TRẦN TRUNG HIẾU
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------
TRẦN TRUNG HIẾU
LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
NGHỀ ĐIỆN CÔNG NGHIỆP DỰA TRÊN NĂNG LỰC THỰC HIỆN
TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KINH TẾ - KỸ THUẬT VINATEX
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
CH2010A
Hà Nội – 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
--------------------------------------TRẦN TRUNG HIẾU
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
NGHỀ ĐIỆN CÔNG NGHIỆP DỰA TRÊN NĂNG LỰC THỰC HIỆN
TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KINH TẾ - KỸ THUẬT VINATEX
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
5
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA
SINH VIÊN NGHỀ ĐIỆN CÔNG NGHIỆP DỰA TRÊN NĂNG LỰC
10
THỰC HIỆN
1.1
Nghề điện công nghiệp
10
1.1.1. Giới thiệu chung về nghề điện công nghiệp
10
1.1.2.
Mục tiêu đào tạo nghề điện công nghiệp trình độ cao đẳng
10
Năng lực và năng lực thực hiện
11
1.2.1.
19
1.3.4.
Thực hiện kế hoạch đánh giá theo năng lực thực hiện
21
1.3.5.
Lưu trữ hồ sơ đánh giá và báo cáo kết quả đánh giá
23
1.3.6.
Thiết kế công cụ đánh giá năng lực
24
1.2.
1.3.
1.4.
Sự khác nhau giữa phương pháp đánh giá truyền thống và
đánh giá dựa trên NLTH
Kết luận chương 1
Cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất
37
Thực trạng công tác đánh giá kết quả học tập của sinh viên
2.3.
nghề Điện công nghiệp tại Trường Cao đẳng nghề kinh tế - kỹ
39
thuật Vinatex
2.3.1.
2.3.2.
2.3.3.
2.3.4.
Nhận thức của giáo viên về kiểm tra đánh giá kết quả học tập
39
Thực trạng giáo viên sử dụng các phương pháp kiểm tra
41
đánh giá kết quả học tập
Hiệu quả của các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học
tập
75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
76
PHỤ LỤC
78
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Đề tài: Đánh giá kết quả học tập của sinh viên nghề điện công nghiệp dựa trên
năng lực thực hiện tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex
Tác giả luận văn: Trần Trung Hiếu
Khóa: CH2010A
Người hướng dẫn: TS. Lê Thanh Nhu
a) Lý do chọn đề tài:
Dạy học theo NLTH là một chủ trương quan trọng để đổi mới đào tạo ở nước ta.
Trong dạy học theo NLTH thì kết quả học tập của sinh viên là thước đo phản ánh chất
lượng đào tạo. Vấn đề tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả đánh giá KQHT của SV
nghề ĐCN có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo
của trường Cao đẳng nghề kinh tế - kỹ thuật Vinatex. Với quan điểm dạy học tích cực
hiện nay thì công tác đánh giá KQHT của SV dựa trên năng lực thực hiện là một
hướng đi mới, thiết thực và mang lại hiệu quả cao. Với những lý do trên tác giả đã
nghiên cứu đề tài “Đánh giá kết quả học tập của sinh viên nghề điện công nghiệp dựa
trên năng lực thực hiện tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex” làm đề
qua các tài liệu trong và ngoài nước
+
Nghiên cứu lý luận về NLTH và phương pháp đánh giá KQHT dựa trên NLTH
− Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra, khảo sát giáo dục: Điều tra khảo sát bằng các phiếu thăm
dò để tìm hiểu các nhận định, thái độ của GV và SV về KTĐG KQHT.
e) Kết luận
Dạy học theo NLTH đang ngày càng được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế
giới, đồng thời cũng là một chủ trương đổi mới giáo dục ở nước ta. Cùng với sự đổi
mới về mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo thì việc đổi mới phương pháp kiểm tra
đánh giá kết quả học tập cũng đã góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
Đóng góp của luận văn:
1. Nghiên cứu tổng quan về dạy học theo năng lực thực hiện và phương pháp kiểm tra
đánh giá kết quả học tập dựa trên năng lực thực hiện
2. Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc KTĐG KQHT của SV nghề điện công nghiệp
tại khoa Điện - Điện tử Trường CĐN KTKT Vinatex, tác giả đã đề ra hướng mới về
KTĐG trong nhà trường. Đó là KTĐG KQHT dựa trên NLTH, dùng câu hỏi TNKQ
KTĐG phần kiến thức và dùng các bài trắc nghiệm đánh giá năng lực để đánh giá phần
kỹ năng, thái độ. Cụ thể, tác giả đã xây dựng ngân hàng câu hỏi TNKQ (gồm 156 câu)
và thiết kế các công cụ đánh giá quy trình, đánh giá sản phẩm cho một bài học cụ thể
trong chương trình đào mô đun Trang bị điện.
