Tư tưởng hồ chí minh về độc lập dân tộc và ý nghĩa đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế ở việt nam hiện nay - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------------------------------------

TRƢƠNG VĂN VIÊN

TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ Ý NGHĨA
ĐỐI VỚI VIỆC GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘC LẬP, TỰ
CHỦ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------------------------------------

TRƢƠNG VĂN VIÊN

TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ Ý NGHĨA
ĐỐI VỚI VIỆC GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘC LẬP, TỰ
CHỦ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60.22.03.01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Lƣơng Thùy Liên


1.1.2. 3. Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về vấn đề dân tộc – Nền tảng
cho sự hình thànhtư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc.......................... 22
1.1.3. Hoạt động thực tiễn phong phú của Hồ Chí Minh - nhân tố chủ quan
cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc ..................... 24
1.2. Một số nội dung cơ bản của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc
......................................................................................................................... 26
1.2.1. Độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm ................. 26
1.2.2.Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội .................................... 44
1.2.3. Độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất đất nước ............................. 60


CHƢƠNG 2. Ý NGHĨA CỦA TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP
DÂN TỘC ĐỐI VỚI VIỆC GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘC
LẬP, TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .......65
2.1. Khái niệm về “độc lập, tự chủ”, “hội nhập quốc tế” và quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội
nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay............................................................... 65
2.1.1. Khái niệm về “độc lập, tự chủ” và “hội nhập quốc tế”...................... 65
2.1.1.1. Khái niệm về độc lập, tự chủ.............................................................. 65
2.1.1.2. Khái niệm về hội nhập quốc tế ........................................................... 69
2.1.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa độc
lập, tự chủ và hội nhập quốc tế ..................................................................... 71
2.2. Giải quyết mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế dƣới
ánh sáng tƣ tƣởng độc lập dân tộc của Hồ Chí Minh ................................ 75
2.2.1. Độc lập, tự chủ là cơ sở quyết định hội nhập quốc tế ........................ 75
2.2.2. Hội nhập quốc tế là điều kiện quan trọng để giữ vững độc lập, tự chủ ...79
2.2.3. Hội nhập quốc tế phải gắn liền với việc bảo vệ chủ quyền quốc gia. 88
KẾT LUẬN .................................................................................................................95
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................97




Hiện nay, bối cảnh quốc tế biến đổi nhanh chóng và sâu sắc. Xu thế
quốc tế hóa đời sống các nước ngày càng tăng, nhất là về kinh tế. Các nước có
mối liên hệ với nhau, không một nước nào có thể phát triển lại không hội
nhập quốc tế, đó là một yêu cầu khách quan. Để hội nhập quốc tế thực sự có
hiệu quả, đưa đất nước phát triển, Đảng ta xác định phải xử lý hài hòa “mối
quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế” và đây là một trong tám
mối quan hệ lớn được Đảng ta xác định cần được chú trọng giải quyết.
Giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế cùng hướng tới một mục
tiêu chung là: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hai nhiệm
vụ này gắn bó, tác động qua lại, có mối quan hệ biện chứng với nhau. Có độc
lập, tự chủ mới tạo vị thế và khả năng cho chúng ta chủ động hội nhập quốc
tế; đồng thời, hội nhập quốc tế cũng mang lại nhiều cơ hội cho Việt Nam phát
triển, mang lại công nghệ, kinh nghiệm quản lý, rút ngắn con đường phát triển
nhằm không ngừng tự hoàn thiện mình để giữ vững hơn nền độc lập, tự chủ.
Chúng ta hội nhập quốc tế với rất nhiều nét đặc thù, trong đó khó khăn
nhất là trình độ phát triển của nền kinh tế còn thấp. Bên cạnh đó là những hệ
lụy của cuộc chiến tranh kéo dài, tác động đến đời sống xã hội, rồi đến chiến
lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và điều nguy hiểm nữa là
những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đang có những diễn biến
phức tạp. Với rất nhiều vấn đề mới và khó được đặt ra, đòi hỏi phải làm rõ
hơn cơ sở lý luận của mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế.
Do vậy, đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và ý nghĩa
đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế
ở Việt Nam hiện nay” là một đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.

