Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm cho môn vẽ kỹ thuật trong đào tạo các nghề cơ khí tại trường cao đẳng công nghiệp việt hung - Pdf 43

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Nói đến ngành Công nghệ chế tạo thì không thể thiếu các bản vẽ kỹ thuật.
“Bản vẽ kỹ thuật là một phương tiện thông tin kỹ thuật, là công cụ chủ yếu diễn đạt
ý đồ thiết kế và là tài liệu kỹ thuật cơ bản dùng để chỉ đạo sản xuất”. Bản vẽ kỹ
thuật được sử dụng rộng rãi trong mọi hoạt động sản xuất và đời sống, bản vẽ kỹ
thuật đã trở thành ngôn ngữ của kỹ thuật. Muốn trở thành một người công nhân,
một kỹ sư có trình độ tay nghề cao cần phải nắm vững chuyên môn vẽ kỹ thuật. Với
tầm quan trọng đó, vẽ kỹ thuật đã trở thành môn học quan trọng trong các trường
công nghiệp, trường xây dựng, thậm chí môn vẽ kỹ thuật đã được đưa vào giảng
dạy chính thức ở trường phổ thông trung học.
Để góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công nhân, kỹ sư trong tương lai,
trường Cao đẳng Công nghiệp Việt - Hung với những mục tiêu cụ thể:
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
- Hỗ trợ tích cực việc đổi mới phương pháp dạy học, phát triển tư duy sáng
tạo, năng lực tự học và khả năng ứng dụng kiến thức đã học của học viên.
- Tiếp cận trình độ khoa học và giáo dục của các nước trong khu vực và trên
thế giới
- Nâng cao tầm hiểu biết của học viên, giúp các em vững bước trên con đường
sự nghiệp của mình.
Chiến lược phát triển giáo dục Quốc gia 2001-2010 nêu rõ:
“Đổi mới giáo dục bao gồm đổi mới cả chế độ thi cử, tuyển sinh,xây dựng
phương pháp, quy trình và hệ thống đáng giá chất lượng đào tạo, chất lượng học
sinh, sinh viên một cách khách quan, chính xác, xem đây là biện pháp cơ bản khắc
phục tính chất đối phó với thi cử của giáo dục hiện nay, thúc đẩy việc lành mạnh
hoá giáo dục”.
Đổi mới phương pháp dạy học, thay đổi cách thức kiểm tra đánh giá là hoạt
động cấp thiết trong các trường học hiện nay. Kiểm tra đánh giá là bộ phận hợp

1



2


Trên cơ sở này nhiều nước đã sử dụng các bài trắc nghiệm để xét tuyển vào
trường. Có hơn 2000 trường đại học ở Mỹ và Canada yêu cầu học sinh khi vào
trường đại học phải có điểm này để xét khi tuyển vào học. Đó là các bài kiểm tra
trắc nghiệm kéo dài trong 3 giờ với các câu hỏi trắc nghiệm về khả năng tiếng Anh,
toán, các môn học xã hội và tự nhiên.
Quan điểm cơ bản của trắc nghiệm là nhằm mục đích phản ánh được tiềm
năng phát triển ở các lĩnh vực được trắc nghiệm. Đó là những năng lực đã có sẵn để
học tập bao gồm trí thông minh, quá trình tiếp thu, nhân cách, sự quan tâm thích thú
và các kỹ năng đặc biệt sẵn có. Nếu không có điều kiện gì trước, các bài trắc
nghiệm này chỉ để đo năng lực trí tuệ bẩm sinh hay năng lực học tập sẵn có. Thông
thường các câu hỏi trắc nghiệm được xây dựng cho loại này dựa vào các quá trình ở
trường học và gia đình, đồng thời củng cố phát hiện một phần nào những tiềm năng
sẵn có.
Đến năm 1917, quân đội Mỹ đã triển khai một bộ trắc nghiệm khách quan về
trí tuệ với 8 lĩnh vực trắc nghiệm để tuyển mộ sỹ quan. Bằng cách này, những người
sử dụng trắc nghiệm đã tuyển lựa được 1 triệu sỹ quan. Bộ trắc nghiệm thành quả
học tập tổng hợp đầu tiên Stanford Achievement Test ra đời vào năm 1923 ở Mỹ.
Với việc đưa vào chấm trắc nghiệm bằng máy của IBM năm 1935. Trong đầu
những năm 1940 của thế kỷ 20, dịch vụ tuyển dụng người của Mỹ đã dùng một bộ
bài trắc nghiệm gọi là General Aptitude Test Battery để tuyển dụng hay tư vấn
nghề. Các bài này nhằm trắc nghiệm chủ yếu: năng lực trí tuệ thông thường, khả
năng về ngôn ngữ, con số, không gian, khả năng nhận thức về hình dạng, khả năng
đối với công việc văn phòng, khả năng phối hợp thao tác, sự khéo tay, khả năng sử
dụng các ngón tay.
Đến năm 1963, để phục vụ cho các ngành công nghiệp, ở Mỹ triển khai một
loại trắc nghiệm khác gọi là “Khảo sát năng lực người làm”. Trong 1 giờ, người

