Người kể chuyện trong tiểu thuyết việt nam có yếu tố hậu hiện đại - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_______________________

ĐÀO CƢ PHÚ

NGƢỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
CÓ YẾU TỐ HẬU HIỆN ĐẠI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Hà Nội – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_______________________

ĐÀO CƢ PHÚ

NGƢỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
CÓ YẾU TỐ HẬU HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số:

62 22 01 20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS. TS. PHẠM QUANG LONG

cảm ơn đến PGS.TS Đoàn Đức Phương - người thầy hướng dẫn cho em từ khóa luận
tốt nghiệp đại học đến luận văn thạc sĩ và có nhiều giúp đỡ tận tình cho em trong suốt
quá trình học tập NCS.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp – những người
đã tạo điều kiện giúp đỡ và sẻ chia với tôi suốt những năm nghiên cứu và hoàn thành
luận án. Cảm ơn vì đã cho tôi điểm tựa và động lực về mặt tinh thần để tôi đi đến đích
con đường hôm nay.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 3 tháng 3 năm 2017
Nghiên cứu sinh


BẢNG HỆ THỐNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT

NKC

: Người kể chuyện

TTHHĐ : Tiểu thuyết hậu hiện đại
VHHHĐ : Văn học hậu hiện đại
TTVN

: Tiểu thuyết Việt Nam

VHVN

: Văn học Việt Nam

HHĐ


2.2 Quan điểm của người kể chuyện ........................................................... 42


2.2.1 Quan điểm khách quan của người kể chuyện ................................. 42
2.2.1.1 Người kể chuyện gọi tên nhân vật một cách ngẫu nhiên.......... 42
2.2.1.3 Người kể chuyện “đóng cũi sắt” cảm xúc ................................ 45
2.2.1.4 Người kể chuyện “nhìn thẳng vào sự thật”............................... 48
2.2.2 Quan điểm chủ quan của người kể chuyện ..................................... 51
2.2.2.1 Chú thích, bình luận trữ tình ngoại đề của người kể chuyện.... 51
2.2.2.2 Người kể chuyện “đội lốt” nhân vật ......................................... 55
2.2.2.3 Người kể chuyện như một nhân chứng..................................... 59
2.3 Phương thức kể chuyện ......................................................................... 61
2.3.1 Lối kể đa trị, khuếch tán .................................................................. 62
2.3.2 Lối kể chuyện phân mảnh – đứt gẫy................................................ 69
2.3.3 Lối kể chuyện song trùng đồng hiện ............................................... 77
Tiểu kết ........................................................................................................... 81
CHƢƠNG 3. NGÔI KỂ VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT ...................... 83
3.1 Ngôi kể của NKC................................................................................... 83
3.1.1 Khái lược về ngôi kể của NKC ........................................................ 83
3.1.2 Ngôi kể cố định ................................................................................ 84
3.1.3 Ngôi kể luân phiên liên tục - trần thuật lập thể phi trung tâm ....... 88
3.1.3.1 Ngôi kể luân phiên linh hoạt giữa cố định và vô định.............. 88
3.1.3.2 Ngôi kể luân phiên linh hoạt giữa ngôi kể thứ nhất và ngôi kể
thứ ba..................................................................................................... 91
3.2 Điểm nhìn trần thuật .............................................................................. 94
3.2.1Khái lược điểm nhìn trần thuật ........................................................ 94
3.2.3 NKC với điểm nhìn bên ngoài – phương thức trần thuật có tính chất
ngoại quan .............................................................................................. 100
3.2.4 NKC với điểm nhìn đằng trước – phương thức trần thuật lát cắt101
3.2.5 Sự di chuyển các điểm nhìn trần thuật – luân phiên phi quy tắc .. 105



MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
Trong những năm gần đây, “Tự sự học” 1 đã trở thành lĩnh vực thu hút sự chú ý
của giới nghiên cứu Việt Nam. Nhiều công trình nghiên cứu đã dành sự quan tâm
đặc biệt đến lí thuyết tự sự và những ứng dụng của nó trong việc khám phá cấu trúc
văn bản truyện kể, đặc biệt là trong thể loại tiểu thuyết và nhận được sự quan tâm
nhiều nhất hiện nay là tiểu thuyết đương đại 2.
Trong lĩnh vực tiểu thuyết, sự đổi mới tư duy nghệ thuật đã tạo tiền đề cho
những cách tân thể loại. Vai trò của tự sự học rất quan trọng trong nghiên cứu văn
học, đúng như lời nhận định của nhà nghiên cứu Trần Đình Sử: “Người ta càng
ngày càng nhận ra rằng nếu thiếu kiến thức cơ bản về tự sự học thì các phán đoán
trong các ngành nghiên cứu trên (bao gồm nghiên cứu điện ảnh, giao tiếp, phương
tiện truyền thông, nghiên cứu văn hóa, văn học – ĐCP) rất dễ phạm những sai lầm
sơ đẳng và các kết luận có thể chỉ là những lâu đài xây trên cát. Chẳng hạn rất phổ
biến nhầm lẫn về tác giả và người trần thuật hay nhân vật người kể chuyện (NKC)
xưng “tôi”, nhân vật hành động, nói năng… Và do vậy đã nảy sinh những nhận định
về chủ nghĩa tự nhiên, về sự tàn nhẫn, thiếu cái tâm ở nhà văn này, nhà văn nọ khi
họ sử dụng một cách trần thuật nào đó...” [205;11]. Qua nhận xét của Trần Đình Sử,
có thể thấy việc đánh giá đúng vai trò của nghệ thuật trần thuật sẽ góp phần nhận
thức đúng giá trị của các tác phẩm văn học. Tầm quan trọng của tự sự học có thể
được coi như một bộ phận không thể thiếu của hành trang nghiên cứu văn học hôm
nay, thật đúng với nhận định của nhà nghiên cứu Thomas Kuhn: “Đó là một bộ
phận cấu thành của hệ hình (paradigme) lí luận hiện đại” [205;11]. Vì vậy, nghiên
cứu về Người kể chuyện trong tiểu thuyết Việt Nam có yếu tố hậu hiện đại là một
vấn đề rất cần thiết, bởi sự đổi mới nghệ thuật trần thuật góp phần đổi mới nền văn
học nước nhà nói chung và tiểu thuyết đương đại nói riêng, đồng thời còn giúp cho

1

đại (VHHHĐ) thế giới. Do vậy, nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi mong muốn
đào sâu thêm các lý thuyết về NKC, qua đó giúp người đọc hiểu sâu hơn văn học
đương đại Việt Nam, góp một phần nhất định trong việc hệ thống hóa kiến thức
giảng dạy văn học đương đại Việt Nam trong nhà trường.
Có thể nói đây là những lí do cơ bản khiến chúng tôi lựa chọn đề tài Người kể
chuyện trong tiểu thuyết Việt Nam có yếu tố hậu hiện đại. (Cũng cần nói thêm, do ở
Việt Nam vẫn chưa có sự thống nhất trong nhận định có trào lưu VHHHĐ) hay
chưa nên chúng tôi dùng một tên gọi mang tính ước lệ về các tiểu thuyết của các
nhà văn này là “mang (có) yếu tố HHĐ”, có thể trong thực tế chúng đã thực sự là

2


những tiểu thuyết HHĐ rồi). Luận án đi sâu vào vấn đề NKC nhằm khẳng định sự
vận động và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam có yếu tố HHĐ là cần thiết. Tiếp
cận văn học từ hướng đi này sẽ đem lại một cách nhìn đa chiều về diện mạo tiểu
thuyết Việt Nam có yếu tố HHĐ.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án vận dụng lý thuyết HHĐ, cụ thể là lí thuyết về NKC trong TTHHĐ để
thấy được những đặc sắc về vấn đề NKC trong TTVN có yếu tố HHĐ. Đối tượng
nghiên cứu chính của luận án là NKC trong tiểu thuyết có yếu tố HHĐ của các nhà
văn Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Thuận và tiểu thuyết tiêu
biểu nhất của Đặng Thân (3.3.3.9 [Những mảnh hồn trần])… Cũng cần nói thêm,
trong nền văn học đương đại Việt nam hiện nay, ngoài các tác giả nêu trên thì có thể
kể đến hàng loạt nhà văn khác cũng ít nhiều mang yếu tố HHĐ như Trần Nhã Thụy,
Inrasara, Nguyễn Ngọc Tư hay Vũ Đình Giang… Tuy nhiên, một mặt do giới hạn
của đề tài, mặt khác là do những đặc trưng tiêu biểu, những cách tân nổi bật về
phương diện NKC trong tiểu thuyết của các tác giả này khá bao quát và đầy đủ nên
chúng tôi chỉ giới hạn 5 tác giả cụ thể, còn các nhà văn vừa nhắc đến ở trên, chúng