-2-
LỜI CAM ĐOAN
KT
Kiểm tra
ĐG
Đánh giá
KQHT
Kết quả học tập
NLTH
Năng lực thực hiện
CĐKTCN
Cao đẳng kỹ thuật công nghiệp
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
SV
Bảng 1.3. Thang đánh giá độ phân biệt của câu hỏi TNKQ
Bảng 2.1. Kết quả nhận thức của GV về mục đích của việc KTĐG KQHT
Bảng 2.2. Kết quả trưng cầu ý kiến về việc thực hiện các yêu cầu sư
phạm trong KTĐG của GV
Bảng 2.3. Kết quả thăm dò GV về mục tiêu kiến thức mà GV yêu cầu đối
với HS trong quá trình KTĐG KQHT
39
40
39
Bảng 2.4. Kết quả thăm dò GV về tỉ lệ sử dụng các phương pháp KTĐG
39
Bảng 2.5. GV nhận thức về hiệu quả của các phương pháp KTĐG KQHT
41
Bảng 2.6. SV nhận thức về hiệu quả của các phương pháp KTĐG KQHT
42
Bảng 2.7. Khoảng thời gian thông bảo kết quả đánh giá của GV
43
Bảng 2.8. Mức độ GV phân tích kết quả làm bài của SV
Bảng 3.7. Kết quả thử nghiệm 10 câu hỏi TNKQ với 25 SV
66
-3-
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Tên hình
Trang
Hình 1.1. Các thành tố cấu thành năng lực thực hiện
12
Hình 1.2. Cấu trúc của năng lực thực hiện hoạt động chuyên môn
13
Hình 2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức trường Cao đẳng nghề kinh tế - kỹ thuật
Vinatex
-4-
38
MỞ ĐẦU
các trường đào tạo, cũng như việc tiếp nhận, tuyển dụng đội ngũ cán bộ kỹ thuật
trong các cơ sở sản xuất hiện nay.
Hệ thống các trường CĐKTCN nói chung và trường CĐN KTKT Vinatex nói
riêng là nơi cung cấp nguồn nhân lực đáng kể cho xã hội. Trong đó nghề ĐCN là
nghề được nhà trường cũng như xã hội hết sức quan tâm, chú trọng với mục tiêu
đào tạo ra người lao động có kiến thức, tay nghề đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Các
công cụ chủ yếu sử dụng để đánh giá KQHT của SV nghề ĐCN hiện nay tại trường
phần lớn là dưới hình thức tự luận và bài thực hành theo chương trình đào tạo niên
chế. Quy trình và công cụ đánh giá còn bộc lộ nhiều hạn chế như chưa khách quan,
chính xác, đặc biệt là chưa chú trọng vào kết quả, vào đầu ra, do đó ảnh hưởng đến
chất lượng dạy học.
Vấn đề tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả đánh giá KQHT của SV nghề ĐCN
có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo của
trường Cao đẳng nghề kinh tế - kỹ thuật Vinatex. Với quan điểm dạy học tích cực
hiện nay thì công tác đánh giá KQHT của SV dựa trên năng lực thực hiện là một
hướng đi mới, thiết thực và mang lại hiệu quả cao.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài:
“Đánh giá kết quả học tập của sinh viên nghề điện công nghiệp dựa trên
năng lực thực hiện tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex”
2. Lịch sử nghiên cứu định hướng dạy học theo năng lực thực hiện
2.1. Ngoài nước
Dạy học theo NLTH đã được xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ trước,
cùng với sự ra đời của thuyết hành vi trong dạy học. Các công trình nghiên cứu của
các nhà khoa học như A.Pojoux, F.Skinner đã đề cập đến việc tổ chức huấn luyện
các kỹ năng thực hành giảng dạy cho sinh viên dựa trên cơ sở các thành tựu tâm lý
học hành vi và tâm lý học chức năng [2]. Đại học StanFort (Mỹ), nhóm “Phi Delta
Kapkar” đã đưa ra báo cáo “Khoa học và nghệ thuật đào tạo các thầy giáo”, phân
tích công việc của thầy giáo thành các bộ phận, những hành động có thể dạy và
đánh giá được cho người thầy giáo tương lai [5]. Năm 1970 trường Đại học Ohio
mới dạy học thực hành nghề kỹ thuật điện tại trường Cao đẳng công nghiệp dệt may
thời trang Hà Nội theo NLTH” của Vũ Văn Thảo, v.v..