một cách máy móc, khả năng lập luận bằng cơ cấu máy móc, khả năng xác định mối
quan hệ không gian, khả năng sử dụng ngôn ngữ và chữ viết.
Tất cả các bài trắc nghiệm này có thể phân thành 4 loại:
1. Các bài trắc nghiệm chung về năng lực trí tuệ dùng trong các trường học
2. Các bài trắc nghiệm khả năng học tập dùng trong việc tuyển chọn vào
trường

4


3. Các bài trắc nghiệm về khả năng làm việc dùng trong công nghiệp.
4. Các bài trắc nghiệm để phát hiện năng lực nổi bật và năng lực toàn diện
dùng cả trong giáo dục và hướng nghiệp.
Song song với các loại trắc nghiệm trên, trong lĩnh vực dạy học còn sử dụng
loại trắc nghiệm về thành quả học tập. Loại này cũng có hai loại: trắc nghiệm theo
chuẩn và trắc nghiệm theo tiêu chí.
Trắc nghiệm theo chuẩn là trắc nghiệm mà việc tiến hành và cách thức chấm
điểm đã được quy định chặt chẽ. Các chuẩn được cung cấp sao cho điểm của một
học sinh có thể so sánh được với các điểm của một nhóm học sinh đã được xác
định, thường là một tập hợp mẫu của toàn bộ quốc gia (đôi khi còn có chuẩn vùng,
địa phương hay lãnh thổ)
Trắc nghiệm theo tiêu chí là trắc nghiệm căn cứ trên các mục tiêu giảng dạy để
định ra các tiêu chí trắc nghiệm.
2.2. Lịch sử nghiên cứu trắc nghiệm khách quan ở Việt Nam.
Ở miền Bắc, theo tác giả Trần Trọng Thuỷ, việc sử dụng các trắc nghiệm tâm
lý vào những mục đích thực tiễn còn rất mới mẻ, nhưng cũng đã có, đầu tiên là
trong ngành y tế, nhằm chuẩn đoán bệnh, đặc biệt ở khoa tâm thần. Các trắc nghiệm
về trí tuệ cũng được nghiên cứu và sử dụng tại Viện nhi Hà Nội. Các bác sỹ quân
đội cũng đã dùng các trắc nghiệm tâm lý trong công tác chữa bệnh và khám tuyển.
Trong thể thao đã dùng trắc nghiệm để tuyển chọn vận động viên...

được sử dụng khá phổ biến trong kiểm tra và thi ở bậc trung học. Một số về vấn đề
này như “Trắc nghiệm vạn vật 12” của Lê Quang Nghĩa (1963), “Phương pháp học
và thi trắc nghiệm vạn vật lớp 12” của Phùng Văn Hướng (1964)....
Năm 1969, Dương Thiệu Tống đã đưa môn trắc nghiệm và thống kê giáo dục
vào giảng dạy các lớp cao học và tiến sỹ giáo dục tại trường đại học Sài Gòn. Có
thể nói lần đầu tiên khoa học trắc nghiệm được chính thức giảng dạy ở nước ta
3. Mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài.
3.1. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng để kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập môn Vẽ kỹ thuật của học sinh các nghề Cơ khí tại trường CĐCN Việt Hung.