chuyện…). Đi sâu vào bản chất nghệ thuật trần thuật, luận án chủ yếu quan tâm đến
vấn đề NKC, làm rõ diện mạo và vai trò của NKC ở những khía cạnh như: Cảm
thức HHĐ của NKC và một vài kĩ thuật viết HHĐ liên quan đến NKC (bao gồm:
phương thức kể, ngôi kể, điểm nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu…) trong TTVN có yếu
tố HHĐ, ở các tác giả Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Thuận
và Đặng Thân… Nghiên cứu vấn đề NKC trong TTVN có yếu tố HHĐ vừa để thấy
được sự vận động nội tại theo hướng cách tân mới mẻ của mỗi nhà văn; đồng thời
làm nổi bật những đặc sắc nghệ thuật về phương diện NKC cũng như làm sáng rõ
những đóng góp về kĩ thuật NKC của các nhà văn này đối với nền tiểu thuyết đương
đại Việt Nam, góp phần khẳng định TTVN có yếu tố HHĐ cũng đang phát triển,
từng bước hòa nhập và rút ngắn khoảng cách với nền TTHHĐ thế giới. Bên cạnh
những thành tựu, chúng tôi còn chỉ ra cả những nhược điểm, hạn chế về các phương
diện NKC để từ đó có một cái nhìn toàn diện hơn về TTVN có yếu tố HHĐ.

4


3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ của luận án là chỉ ra những nét đặc sắc, cách tân về phương diện
NKC trong TTVN có yếu tố HHĐ, trong đó mỗi chương lại có những nhiệm vụ
riêng, phục vụ cho nhiệm vụ chung. Chương 1 có nhiệm vụ nghiên cứu tổng quan lý
thuyết về NKC, về VHHHĐ và TTVN có yếu tố HHĐ… để tạo tiền đề lý thuyết
cho các chương sau. Ở chương 2, nhiệm vụ của luận án là làm sáng rõ ba vấn đề
mang tính bao quát, đó là cảm thức, quan điểm và các phương thức kể của NKC
trong tác phẩm có yếu tố HHĐ. Nhiệm vụ của chương 3 và 4 là chỉ rõ những đặc
điểm nổi bật về ngôi kể, điểm nhìn, ngôn ngữ và giọng điệu của một số TTVN có
yếu tố HHĐ. Tất cả những điều này phục vụ cho nhiệm vụ cao nhất của luận án, đó
là chỉ ra được những đặc điểm mang đậm yếu tố HHĐ của tiểu thuyết đương đại
Việt Nam, góp thêm cơ sở lý thuyết để “tô đậm” quan điểm rằng có một khuynh
hướng mang tên Tiểu thuyết Việt Nam hậu hiện đại.

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Đây là phương pháp bao gồm hai yếu tố phân
tích và tổng hợp, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành sự thống
nhất không thể tách rời: phân tích được tiến hành theo phương hướng tổng hợp, còn
tổng hợp được thực hiện dựa trên kết quả của phân tích. Vì thế, đây là phương pháp
mang tính bao quát nhất, là sự tổng hòa của các phương pháp nêu trên. Phương
pháp phân tích tổng hợp giúp đưa ra những luận điểm, luận cứ rõ ràng, những lập
luận, lí lẽ sát đáng để khẳng định vấn đề một cách thuyết phục nhất. Tất cả nhằm
phân tích, so sánh, đối chiếu để chỉ rõ những đặc sắc của NKC mang yếu tố HHĐ
cũng như thi pháp tự sự HHĐ trong văn xuôi nói chung và trong thể loại tiểu thuyết
sau Đổi mới nói riêng.
Nhìn chung, trong số các phương pháp này, luận án sử dụng các phương pháp
cấu trúc, phương pháp phân tích so sánh và phương pháp phân tích tổng hợp là
chính, các phương pháp còn lại mang tính chất hỗ trợ giúp chúng tôi nghiên cứu
được tốt nhất vấn đề NKC trong TTVN có yếu tố HHĐ.
5. Những đóng góp mới của luận án
Với đề tài NKC trong TTVN có yếu tố HHĐ, luận án có những đóng góp cụ thể sau:
Thứ nhất, luận án góp phần khẳng định tầm quan trọng của việc ứng dụng lí
thuyết tự sự học vào việc tìm hiểu các hiện tượng TTVN có yếu tố HHĐ.
Thứ hai, luận án cung cấp một cái nhìn hệ thống về NKC, một yếu tố quan trọng