2




nói này là sự kết tinh những khát vọng thiết tha và cao đẹp nhất của mọi con
người và mọi dân tộc, bởi nó khẳng định một chân lý vĩnh cửu, bởi nó là lời
hiệu triệu vang vọng suốt chiều dài lịch sử, phải được ghi trong những lời
nói vĩ đại nhất của lời người”[17, tr. 493]
Trong tác phẩmChủ nghĩa dân tộc truyền thống và tư tưởng độc lập,
tự do – động lực, mục tiêu đại đoàn kết, đại thành công của cách mạng Việt
Namcủa Lê Mậu Hãn [27, tr. 248 – 261], đã khẳng định: “Độc lập, tự do là
hạt nhân sáng chói và trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh Tư tưởng độc
lập, tự do là sự khái quát cao và bản chất cốt lõi của chủ nghĩa dân tộc truyền
thống và chủ nghĩa dân tộc hiện đại Việt Nam. Tư tưởng đó có bệ đỡ vững
chắc của quá khứ, phản ánh được khát vọng hiện tại và soi sáng cả tương lai
của dân tộc, vừa là mục tiêu, vừa là động lực, là cơ sở của chiến lược đại
đoàn kết, đại thành công của cách mạng và kháng chiến của nhân dân Việt
Nam”[27,tr. 259].
Trong tác phẩmHồ Chí Minh học và minh triết Hồ Chí MinhcủaBùi
Đình Phong (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,2008), đã khẳng định: “Độc
lập dân tộc là tiền đề, điều kiện đi tới hạnh phúc tự do” [6, tr. 192]
Tiếp đến là tác phẩmTư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội của Hoàng Trang - Phạm Ngọc Anh (đồng chủ biên, Nxb
Lao động, Hà Nội, 2000), khi trình bày về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc
với chủ nghĩa xã hội, các tác giả đã khẳng định “độc lập tự do là khát vọng
của con người, là khát vọng của mọi dân tộc trên thế giới. Độc lập dân tộc là
mục tiêu của mọi cuộc đấu tranh để thoát khỏi ách áp bức bóc lột của giặc
ngoại xâm, có độc lập, tự do, hòa bình, đất nước mới có điều kiện để xây
dựng, tổ chức tốt đời sống cho đồng bào” [82, tr. 179]

4




khẳng định: “Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền
thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người sẽ
được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị
đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy
vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ
bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này” [85, tr. 22]
Tiếp theo là tác phẩm Mối quan hệ biện chứng giữa tính giai cấp và tính
nhân loại trong sự nghiệp sáng tạo của chủ tịch Hồ Chí Minh của L. Ô –
GUN- GIÊ – RAN (ủy ban khoa học xã hội Mông cổ)[85, tr. 105 – 106],
trong tác phẩm này tác giả đã chỉ ra những cống hiến của Hồ Chí Minh về vấn
đề dân tộc thuộc địa: “ Hồ Chí Minh đã có những đóng góp quý báu vào việc
phát triển luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc của các nước thuộc địa. Sự sáng tạo trong quan điểm về đấu tranh giải
phóng dân tộc của Người là xác định sự thống nhất chặt chẽ giữa tính dân tộc
và tính quốc tế, giữa tính giai cấp và tính nhân loại”[85, tr. 105]
Trong tác phẩm“Hồ Chí Minh nhà tư tưởng của Singô Sibata”, trích
trong cuốn sách Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay do
Phan Ngọc Liên chủ biên, Nxb Viện thông tin Khoa học và Xã hội, Hà Nội,
1993[43, tr. 89 - 98],trong tác phẩm này Singô Sibata đã khẳng định: “Những
cống hiến của Cụ Hồ Chí Minh đã thực sự mở ra một giai đoạn mới trong
những lý luận về vấn đề dân tộc và thuộc địa” [43, tr.89]. Singô Sibata cho
rằng, cùng với lý luận về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Hồ Chí Minh “đặc biệt
làm sâu sắc thêm lý luận về vấn đề dân chủ, quyền dân tộc tự quyết và những
vấn đề dân tộc cơ bản” [43, tr. 92 – 93]. Theo tác giả, tuy Hồ Chí Minh tiếp
nhận tư tưởng độc lập, dân chủ và quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập
năm 1776 của nước Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng
Pháp năm 1789, nhưng tư tưởng về độc lập dân tộc là tư tưởng riêng của Hồ

6

7


Thứ nhất, làm rõ tiền đề hình thành và một số nội dung cơ bản tư tưởng
Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc.
Thứ hai, chỉ ra ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc đối
với việc giải quyết mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế ở
Việt Nam hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh về các vấn đề cơ
bản của cách mạng Việt Nam; quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về
mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế.
Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử; các phương pháp: thống nhất lôgích và lịch sử, phân tích và tổng hợp…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và
chỉ ra ý nghĩa đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội
nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay. Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho
những ai quan tâm nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Người.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung
của Luận văn gồm 2 chương 4 tiết.