-7-
Hiện nay đào tạo dựa trên NLTH cũng đã bắt đầu nhận được sự quan tâm và
được sử dụng trong việc phát triển nguồn nhân lực trong xu thế mở cửa, hội nhập
của đất nước. Tuy nhiên phương thức đào tạo dựa trên NLTH chưa được vận dụng
nhiều ở các trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp nói chung và các trường dạy
nghề nói riêng.
3. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng tiêu chí, quy trình và công cụ đánh giá KQHT của SV nghề điện
công nghiệp dựa trên NLTH tại trường Cao đẳng nghề kinh tế - kỹ thuật Vinatex
nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đánh giá KQHT của SV nghề ĐCN dựa trên NLTH tại trường Cao đẳng nghề
kinh tế - kỹ thuật Vinatex.
5. Phạm vi nghiên cứu
Xây dựng ngân hàng câu hỏi TNKQ mô đun Trang bị điện để đánh giá kiến
thức của SV
Thiết kế công cụ đánh giá kỹ năng trong một bài dạy tích hợp.
6. Những đóng góp chính của luận văn
−
Hoàn thiện thêm một bước lý luận về NLTH, trên cơ sở nghiên cứu tổng quan
về NLTH, luận văn đã làm rõ hơn khái niệm về NLTH, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc lựa chọn công cụ đánh giá KQHT dựa trên NLTH của SV học nghề ĐCN
−
1.1. Nghề điện công nghiệp
1.1.1. Giới thiệu chung về nghề điện công nghiệp
Nghề Điện công nghiệp là nghề chỉ các công việc liên quan đến điện trong
công nghiệp. Trong công nghiệp, nghề điện bao gồm các công việc từ lắp đặt, sửa
chữa hệ thống cung cấp điện cho các phân xưởng, máy sản xuất và vận hành, sửa
chữa các thiết bị điện, dây truyền sản xuất. Nhà máy xí nghiệp nào cũng cần đến
người có chuyên môn nghề điện công nghiệp.
Từ đó, nghề điện công nghiệp là nghề trọng yếu trong đào tạo nghề trên thế
giới và Việt Nam. Hầu hết các trường nghề đều đào tạo nghề điện công nghiệp.
Theo báo cáo của Tổng cục dạy nghề, năm 2008, điện công nghiệp là nghề có số
lượng trường đăng ký đào tạo nhiều nhất (52 trường) với 6685 chỉ tiêu (chiếm
11,8% tổng chỉ tiêu tuyển sinh năm 2008) [14]. Điều đó đã cho thấy nhu cầu đào tạo
cũng như sử dụng nhân lực nghề này đang ở mức cao.
Hiện nay tất cả các doanh nghiệp sử dụng lao động đều mong muốn HS tốt
nghiệp nghề điện công nghiệp tại các cơ sở đào tạo có thể hành nghề trong một thời
gian ngắn nhất.
1.1.2. Mục tiêu đào tạo nghề điện công nghiệp trình độ cao đẳng
Đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có trình độ cao đẳng
nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các
công việc của nghề điện trong lĩnh vực công nghiệp, có khả năng làm việc độc lập
và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ
vào công việc; giải quyết được các tình huống phức tạp trong thực tế; có đạo đức
lương tâm nghề nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ
tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự
- 10 -
tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cụ thể:
yêu cầu của một hoạt động nhất định để hoạt động có kết quả. Mỗi một cá nhân có
các khả năng/tiềm năng ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên theo quan điểm đào tạo
nghề theo năng lực thì mọi học sinh học nghề đều có thể học đạt đến một trình độ
thông thạo (mastery learning) cho một nghề nhất định.
1.2.2. Năng lực thực hiện
Định nghĩa
Năng lực thực hiện hay năng lực hành nghề trong một số tài liệu tiếng Việt
hiện nay được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh, thường là “Competence” hoặc
- 11 -
“Competency”, ví dụ “Competency Based Training” (CBT) có thể được hiểu là
“đào tạo theo năng lực thực hiện”.
Năng lực thực hiện là khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ,
công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra [1].
Năng lực thực hiện được coi như là sự tích hợp của kiến thức – kỹ năng –
thái độ để thực hiện một công việc sản xuất và được thể hiện trong thực tiễn sản
xuất.