6


3.2. Đối tượng nghiên cứu.
Các câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng để kiểm tra đánh giá thường xuyên
tri thức học viên trong quá trình đào tạo các nghề Cơ khí tại trường CĐCN Việt Hung.
3.3. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài này đi sâu nghiên cứu, xây dựng một số bài trắc nghiệm khách quan cho
Vẽ kỹ thuật trong đào tạo các nghề Cơ khí tại trường CĐCN Việt - Hung.
4. Giả thuyết khoa học.
Có thể xây dựng và ứng dụng một số câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng để
kiểm tra đánh giá thường xuyên tri thức của học viên trong môn Vẽ kỹ thuật và giúp
học viên tự đánh giá đúng năng lực của mình sẽ góp phần đổi mới phương pháp
kiểm tra đánh giá kết quả học tập và nâng cao chất lượng dạy học ở trường CĐCN
Việt - Hung.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kiểm tra, đánh giá và phương pháp trắc nghiệm
dùng trong kiểm tra đánh giá tri thức của học viên.
- Đánh giá thực trạng giảng dạy và công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập

kỳ thi quốc gia nhằm xác định trình độ tú tài và các chức danh khoa học khác nhau.
Các hình thức và phương pháp thi rất đa dạng: Mạn đàm, nói chuyện, tranh luận hay
trình bày về một vấn đề tôn giáo, triết học, lý luận, đạo đức nhằm phát hiện trình độ
học vấn uyên bác của mỗi học viên.
Ở Châu Âu, đã từ lâu việc kiểm tra, đánh giá tri thức của học sinh được quy
định dưới hình thức thi và kiểm tra ở các mức độ và hình thức khác nhau: kiểm tra
khi kết thúc các giờ học, các chương, các mục của môn học để chuyển tiếp phần
chương trình mới, thi sát hạch trình độ học vấn của thí sinh.
Ở nước Nga, các kỳ thi đầu tiên có tính chất quốc gia đã được tiến hành vào
những năm đầu của thế kỷ 18, việc thi cử được tiến hành chủ yếu thông qua môn
toán.
Vấn đề đánh giá kết quả học tập của học sinh bao giờ cũng đi liền với thi và
kiểm tra. Những thang, bậc, tiêu chí đánh giá là cơ sở để phân loại học sinh. Người
ta cho rằng, hệ thống đánh giá bằng điểm số đầu tiên xuất hiện ở Đức, do nhà giáo
dục I.E.Badeđôp (1724-1790) đưa ra. Đó là hệ thống đánh giá theo 12 bậc điểm. Về

8


sau, vào những năm đầu của thế kỷ 20, người ta đã thu gọn lại thành 3 bậc để phân
loại học sinh theo 3 mức độ: khá, trung bình, kém.
Hình thức phân loại trên được áp dụng phổ biến ở các nước Châu Âu trong
thời gian khá lâu, cho đến những năm 30 của thế kỷ 20. Nhiều nhà sư phạm cho
rằng hệ thống đánh giá này sẽ dẫn đế chủ nghĩa bình quân trong việc đánh giá,
không phát huy tính tích cực trong việc học tập của học sinh. Từ hệ thống phân loại
trên, một số nước đã đưa ra các hệ thống đánh giá khác nhau: Ở Liên Xô (cũ) có hệ
thống điểm 5 bậc (1-5), ở Đức thì ngược lại (5-1), ở Trung Quốc có thời kỳ sử dụng
hệ thống điểm 0-100
Ở Việt Nam, việc kiểm tra, đánh giá đã có từ lâu, đặc biệt là từ khi nhà nước
lập ra Văn miếu, mở khoa thi đầu tiên lấy “Minh kinh bác sĩ”. Việc tuyển người đi