8


NỘI DUNG

trào cách mạng ở chính quốc. Bị áp bức và bóc lột nặng nề, nhân dân các dân
tộc thuộc địa vùng lên đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc để giải phóng dân
tộc, giành độc lập tự do. Tuy nhiên, cho đến chiến tranh thế giới thứ nhất, các
phong trào giải phóng dân tộc đều thất bại.
Trong lúc các dân tộc bị áp bức đang sống cuộc đời tăm tối thì “tiếng
sấm Cách mạng Tháng Mười Nga đã vang dội làm chấn động toàn thể địa
cầu” [59, tr.30].Được cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 cổ vũ, phong
trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới, đặc biệt là châu
Á mà điển hình là Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Inđônêxia…Bão táp
cách mạng với phương Đông thức tỉnh đã làm rung chuyển hệ thống thuộc địa
của chủ nghĩa đế quốc.
Trong bối cảnh ấy, Lênin (1870 - 1924) đã phân tích cụ thể tình hình, phát
triển chủ nghĩa Mác trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Lênin đã nghiên cứu
những đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc, và đi đến kết luận: cách mạng có thể
thắng lợi trong một số nước, thậm chí trong một nước, ở đó tập trung mâu
thuẫn và là chỗ yếu nhất trong sợi dây chuyền của các nước đế quốc chủ nghĩa;
đồng thời nêu lên nguyên lý về cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc
địa trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc. Thực tiễn
chứng minh lý luận của Lênin là đúng đắn với thắng lợi của cách mạng Tháng
Mười Nga. Thắng lợi đó là nguồn cổ vũ lớn lao đối với phong trào cách mạng
thế giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc các nước thuộc địa.
Nhật Bản trước năm 1868 là một nước phong kiến phương Đông, giống
như Việt Nam trước 1858. Cũng như Việt Nam, vào giữa thế kỷ XIX, Nhật bị
các cường quốc phương Tây tiến công xâm lược. Nhưng Nhật Bản, một mặt
nhờ có quan hệ tư bản chủ nghĩa trong kinh tế và xã hội đã nở mầm rồi, mặt
khác nhờ có tầng lớp lãnh đạo sớm có ý chí kiên quyết Duy tân, sớm tỉnh ngộ

10




thuộc mang tính chất tư bản chủ nghĩa. Những yếu tố vật chất đó đã tạo điều
kiện cho các trào lưu tư tưởng mới ở bên ngoài xâm nhập vào nước ta làm
biến đổi ý thức tư tưởng của dân tộc ta trong tiến trình phát triển của dân tộc.
Về chính trị: thực dân Pháp thi hành chính sách “chia để trị” nhằm làm
suy yếu lực lượng dân tộc Việt Nam. Chúng chia nước ta ra làm ba kỳ, với ba
chế độ chính trị khác nhau. Bắc kỳ và Trung kỳ là xứ “bảo hộ” vẫn giữ lại
chính quyền phong kiến về “hình thức”; Nam kỳ là chế độ thuộc địa, với thủ
đoạn này thực dân Pháp nhằm xóa tên tên Việt Nam trên bản đồ thế giới.
Về văn hóa: thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hóa “nô dịch” với
thủ đoạn phát triển tôn giáo, mê tín dị đoan để mê hoặc nhân dân, ngoài ra
chúng còn ra sức ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ tiến bộ Pháp
vào Việt Nam.
Tình hình đó đã dẫn tới xuất hiện hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt
Nam: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc; mâu
thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, chủ yếu là giai cấp nông dân với giai cấp địa
chủ phong kiến, trong đó mâu thuẫn gay gắt nhất là mâu thuẫn giữa toàn thể
dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc. Giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc
lúc này là yêu cầu bức thiết của dân tộc.
Hậu quả của chính sách thống trị của thực dân Pháp không chỉ làm phân
hóa các giai cấp vốn có trong xã hội Việt Nam như giai cấp địa chủ, giai cấp
nông dân, mà còn làm xuất hiện thêm những giai cấp mới như: giai cấp tư
sản, giai cấp tiểu tư sản và giai cấp công nhân.
Giai cấp địa chủ phong kiến, là giai cấp giữ vai trò thống trị trong xã hội
phong kiến, nhưng dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến thì mất dần vai trò
thống trị và do sự tác động của điều kiện kinh tế - xã hội làm cho giai cấp này
phân hóa khá sâu sắc. Thứ nhất, đại bộ phận địa chủ phong kiến ý thức rằng
giai cấp mình mất vai trò lịch sử, bộ phận này câu kết chặt chẽ với thực dân

