt chẽ chế độ trực sẵn sàng chiến đấu. Hàng năm tổ
chức tốt công tác tuyển quân và huấn luyện dân quân tự vệ.
Công tác giáo dục quốc phòng toàn dân được đẩy mạnh, xây dựng vững chắc
nền quốc phòng toàn dân.Hàng năm tổ chức tốt công tác tuyển quân và huấn luyện
dân quân tự vệ.
- An ninh: Tình hình An ninh, trật tự an toàn trên xã hội được giữ vững và ổn
định, nhân dân tin tưởng vào đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước,
yên tâm lao động sản xuất, các tệ nạn xã hội từng bước được đẩy lùi, kỷ cương pháp
luật, trật tự xã hội được duy trì. Ban công an xã đã có nhiều cố gắng, chủ động tấn công
các loại tội phạm, các tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc, mại dâm, trộm cắp tài sản của
công dân cơ bản giảm. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc được khơi dậy và
phát động mạnh mẽ; công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật được tăng
cường, phát hiện, xử lý kịp thời các vụ việc xảy ra tại địa phương. Tuy nhiên, tình trạng