Croubach, Alkin, Stufflebean, Stake, Scriven... đã đưa ra định nghĩa như sau: “Đánh
giá trong bối cảnh giáo dục, có thể định nghĩa như một quá trình được tiến hành có
hệ thống để xác định mức độ đạt được của học sinh về các mục tiêu đào tạo. Nó có
thể bao gồm những sự mô tả, về mặt định tính hay định lượng những hành vi (hoạt
động) của người học cùng với sự nhận xét, đánh giá những hành vi này, đối chiếu
với sự mong muốn đạt dược về những hành vi đó”.
Theo Deketele của trường Đại học tổng hợp Lovain La neuve (Bỉ 1980) thì
đánh giá là xem xét mức dộ phù hợp giữa một tập hợp thông tin có giá trị, thích hợp
và đáng tin cậy, phù hợp với mục tiêu đề ra để so sánh, đánh giá nhằm đưa ra một
quyết định.
Mechrers và Lehmann, 1975 cho rằng kiểm tra đánh giá là “Giải thích và miêu
tả thành tích học tập của sinh viên”.
Vậy ở đây, ta có thể hiểu kiểm tra đánh giá trong giáo dục đào tạo là so sánh
và đối chiếu vốn hiểu biết, kỹ năng, năng lực thực tế đã được hình thành ở người
học sau quá trình đào tạo với yêu cầu xác định của mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào
tạo.
Kiểm tra trong học tập chính là quá trình thu thập thông tin để có được những
phán đoán, xác định về mặt số lượng hay chất lượng quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ
năng, kỹ xảo của học sinh, để cung cấp những dữ liệu, thông tin làm cơ sở cho việc
đánh giá. Đánh giá là cơ sở cho việc ra những quyết định đúng đắn về quá trình giáo
dục và đào tạo.

10


Kiểm tra đánh giá có thể hiểu theo nghĩa rộng như theo dõi quá trình học tập,
rèn luyện, tu dưỡng của người học trong quá trình được đào tạo ở nhà trường và
cũng có thể hiểu theo nghĩa hẹp như là công cụ kiểm tra hoặc một bài kiểm tra trong
các kỳ học, kiểm tra hoặc thi. Trong luận văn này chỉ đề cập chủ yếu tới kiểm tra
đánh giá theo nghĩa thứ hai.

lượng và khối lượng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và kết quả rèn luyện ở học sinh để
tăng cường động lực học tập, để phát triển và hình thành nhân cách người công dân
tương lai ở họ, là cơ sở để đổi mới phương pháp dạy học ở những chỗ mà quá trình
đánh giá phát hiện cái chưa đạt.
Kiểm tra đánh giá chất lượng dạy học không chỉ đơn thuần là viêc xem xét
một học sinh sau khi được đào tạo có đạt các mục tiêu đã đặt ra ban đầu hay không
mà nó còn cho phép ta thấy:
- Mục tiêu lúc đầu có đạt mục tiêu hay không, nếu không thì phải thay đổi như
thế nào cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
- Trình độ lúc vào của học sinh có thích hợp hay không.
- Quá trình đào tạo có đạt yêu cầu không hay cần phải thay đổi.
Kiểm tra đánh giá là mội trong những cơ sở để ra các quyết định về việc dạy
và học, về tổ chức và quản lý quá trình đào tạo trong nhà trường, thể hiện ở việc
giúp cho ban hành các quyết định:
- Quyết định để cải tiến, hoàn thiện nội dung đào tạo: quyết định về tài liệu,
phương pháp, phương tiện nào là thích hợp, cần thay đổi gì.
- Quyết định về việc xác định nhu cầu người học, đánh giá với mục đích tuyển
chọn hay phân loại, làm cho học sinh hiểu được khả năng của họ với yêu cầu chung.
- Quyết định về mặt quản lý hành chính: đánh giá nhà trường, giáo viên tổ
chức thực hiện.
Giá trị của kiểm tra đánh giá người học là thu thập số liệu về kết quả học tập
của họ. Những số liệu này không chỉ nhằm có được thông tin và thành tích để báo
cáo lên cấp trên hoặc làm cơ sở xin cấp kinh phí mà giá trị thực sự của nó là sự phát
triển của người học.
1.1.3. Các chức năng của việc kiểm tra, đánh giá trong dạy học.
Xét trong quá trình dạy học, kiểm tra và đánh giá tri thức của học sinh là một
quá trình, được tiến hành theo một quy trình với hai giai đoạn: kiểm tra và đánh giá,