Không chỉ là kỹ năng lao động tay chân mà kỹ năng trí tuệ cũng là thành
phần kỹ năng tạo nên năng lực thực hiện. Chẳng hạn kỹ năng nhận biết, kỹ năng
phán đoán, kỹ năng xử lý và giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết định .v.v.. Tùy theo
loại năng lực cần hình thành mà thành phần kỹ năng được nhận diện có thể khác
nhau. [1]
Hình 1.1. Các thành tố cấu thành năng lực thực hiện
Trong năng lực thực hiện, người ta cũng phân biệt bốn loại chủ yếu sau:
−
Kỹ năng thực hiện công việc cụ thể, riêng biệt
phối các ứng xử và hành vi.
−
Năng lực kỹ thuật/chuyên môn (professional/technical competency) là khả
năng thực hiện, đánh giá các nhiệm vụ chuyên môn một cách chính xác, độc lập, có
phương pháp. Năng lực này thể hiện ở khả năng tư duy logic, phân tích, tổng hợp,
trừu tượng hóa, khả năng nhận biết các mối quan hệ trong hệ thống và quá trình.
−
Năng lực phương pháp luận (methodical competency): là khả năng thực hiện
hành động có kế hoạch, xác định mục đích và phương hướng giải quyết các nhiệm
vụ chuyên môn, các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Năng lực phương pháp bao
gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Cốt lõi của năng
lực phương pháp là những khả năng tiếp nhận, xử lý , đánh giá, truyền thụ và trình
bày tri thức.
−
Năng lực xã hội (social competency) là khả năng đạt được mục đích trong
những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác trong sự phối hợp
chặt chẽ với những thành viên khác.
Đặc trưng năng lực thực hiện
Năng lực thực hiện có thể được nhận biết qua các đặc trưng sau: [8]
- 13 -
−
Mức 2: Thực hiện tốt các hoạt động lao động quan trọng trong những
hoàn cảnh khác nhau. Có thể tự mình thực hiện một số hoạt động lao động tương
đối phức tạp hoặc các công việc ít gặp. Có khả năng làm việc hợp tác, tham gia
nhóm làm việc.
−
Mức 3: Thực hiện các hoạt động lao động phức tạp, ít gặp, trong nhiều hoàn
cảnh khác nhau. Có khả năng làm việc độc lập cũng như khả năng kiểm soát và
hướng dẫn người khác
−
Mức 4: Có khả năng thực hiện một cách chắc chắn và độc lập các hoạt động
lao động kỹ thuật/chuyên môn phức tạp trong những tình huống (ca) khó. Có khả
năng tổ chức và quản lý công việc của nhóm và điều phối các nguồn tài nguyên.
−
Mức 5: Ứng dụng các nguyên tắc trọng yếu và kỹ thuật phức tạp trong nhiều
hoàn cảnh lao động khác nhau; đảm đương những công việc thường xuyên đòi hỏi
tính tự chủ cao, điều hành công việc của những người khác và kiểm soát các nguồn
tài nguyên quan trọng. Ngoài ra cũng có khả năng chuẩn đoán, thiết kế, lập kế
hoạch, thực thi kế hoạch và đánh giá công việc
- 14 -
1.3. Đánh giá kết quả học tập theo năng lực thực hiện
1.3.1. Dạy học theo năng lực thực hiện
+ Mức độ đạt được trong sự thông thạo NLTH, tốc độ học tập, … là các chỉ
tiêu phân loại chính đối với người học.
1.3.2. Quan niệm về đánh giá theo năng lực thực hiện
Kiểm tra
Kiểm tra là một thuật ngữ chỉ sự đo lường, thu nhập thông tin để có được
những phán đoán, xác định xem mỗi người học sau khi học đã biết gì (kiến thức),
làm được gì (kỹ năng) và bộc lộ thái độ ứng xử ra sao. [7]
Đánh giá theo năng lực thực hiện
Đánh giá là quá trình thu thập chứng cứ và đưa ra những kết luận đánh giá.
Người đánh giá căn cứ vào các yêu cầu được quy định bởi tiêu chuẩn năng lực của
công việc để đưa ra kết luận đánh giá về tính chất và mức độ thực hiện. [8]
Đánh giá kết quả học tập của người học trong đào tạo theo NLTH là một mặt
quan trọng của quá trình dạy và học. Đánh giá trong đào tạo theo NLTH là đánh giá
các năng lực theo các tiêu chí thực hiện của các năng lực đó, thực chất là xem xét
người học đã có thể làm được gì trước khi học, trong quá trình học và kết thúc khóa
học đối với công việc mà họ phải thực hiện so với tiêu chuẩn đã được quy định. Tất
cả mọi đánh giá nên nhằm để giúp người học đánh giá bản thân.