12

13


với đế quốc phong kiến. Tuy nhiên tư sản dân tộc Việt Nam về bản chất cũng
là tầng lớp vừa trực tiếp bóc lột công nông, vừa muốn dựa vào công nông để
đấu tranh đòi chính quyền thực dân mở rộng quyền kinh doanh. Tình hình
trên phản ánh tính hai mặt của giai cấp tư sản dân tộc: mặt cách mạng, chống
đế quốc và chống phong kiến, tán thành cách mạng dân tộc dân chủ; mặt cải
lương, dễ thỏa hiệp với thực dân, cho nên vai trò của tư sản Việt Nam rất mờ
nhạt, không đủ lực lượng và sức mạnh để nắm ngọn cờ lý luận lãnh đạo cách
mạng giải phóng dân tộc.
Giai cấp tiểu tư sản Việt Nam gồm nhiều tầng lớp khác nhau, từ những
người thợ thủ công, tiểu chủ, tiểu thương đến những viên chức, trí thức, học
sinh và những người làm nghề tự do khác…
So với giai cấp tư sản, họ chiếm đa số, nhưng vì cũng bị tư bản Pháp ra
sức chèn ép ngay từ đầu nên so với giai cấp tư sản, họ còn bị khốn đốn hơn
nhiều, đời sống của họ rất bấp bênh. Là công thương, họ bị giới hạn ngặt
nghèo trong phạm vi tiểu thương, tiểu chủ; là trí thức, công chức họ bị thực
dân khinh rẻ, bạc đãi, kìm hãm phát triển tài năng, tước đoạt mọi quyền tự do
dân chủ.Trong điều kiện đó, chỉ trừ một bộ phận rất nhỏ ở trên gần với giai
cấp tư sản có khả năng leo lên giai cấp tư sản nên có thái độ chính trị lưng
chừng còn chiều hướng chung của họ là dễ bị phá sản để sung vào hàng ngũ
những người thất nghiệp và giai cấp vô sản nên nói chung họ rất hăng hái
tham gia cách mạng.
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời sau cuộc khai thác thuộc địa của
thực dân Pháp. Khác với phương Tây, giai cấp công nhân Việt Nam chủ yếu
xuất thân từ nông dân. Họ trở thành công nhân bằng nhiều con đường khác
nhau. Một số bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất, phải tự đến hầm mỏ, xí nghiệp
kiếm công ăn việc làm; một số khác là “công nhân theo mùa”. Họ tranh thủ
tháng ba, ngày tám ra hầm mỏ làm thuê.Sinh ra và lớn lên ở một nước thuộc

cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản, tiểu tư sản trên các lĩnh vực kinh tế, chính

15


trị, văn hóa, tư tưởng, đặc biệt là cuộc vận động giải phóng dân tộc theo con
đường dân chủ tư sản của tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng do Nguyễn Thái
Học, Phạm Tuấn Tài, vv…lãnh đạo. Tuy vậy, các cuộc vận động giải phóng
dân tộc theo ý thức hệ phong kiến và các cuộc vận động giải phóng dân tộc
theo khuynh hướng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,
Hoàng Hoa Thám và của tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng đều thất bại, bị
dìm trong biển máu.
Tóm lại, có thể nói những chuyển biến về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và thất bại của phong trào Cần
Vương, phong trào đấu tranh theo khuynh hướng dân chủ tư sảnđiều kiện
quan trọng hình thành tư tưởng độc lập dân tộc của Hồ Chí Minh.
1.1.2. Tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về
độc lập dân tộc
1.1.2.1. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống
Việt Nam là một quốc gia được hình thành từ rất sớm, trải qua mấy
nghìn năm dựng nước và giữ nước, đất nước Việt Nam đã trở thành tổ quốc
thiêng liêng của mỗi người dân Việt Nam. Tinh thần yêu nước đã trở thành
đạo lý sống, niềm tự hào và là nhân tố đứng đầu trong bảng giá trị tinh thần
của con người Việt Nam.
Trong thời kỳ dựng nước, chủ nghĩa yêu nước được thể hiện qua các
thần thoại, truyền thuyết. Qua đó, chủ nghĩa yêu nước đã thể hiện mơ ước của
dân tộc, quyết tâm bảo vệ non sông gấm vóc, cứu nước thương nòi. Thời kỳ
Bắc thuộc, chủ nghĩa yêu nước được thể hiện qua các cuộc khởi nghĩa của Hai
Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí, Triệu Quang Phục, Phùng Hưng, Mai Hắc Đế,
Khúc Hạo, vv… Dù thành công hay thất bại thì các cuộc khởi nghĩa đó đã nói

ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà
Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, vv… Chúng ta phải ghi nhớ

17


công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc
anh hùng” [54, tr. 38]
Chính sức mạnh của truyền thống yêu nước ấy đã thúc đẩy Nguyễn
Sinh Cung sau này là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu
nước. Đó cũng là động lực tư tưởng, tình cảm chi phối mọi suy nghĩ, hành
động của Người trong suốt cả cuộc đời. Đó cũng là cở sở tư tưởng đã dẫn
Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, tiếp thu lý luận cách mạng khoa học
của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Vì vậy, có thể nói chủ nghĩa yêu nước truyền thống là một trong những
tiền đề tư tưởng hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc. Đúng
như Người đã viết: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ
nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba” [59, tr. 563]
1.1.2.2. Tinh hoa văn hóa nhân loại
* Những giá trị tư tưởng văn hóa phương Đông
Ngoài truyền thống văn hóa dân tộc, Nguyễn Ái Quốc còn chịu ảnh
hưởng của tưởng văn hóa phương Đông (Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo). Các
học thuyết chính trị và tôn giáo này đều là những hệ thống lớn, trên con
đường học hỏi, Nguyễn Ái Quốc đã biết làm giàu vốn trí tuệ của mình bằng
những di sản quý báu của văn hóa nhân loại.
Ảnh hưởng của Nho giáo được thể hiện ở những nội dung sau:
Thứ nhất, là tư tưởng “lấy dân làm gốc” (dĩ dân vi bản). Tư tưởng của
Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu sắc quan điểm này, Người từng nhắc lại lời
Mạnh Tử: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Người viết: “Trong
bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực

trong tư duy, hành động, cách ứng xử của con người Việt Nam.
Thứ nhất, là tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, thương
người như thể thương thân. Thứ hai, là nếp sống có đạo đức, trongsạch, giản
dị, chăm lo làm điều thiện.Thứ ba, là tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ

19


chất phác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp. Cuối cùng, Phật giáo vào Việt
Nam gặp chủ nghĩa yêu nước và tinh thần đấu tranh bất khuất chống ngoại
xâm của dân tộc ta luôn thực hiện chủ trương không xa đời mà sống gắn bó
với nhân dân, đất nước, tham gia vào cuộc đấu tranh chống kẻ thù dân tộc.
Ngoài ảnh hưởng của Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo, Hồ Chí Minh còn
chịu ảnh hưởng tư tưởng của chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn. Hồ Chí
Minh đã thấy ở chủ nghĩa Tam Dân và chính sách “liên Nga, thân cộng, phù
trợ công nông” của Tôn Trung Sơn có những tư tưởng tiến bộ, tích cực và có
thể vận dụng vào cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, Người cũng thấy rõ những
hạn chế của chủ nghĩa Tam Dân là vẫn nằm trong phạm trù tư tưởng dân chủ
tư sản nên Người không theo.
* Những giá trị tư tưởng văn hóa phương Tây
Ngay từ lúc còn đang học ở trường tiểu học Pháp – Việt và trường Quốc
Học Huế, Người đã từng biết đến khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”
của đại cách mạng tư sản Pháp, được tiếp xúc với những tờ báo tiếng Pháp có
xu hướng tự do qua những người lính lê dương tiến bộ. Văn minh phương
Tây với những thành tựu của Khoa học – kỹ thuật đã khơi gợi tư duy của
người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành khiến Người muốn đi sang các
nước phương Tây để tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau khẩu hiệu ấy.
Trong gần mười năm bôn ba, khảo sát ở các nước tư bản lớn như Mỹ,
Anh, Pháp và các nước thuộc địa của họ, Người đã tìm hiểu qua sách báo, tài
liệu, qua tiếp xúc với các nhà chính trị - xã hội và qua xem xét thực tế cuộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status