12



13


sở đó có thể phát hiện trí thông minh và hoạt động sáng tạo của học sinh. Kiểm tra
cũng còn là một nhân tố kích thích học sinh học tập. Các hình thức kiểm tra thường
xuyên, định kỳ và có hệ thống có tác dụng rất lớn khi thực hiện chức năng này.
*. Chức năng giáo dục:
Chức năng này biểu hiện ở chỗ người giáo viên vừa kiểm tra kiến thức, kỹ
năng, kỹ xảo, vừa tác động giáo dục để hình thành cho học sinh thói quen học tập
và rèn luyện một cách có hệ thống, đưa học sinh vào kỷ luật, rèn luyện ý chí, ý thức
tổ chức tốt, biết chấp hành và phục tùng trước những đòi hỏi về học tập và rèn luyện
đạo đức, phẩm chất nhân cách. Đối với giáo viên, qua kiểm tra, đánh giá mỗi người
tự xác định trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm, nhân cách và uy tín của mình
đối với học sinh và toàn xã hội trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ.
Việc kiểm tra kiến thức sẽ giúp học sinh biết rõ những hiểu biết và năng lực
của bản thân. Nhờ đó, họ tránh được thái độ tự tin quá đáng và nhận thức được
những thiếu sót của mình.
Việc kiểm tra đúng đắn, nghiêm túc, khách quan còn giúp cho học sinh nâng
cao hứng thú trong học tập, có lòng tin vào sự công bằng và cố gắng của bản thân,
phát huy tinh thần tập thể kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực
trong học tập.
*. Chức năng xác nhận hay xếp loại:
Đây là chức năng đánh giá tổng hợp. Khi thực hiện chức năng này cần xác
định rõ mục tiêu cuối cùng mà ta nhằm tới. Mục tiêu này phải có ý nghĩa đối với cá
nhân cũng như đối với xã hội. Ngoài ra, trình độ mong muốn phải được đánh giá
trong điều kiện thực tế càng tốt.
*. Chức năng quản lý chất lượng đào tạo:
Kiểm tra đánh giá nhằm đảm bảo công khai hoá kết quả đào tạo học sinh trước
nhà nước, xã hội, gia đình, đồng thời nâng cao tinh thần trách nhiệm của các lực

của người thầy.
*. Nguyên tắc đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống.
Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, nguyên tắc đảm bảo tính thường xuyên và
hệ thống trong quá trình kiểm tra tri thức của học sinh có ý nghĩa và tầm quan trọng
đặc biệt. Tiến hành đánh giá một cách có hệ thống để xác định phạm vi đạt được
của mục tiêu đã đề ra, giúp giáo viên biết được học sinh nắm tri trức đến mức độ

15


nào, trong quá trình tiếp thu gặp những khó khăn gì, tính chất của những khó khăn
ấy là như thế nào. Thường xuyên kiểm tra tiến bộ của học sinh trong việc tiếp thu
nội dung học tập là điều kiện để xây dựng cho học sinh thói quen công tác độc lập,
có hệ thống, hình thành một loạt các phẩm chất đạo đức và ý trí như: tính kiên trì,
tính có tổ chức..v..v... đây là một trong những khâu quan trọng, quyết định kết quả
học tập của học sinh.
Việc kiểm tra, đánh giá có hệ thống biểu hiện ở chỗ:
- Kiểm tra và đánh giá thường xuyên, liên tục những kiến thức, kỹ năng, kỹ
xảo mà họ tiếp thu được thông qua việc kiểm tra bài cũ, bài tập, bài làm.
- Kiểm tra định kỳ khi kết thúc chương, mục, một phần của chương trình hoặc
sau một học kỳ.
- Kiểm tra và đánh giá, học trình, học phần hoặc toàn bộ môn này.
*. Đánh giá đảm bảo tính kịp thời và có hiệu lực.
Sau mỗi lần kiểm tra xong, giáo viên cần đánh giá, nhận xét và cho điểm ngay,
đồng thời tổ chức trả lời, trả bài cho học sinh liền sau đó, không thể chậm trễ, kéo
dài. Làm như vậy sẽ có ý nghĩa sư phạm là:
- Công nhận kịp thời thành tích học tập học sinh đã đạt được hay chỉ dẫn họ
kịp thời sửa chữa, bổ sung vào hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà họ tiếp thu
- Làm cho người học không phải mong ngóng, chờ đợi hay lo lắng vì kết quả
kiểm tra.