Sau khi đánh giá, đánh giá viên thông báo cho người học về sự thực hiện của
họ và những gì mà người học chưa có năng lực. Báo cáo của đánh giá viên sẽ nêu
cụ thể về những công việc tiếp theo mà người học cần phải tiếp tục thực hiện.
Đánh giá kết quả học tập của người học là một phần không thể tách rời của
đào tạo theo NLTH do đó, cần phải đảm bảo rằng người học nhận thức được đánh
giá là một phần của công tác đào tạo. Nó mang tính xây dựng và tính tổng hợp và vì
vậy, người học không cần phải lo ngại về nó. Những người học muốn được đánh giá
sớm sẽ xác định được điểm mạnh và điểm yếu của mình là ở đâu. Thông thường,
đánh giá kết quả học tập của người học sẽ dựa trên một mẫu công việc, một hoạt
động hạn chế hoặc một phần của một quá trình nào đó.
- 16 -
Đánh giá và thông báo về kết luận đánh giá dựa trên thông tin thu thập được.
Phương thức đánh giá kết quả học tập của người học
Đánh giá kết quả học tập của người học theo NLTH có 2 phương thức: đánh
giá quá trình, hay còn gọi là đánh giá phát triển (formative) và đánh giá tổng kết,
- 17 -
hay còn gọi là đánh giá phán xét, đánh giá kết thúc (summative). Tuy nhiên, trước
khi tiến hành đào tạo người ta còn đánh giá đầu vào để xác định những năng lực đã
có.
Đánh giá đầu vào:
Đánh giá đầu vào giúp người dạy ghi nhận được những kỹ năng người học
đã có và do đó sẽ không phải dạy lại.
Trong đánh giá đầu vào, những gì người học đã được đào tạo mà hồ sơ năng
lực đã nêu sẽ được thừa nhận nếu kết quả của trung tâm đánh giá kết luận là đạt
thông qua đánh giá năng lực thực hiện. Nếu hồ sơ năng lực của người nhập học
không nêu những gì đã được đào tạo nhưng kết quả đánh giá theo năng lực thực
hiện của trung tâm đánh giá kết luận là đạt thì cũng được cấp chứng nhận về sự thừa
nhận năng lực đó cho dù họ đã học ở đâu, học bao lâu và làm thế nào để họ phát
triển được năng lực đó.
Đánh giá quá trình:
Đánh giá quá trình giúp cho người học ghi nhận được về sự phát triển về
năng lực của mình, từ đó phát huy kết quả và khắc phục tồn tại, tạo cơ hội tốt để
người học tự đánh giá bản thân.
Đánh giá kết thúc:
Đánh giá kết thúc giúp người dạy và người học xác nhận năng lực đã đạt,
năng lực chưa đạt.
Nếu người học đạt tất cả các tiêu chí đã đề ra thì người đánh giá kết luận là
−
Một thước đo cho những gì mà người học đã đạt được,
−
Một hồ sơ về sự thực hiện tương đối,
−
Một cơ sở để quyết định việc đạt hay không đạt sự thực hiện,
−
Một cơ sở để quyết định về việc cấp văn bằng, chứng chỉ.
1.3.3. Lập kế hoạch đánh giá theo năng lực thực hiện
Công việc lập kế hoạch đánh giá được người đánh giá chuẩn bị, thống nhất
với các thành viên tham gia đánh giá (nhóm đánh giá) và hoàn thành trước khi tiến
hành đánh giá.
Người đánh giá phải là những người chuyên nghiệp: người có năng lực
chuyên sâu trong nghề đó (các chuyên gia chuyên đề đến từ các doanh nghiệp), do
đó họ có năng lực làm được công việc mà người học sẽ làm để họ đánh giá chứ
không phải chỉ biết công việc đó.
Người đánh giá chuyên nghiệp là người sẽ có khả năng xác định và khớp nối
một cách chính xác các hành động, hành vi, kết quả thể hiện việc có năng lực của
người học tại nơi làm việc hoặc thực hành trong lớp học.
Để tiến hành đánh giá thì phải xây dựng tiêu chí, hướng dẫn thu thập bằng chứng,
xác định bối cảnh đánh giá, lựa chọn kỹ thuật đánh giá, chuẩn bị công cụ đánh giá.
Có thể lấy các tiêu chí thực hiện đã có từ hoạt động phân tích nghề và tiêu