6


của tự sự học. Đây cũng là đóng góp cơ bản của luận án trong việc hệ thống các lí
thuyết về NKC và khám phá vai trò của NKC trong TTVN có yếu tố HHĐ.
Cuối cùng, luận án khẳng định vai trò của cá tính sáng tạo trong việc cách tân
tiểu thuyết trên bình diện nghệ thuật trần thuật, qua đó nhận diện những thành tựu
đa dạng của VHVN có yếu tố HHĐ nói chung.
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục,

thấy, người trần thuật và NKC có điểm chung đều là chủ thể lời nói và là người đại
diện điểm nhìn trong tác phẩm văn học. Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa hai khái
niệm này ở chỗ, người trần thuật được khách quan hóa và được tách biệt rõ rệt với
tác giả cả về mặt không gian lẫn bình diện tu từ, mà nó được gắn với một hoàn cảnh
văn hóa – xã hội và ngôn ngữ cụ thể để từ đó mô tả về các nhân vật khác, còn NKC
không đứng ở đường biên giữa thế giới hư cấu với thực tại của tác giả và độc giả mà
hoàn toàn đứng bên trong hiện thực được mô tả. Nói một cách ngắn gọn, người trần
thuật gần với quan điểm của tác giả (thường là NKC hàm ẩn), còn NKC là nhân vật
hư cấu. Nhưng, ở trong thực tiễn, có khi ranh giới giữa chúng rất nhòa và chúng tôi,
khi khảo sát cũng không tránh được sự lệ thuộc vào văn bản mình khảo sát.

8


Trong Từ điển văn học (Bộ mới) có định nghĩa khá đầy đủ và cụ thể về khái
niệm NKC, trong đó đặc biệt nhấn mạnh về mối quan hệ giữa cái tôi của tác giả, cái
tôi của NKC và cái tôi của nhân vật: “Do nhu cầu khách quan nên sắc thái chủ quan
của tác giả được ngụy trang bằng nhiều cách khác nhau: tránh trực tiếp nhận xét,
bình luận, đẩy “cái tôi” bình luận ra xa tác giả bằng cách “nhân vật hóa” nó (NKC –
ĐCP), đưa nó tham gia sâu vào cốt truyện. Đặc biệt, cùng với việc lồng cái nhìn của
nhà văn vào cái nhìn của từng nhân vật, lối trao đổi tường thuật qua tay nhiều nhân
vật khác nhau tạo nên mối quan hệ phức tạp giữa cái tôi của tác giả, cái tôi của
người kể và cái tôi của nhân vật [15;1240]. Mục đích của việc lồng ghép này là tạo
nên “tính phức điệu” cho tác phẩm.
Như vậy, có thể thấy NKC là do tác giả sáng tạo ra nhưng không hoàn toàn
đồng nhất với tác giả. Thông qua NKC mà độc giả có thể nắm bắt được diễn biến
của truyện. Nói cách khác, người đọc đón nhận câu chuyện từ NKC chứ không phải
là từ tác giả, bởi khi đã vào truyện, tác giả dường như đứng ngoài lề “buông rèm
nhiếp chính”, còn NKC dù ở ngôi kể và điểm nhìn như thế nào mới chính là người
“xông pha vào trận mạc”, trực tiếp tham gia vào diễn biến của truyện.