Nguyên tắc tính vừa sức trong kiểm tra được xây dựng trên cơ sở kích thích
hứng thú của các học sinh khá, giúp họ đào sâu kiến thức hơn nữa, đồng thời bắt
buộc phải tìm cách đưa những học sinh kém đạt tới trình độ chung mà chương trình
yêu cầu. Điều này có thể đạt được bằng cách nâng cao mức độ khó của các bài kiểm
tra cho những học sinh khá và giúp đỡ những học sinh kém bằng nhiều phương
pháp khác nhau và cho ra những bài kiểm tra vừa sức, cộng thêm với sự giúp đỡ của
các thành viên trong lớp. Phương pháp này thường được áp dụng trong kiểm tra
thường xuyên.
*. Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện.
Quá trình học tập của học sinh là quá trình vận động giữa ý chí, nghị lực, tình
cảm lý trí, đạo đức, tư cách, tổ chức và phương pháp. Việc kiểm tra đánh giá tri
thức của học sinh không những phải được tiến hành toàn diện về số lượng và chất

17


lượng mức độ nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh mà còn cần phải chú ý đến
các mặt có quan hệ với nó, đó là các mặt tư tưởng, tác phong và thái độ tiếp thu nó
như thế nào. Vì vậy, việc kiểm tra tri thức của học sinh phải được tiến hành một
cách toàn diện, cân đối cả về mặt nội dung, phương pháp tổ chức học tập ở trên lớp
cũng như ở nhà. Khi người giáo viên cho điểm chính là toàn bộ sự vận động ấy.
*. Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục.
Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ nếu giáo viên đánh giá đúng thì học sinh công
nhận, hài lòng, phấn khởi, tự tin vươn lên đạt kết quả ngày càng cao, phát huy tính
độc lập sáng tạo, tăng cường mối quan hệ thầy trò.
Một trong những yêu cầu của giáo dục là vấn đề tự giáo dục. Quá trình đánh
giá giúp học sinh hoàn thiện tính tự giác của mình. Nếu có phương pháp kiểm tra
thích hợp thì sẽ góp phần nâng cao thái độ học tập tự giác và kích thích tính tích cực
suy nghĩ của học sinh.
1.1.5. Những căn cứ xác định các hình thức và phương pháp kiểm tra, đánh giá

dựng nên các mức độ của các mục tiêu giáo dục, thường được gọi là cách phân tích
Bloom, trong đó các mức độ nhận thức được chia thành các mức độ từ đơn giản
nhất đến phức tạp nhất như sau:
- Nhận biết: là sự nhớ, thuộc lòng, nhận biết được và có thể tái hiện các dữ
liệu, các sự việc đã biết hoặc đã học trước đây. Điều đó có nghĩa là một người có
thể nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp, tái
hiện trong trí nhớ những thông tin cần thiết. Đây là mức độ hành vi thấp nhất đạt
được trong lĩnh vực nhận thức. Với học sinh, các em chỉ nhận biết và nhớ lại được
những sự kiện, hiện tượng,... mà không cần giải thích.
- Thông hiểu: Là khả năng nắm được ý nghĩa của tài liệu, điều đó thể hiện
bằng việc hiểu qua việc thay đổi từ ngữ, hiểu qua việc giải thích làm sáng tỏ nội
dung, hiểu qua suy luận. Những từ thường dùng để kiểm tra sự hiểu: Trình bày, giải
thích, phân biệt, mô tả, thảo luận... Hành vi ở mức độ này cao hơn so với mức độ
nhận biết và cũng bao gồm cả mức độ nhận biết.
- Ứng dụng: Là khả năng sử dụng các tài liệu đã học vào một hoàn cảnh cụ thể
mới. Điều đó bao gồm cả việc:
+ Vận dụng các phương pháp tổng quát, những định lý, nguyên lý để giải
quyết một vấn đề cụ thể thuộc lĩnh vực đó

19


+ Vận dụng lý thuyết của lĩnh vực này để giải quyết một khía cạnh của lĩnh
vực khác
Hành vi ở mức độ này cao hơn ở mức độ nhận biết và thông hiểu trên đây,
cũng bao gồm các mức độ đó.
- Phân tích: Là khả năng phân chia tài liệu thành các phần sao cho có thể hiểu
được cấu trúc tổ chức của nó, gồm việc phân chia ra đúng các bộ phận, phân tích
các mối quan hệ giữa chúng. Hành vi này ở mức độ cao hơn và bao gồm cả các mức
độ nhận biết, thông hiểu, áp dụng. Vì nó đòi hỏi sự thấu hiểu cả nội dung và hình

cố định thời gian và loại bỏ họ như trước đây. Việc kiểm tra đánh giá cũng là để
nhằm thực hiện được việc ấy.
*. Kiểm tra đánh giá để thúc đẩy động cơ học tập của học sinh.
Việc kiểm tra sự nắm vững kiến thức của học sinh không chỉ là biện pháp cần
thiết để giáo viên biết được kiến thức đã lĩnh hội được của họ như thế nào mà trước
hết là cần để cho chính học sinh điều chỉnh lại quá trình học tập của mình.
Việc đánh giá khách quan, chính xác sẽ giúp học sinh biết được tình hình nhận
thức của mình như thế nào để có sự thay đổi cho thích hơp. Nếu không có kiểm tra
đánh giá, người học không biết mình đã hiểu sai những gì, không biết sức mình học
đến đâu. Việc đạt kết quả tốt là biểu hiện của sự thành công trong học tập, là nguồn
động viên, thúc đẩy người học tiếp tục vươn lên hơn nữa.
*. Kiểm tra đánh giá để điều chỉnh việc dạy
Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh cho biết những thông tin về việc
dạy của giáo viên và việc tổ chức quá trình dạy học nói chung. Sự phân tích một
cách khách quan kết quả của kiểm tra sẽ dẫn đến các câu hỏi về phương pháp giảng
dạy cũng như nội dung chương trình. Đó là cơ sở để có những quyết định thích hợp
cho việc dạy học.
*. Kiểm tra đánh giá để phân loại và cấp giấy chứng nhận.
Đó là mục đích nhằm phân hạng và xếp loại kết quả học tập của học sinh,
được thể hiện qua sự thay đổi trong hành vi con người, thông qua một quá trình đào
tạo. Cách làm này đã tồn tại trong xã hội hàng nghìn năm nay và được coi là sự
đánh giá của xã hội đối với việc học tập của mỗi người.
Mục đích kiểm tra đánh giá do mục tiêu dạy học và mục tiêu giáo dục chi
phối. Mục tiêu dạy học là cơ sở vững chắc không những giúp giáo viên lựa chọn nội

21


dung môn học, phương pháp dạy học mà còn giúp giáo viên lựa chọn chính xác
cách thức kiểm tra, đánh giá để rồi từ đó, người ta dựa vào mức độ đạt mục tiêu mà