Tuy nhiên, có NKC chỉ dừng lại ở một ngôi kể và hạn định điểm nhìn, nhưng
cũng có NKC luân phiên các ngôi kể khác nhau. Việc thay đổi ngôi kể ắt sẽ dẫn đến
sự di chuyển của các điểm nhìn. Xét về điểm nhìn của NKC có ba kiểu dạng phổ
biến sau:
Điểm nhìn bên trong: Đây là điểm nhìn xuất phát từ bên trong của nhân vật, thấu
hiểu được cả tâm tư, nguyện vọng và chiều sâu suy nghĩ phức tạp của nhân vật.
Điểm nhìn bên ngoài: Là điểm nhìn mà NKC đứng ngoài câu chuyện, đóng vai
trò là một nhân chứng “biết gì kể nấy”, không có một chút đánh giá hay bình luận
nào, đặc biệt không nắm bắt được những gì đang diễn ra bên trong nội tâm của nhân
vật.
Điểm nhìn phía sau: Là điểm nhìn của NKC toàn năng, tức là NKC đứng cao
hơn nhân vật, hiểu một cách tường tận câu chuyện, nắm bắt được cả tâm lí bên
trong lẫn đặc tính bên ngoài của nhân vật. Đồng thời, với điểm nhìn này, NKC luôn
là người nắm bắt và dẫn dắt toàn bộ diễn biến câu chuyện (trong VHHHĐ rất hạn
chế sử dụng điểm nhìn này).
Trong VHHHĐ, chúng tôi nhận thấy còn có một kiểu điểm nhìn nữa của NKC,

10


đó là điểm nhìn phía trước. Với kiểu điểm nhìn này, NKC chỉ biết được hiện tại của
nhân vật mà không nắm bắt được quá khứ hoặc tương lai của nhân vật. Các nhân
vật (cả chính lẫn phụ) thoảng đến thoảng đi như một cơn gió, luôn xuất hiện bí ẩn
trước độc giả, phần “chìm” của nhân vật luôn là dấu hỏi đối với độc giả. TTVN có
yếu tố HHĐ có nhiều nhân vật bất chợt xuất hiện, rồi cũng bất chợt biến mất, NKC
không biết hoặc không kể gì thêm về quá khứ cũng như là tương lai của nhân vật
đó. Điểm nhìn này là hệ quả tất yếu từ quan niệm của VHHHĐ, đó là phản ánh xã
hội ở thì đang diễn ra nên chưa có điểm hoàn kết.
Như vậy, giống như những ngôi kể, các điểm nhìn cũng được di chuyển luân
phiên liên tục. Rất ít tác phẩm chỉ dừng lại ở một điểm nhìn - nhất là trong

ta kể ra” [198;189]. Vai trò quan trọng của NKC là điều mà không ai phủ nhận. Tuy
nhiên, vấn đề NKC không cố định qua các giai đoạn tiểu thuyết mà luôn có sự
chuyển biến, vận động qua từng thời kì. Nói cách khác, quan niệm về NKC trong
tiểu thuyết luôn vận động như một cơ thể sống, qua từng giai đoạn sinh trưởng của
tiểu thuyết, “diện mạo” của NKC cũng “thay da đổi thịt” từng ngày.
Chẳng hạn như trong văn học truyền thống cổ trung đại, vai trò của NKC trong
các tác phẩm tự sự nói chung luôn giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, nó là người
phát ngôn nhân danh tác giả, độc giả có thể nhìn thấy những nét tương đồng trùng
khít giữa hình tượng NKC và tác giả, “NKC hầu như hòa với tác giả và nhân vật trữ
tình, khó có thể có một khoảng cách nào” [199;122]. Vì NKC giữ vai trò như vị
“nhạc trưởng” điều phối dàn giao hưởng (bao gồm việc điều phối cốt truyện, kết
cấu, chỉ đạo sắp xếp các sự kiện, biến cố, giới thuyết và miêu tả nhân vật từ dáng vẻ
bên ngoài đến nội tâm bên trong, bình phẩm những ý kiến chủ quan…) nên văn học
cổ trung đại thường chọn NKC kể ở ngôi thứ ba với điểm nhìn toàn tri, biết tuốt mọi
việc. Những tác phẩm tự sự tiêu biểu của văn học cổ, trung đại như Thượng kinh kí
sự (Lê Hữu Trác), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ)… là những minh chứng rõ nét
cho thấy vai trò quan trọng mang tính “sống còn” của NKC đối với các tác phẩm tự
sự, cùng với đó là sự xuất hiện dập khuôn, đơn điệu, một màu của hình tượng NKC.
Từ đầu thế kỉ XX cho đến trước cách mạng tháng Tám, nền tiểu thuyết Việt
Nam bắt đầu có dấu hiệu manh nha với sự xuất hiện của tiểu thuyết Tố Tâm (Hoàng
Ngọc Phách), sau đó là hàng loạt tiểu thuyết của các nhà văn nhóm Tự lực văn đoàn
như Hồn bướm mơ tiên, Đời mưa gió, Nửa chừng xuân, Gánh hàng hoa, Trống mái,