™ Người lớn cũng cần được động viên, khuyến khích trong quá trình học tập.
Việc kiểm, tra đánh giá quá trình học tập của người lớn cần chú ý đến những
đặc điểm trên.
1.1.5.4. Căn cứ vào trình độ của người kiểm tra, đánh giá.
Trong quá trình giảng dạy, việc lựa chọn và sử dụng phương pháp kiểm tra,
đánh giá thường xuyên tuỳ thuộc chủ yếu vào người giáo viên vì khi chọn phương
pháp kiểm tra, đánh giá nào họ đều dựa vào trình độ, thế mạnh, thói quen và kinh
nghiệm của mình. Trình độ của giáo viên bao gồm các trình độ chuyên môn, trình
độ sư phạm, trình độ hiểu biết và kinh nghiệm sử dụng các hình thức, phương pháp
kiểm tra đánh giá.v.v....
1.1.5.5. Căn cứ vào điều kiện và phương tiện kiểm tra đánh giá.
Việc lựa chọn hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá nào là tuỳ thuộc sự
hiểu biết, sự đánh giá của giáo viên về các điều kiện và phương tiện dạy học hiện
có. Ví dụ: Trong điều kiện thiếu thốn sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, phương
tiện dạy học, in ấn... thì nên chọn hình thức kiểm tra viết khi kết thúc môn học.
Đánh giá thường xuyên nên tiến hành kiểm tra miệng. Trắc nghiệm khách quan chỉ
nên sử dụng khi có điều kiện về tài liệu, in ấn, kinh phí cho phép cùng với việc giáo
viên đã nắm được các kỹ thuật soạn thảo trắc nghiệm... Phương pháp kiểm tra vấn
đáp chỉ nên thực hiện khi có đủ giáo viên hỏi thi và bộ đề thi cùng đáp án đã được
chuẩn bị sẵn từ trước với sự thống nhất trong trong giáo viên hỏi thi về những nội
dung cần kiểm tra và cần đánh giá... Cách kiểm tra kết thúc bằng cách ra đề cho về
nhà làm nên tiến hành khi có nhiều thời gian, học viên có điều kiện suy nghĩ, phân
tích tổng hợp và cân nhắc khi làm bài...
1.1.6. Các hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá thường dùng.
1.1.6.1. Các hình thức kiểm tra đánh giá.
1. Kiểm tra đánh giá sự hình thành:
Kiểm tra đánh giá sự hình thành là kiểm tra đánh giá dựa trên cơ sở sự hình
thành các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong quá trình học tập và nhằm tạo ra động
lực học tập của học sinh. Hình thức này được giáo viên được tiến hành thường

những nội dung đã học từ đầu năm học hay từ đầu môn học, đồng thời tạo điều kiện
để chuyển sang năm học mới, môn học mới. Kiểm tra đánh giá tổng kết chú trọng
đến sự đạt được hay không những mục tiêu của dạy học và luôn được tiến hành sau

24


khi đã có sự đánh giá cả quá trình học tập của học sinh. Kết quả của kiểm tra đánh
giá tổng kết thường liên quan đến các quyết định trong giáo dục được đưa ra sau đó.
1.1.6.2. Các phương pháp kiểm tra đánh giá thường dùng:
1. Quan sát thường xuyên và có hệ thống:
Để làm cơ sở cho việc đánh giá một cách chính xác và khách quan, giáo viên
cần có sự quan sát thường xuyên, liên tục và có hệ thống để có thể kịp thời nhận ra
những nguyên nhân biến động về kết quả học tập: ổn định hay lúc lên, lúc xuống,
những biểu hiện yếu kém ở học viên, từ đó đề ra những biện pháp thích hợp giúp đỡ
họ
Ở phương pháp này, giáo viên chủ yếu quan sát và nghe các hành động, lời nói
thái độ của học sinh tiến hành ghi chép để lấy tư liệu đánh giá. Hình thức này thì
giáo viên căn cứ vào mục đích nội dung bài học xây dựng các phiếu ghi nhật ký, các
bảng kê với các tiêu chí khác nhau và qua quan sát, theo dõi, ghi chép có được các
tư liệu để đánh giá.
Như vậy, trong dạy học, kết quả toàn bộ quá trình dạy học ở một mức độ nào
đó phụ thuộc vào việc chọn lựa phương pháp và tổ chức để kiểm tra đánh giá kết
quả học tập của học sinh đúng và chính xác. Vì vậy, kiểm tra đánh giá luôn giữ vai
trò quan trọng trong bất kỳ quá trình giáo dục đào tạo nào.
2. Kiểm tra vấn đáp:
- Mục tiêu.
+ Kiến thức sinh viên có chọn lựa.
+ Thái độ học tập của sinh viên.
+ Sự nhạy bén nắm bắt vấn đề của sinh viên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status