12


Gia đình, Tiêu sơn tráng sĩ, Thoát ly, Băn khoăn… (Khái Hưng) 3; hay các tiểu
thuyết của Nhất Linh như Nắng thu, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Đôi bạn, Bướm trắng,
Xóm cầu mới…, quan niệm về NKC có đôi chút vận động, đổi thay nhưng về căn
bản vẫn kế thừa hình mẫu NKC của văn học trung đại. Hình tượng NKC với điểm


đó có phương diện NKC. Lúc này, NKC dần rút lui vào hậu trường, “buông rèm
nhiếp chính”, nhưng càng “giảm bớt quyền lực” bao nhiêu thì hình tượng NKC lại
càng trở nên biến ảo, khó lường bấy nhiêu. Nhiều nhà TTHHĐ sử dụng đa dạng
NKC ở cả ngôi kể, giọng điệu, điểm nhìn vô cùng linh động, có thể chọn hai
phương thức trần thuật từ ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba. Mỗi ngôi kể này có một lợi
thế khác nhau và chúng có khả năng để ngỏ cho sự sáng tạo phong phú của nhà văn.
Việc lựa chọn ngôi kể khác nhau sẽ có những tác dụng không giống nhau, ngôi kể
làm thay đổi điều được kể trong tiểu thuyết. Với lợi thế này, các nhà TTHHĐ
thường tận dụng tối đa sự luân phiên điểm nhìn trong cùng một tác phẩm để tạo cho
cái thế giới được viết ra đa thanh và phức hợp.
Nói một cách cụ thể hơn, qua mỗi giai đoạn, trào lưu văn học, hình tượng NKC
lại có những vị trí và vai trò khác nhau. Nếu trước đây, theo thuật ngữ thông dụng
thì NKC lộ diện là NKC kể theo “ngôi thứ nhất”, còn NKC ẩn tàng là NKC kể theo
“ngôi thứ ba”. Tuy nhiên ngày nay, hai thuật ngữ này không có ý nghĩa chặt chẽ.
Bởi vì bất cứ người kể nào và bất cứ ai nói về mình đều xưng ở ngôi thứ nhất, mà
không dùng ngôi ba, còn cái gọi là kể ở ngôi thứ ba chỉ có nghĩa là không nói đến
mình mà thôi”4. Điều đó cho thấy rõ nét quan niệm về NKC trong từng giai đoạn
tiểu thuyết không chỉ vận động, biến đổi từng ngày mà còn thay đổi từng khái niệm
nội hàm về nó.
1.1.3 Người kể chuyện trong tiểu thuyết hậu hiện đại
Đối với TTHHĐ, hình tượng NKC biến hóa khôn lường và không được phân
định một cách rạch ròi. Thông thường chúng ta thấy rằng, bất cứ nhà văn nào cũng
phải chọn một trong hai cách chủ yếu: kể ở ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba. Tuy
nhiên, trong TTHHĐ, các ngôi kể này trở nên “nhòe mờ” về ranh giới, tức là không
có ranh giới rạch ròi giữa NKC hàm ẩn theo điểm nhìn của chính mình hay hàm ẩn
để kể theo điểm nhìn của nhân vật…, mọi thứ đều được hòa trộn tạo nên sự “đa sắc”
NKC trong TTHHĐ. Đây cũng được coi là một bình diện đổi mới của TTHHĐ rất
đáng ghi nhận.
4

các nhà tiểu thuyết thường sử dụng những ngôi kể chủ đạo như: ngôi kể cố định,
ngôi kể biến chuyển linh hoạt (biến chuyển giữa ngôi một và ngôi ba hoặc ngược
lại). Về điểm nhìn trần thuật, các nhà tiểu thuyết không chỉ sử dụng các điểm nhìn
quen thuộc như: điểm nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài hay điểm nhìn phía sau,
biết tuốt nữa mà còn sử dụng điểm nhìn trần thuật phía trước, gấp bội điểm nhìn và

15


đặc biệt là có sự di chuyển luân phiên (sự di chuyển các điểm nhìn trần thuật).
Về phương thức kể cũng như ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật, các nhà tiểu
thuyết có nhiều cách tân mới mẻ so với tiểu thuyết hiện đại. Khảo sát qua các tác
giả này, chúng tôi thấy nổi bật với các phương thức kể như: lối kể đa trị, khuếch tán
nhằm làm nổi rõ hiện thực phân rã, phi trật tự, phi trung tâm; lối kể chuyện phân
khúc, mảnh gẫy và lối kể song trùng đồng hiện. Ngôn ngữ NKC cũng rất linh hoạt,
đó là đa dạng các lớp diễn ngôn, nhòe mờ ngôn ngữ đối thoại và độc thoại, giữa trực
tiếp và gián tiếp, sử dụng nhiều ngôn ngữ đa thanh, phức điệu…
Trong tiểu thuyết có yếu tố HHĐ, giọng điệu NKC cũng được sử dụng một cách
linh hoạt, góp phần thể hiện sự đa dạng những gam màu cuộc sống phức tạp của xã
hội đương thời, đó là: giọng điệu triết lí, suy tư thể hiện những trăn trở trước cuộc
sống thiên biến vạn hóa muôn màu; giọng điệu giễu nhại phê phán và bóc trần
những mặt trái của xã hội; giọng điệu dung tục, đời thường – một thứ giọng điệu
xuất hiện nhan nhản trong hầu hết các tiểu thuyết này, phù hợp với tầng lớp, nhận
thức và trình độ văn hóa của nhân vật; bên cạnh giọng điệu dung tục, đời thường là
giọng điệu vô âm sắc – đây là giọng điệu chỉ cung cấp sự thật trần trụi, khô khốc mà
không có ngữ điệu hoặc mang ngữ điệu ước lệ, nhà văn cố tình bẻ gãy câu văn để
kìm nén âm giọng5.
1.1.4 Tình hình nghiên cứu văn học hậu hiện đại ở Việt Nam
1.1.4.1 Tình hình nghiên cứu lí thuyết văn học hậu hiện đại ở Việt Nam
Sau Đại hội Đảng VI năm 1986, văn học Việt Nam như được “cởi trói”, bắt

Người tiếp theo có những công trình nghiên cứu lí thuyết VHHHĐ ở Việt
Nam là Phương Lựu, từ những bài viết có quy mô nhỏ như Tìm hiểu chủ nghĩa hậu
hiện đại (Tạp chí Nhà văn, số 8/2000) đến những công trình chuyên luận chuyên
sâu như Lí thuyết VHHHĐ (2011), Phương Lựu đã đưa ra những cơ sở lý thuyết và
thực tiễn để khẳng định có một nền VHHHĐ ở Việt Nam.
Trái ngược với quan điểm của Phương Lựu, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn
Dân cũng có không ít công trình nghiên cứu về VHHHĐ, tiêu biểu là bài nghiên
cứu Chủ nghĩa hậu hiện đại hay là sự chồng chéo khái niệm (2002), bằng những
dẫn chứng cụ thể, ông khẳng định ở Việt Nam chỉ có những tác phẩm na ná HHĐ
chứ chưa thực sự có tác phẩm nào đúng với tên gọi VHHHĐ. Ở một mức độ cao
hơn, ông còn không thừa nhận cái gọi là “VHHHĐ”. Kết luận bài viết này, ông
khẳng định: “Riêng tôi, tôi cho rằng chỉ nên dùng khái niệm “hậu hiện đại” cho kiến
trúc và hội họa, còn trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là trong văn học thì không nên

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status