ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ VÂN TRANG
THẾ CHẤP PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG
TY THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ VÂN TRANG
THẾ CHẤP PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG TY
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGÔ HUY CƢƠNG
Hà Nội – 2017
1.3. Hệ thống pháp lý về hoạt động thế chấp phần vốn góp của doanh nghiệp trong
nền kinh tế Việt Nam ............................................................................................. 22
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THẾ
CHẤP PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG TY ................................................. 27
2.1. Tổng quan nền kinh tế Việt Nam từ khi gia nhập WTO đến nay ................... 27
2.2. Pháp luật Việt Nam hiện hành về thế chấp phần vốn góp trong công ty. ...... 29
2.2.1. Đối tượng thế chấp phần vốn góp trong công ty .......................................... 33
2.2.3. Nội dung hợp đồng về thế chấp phần vốn góp ............................................ 36
2.2.4. Quyền, nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp phần vốn góp trong
công ty .................................................................................................................... 39
2.2.5. Hệ quả của thế chấp và Xử lý tài sản thế chấp là phần vốn góp .................. 43
2.3. Đánh giá thực trạng thế chấp phần vốn góp trong công ty tại Việt Nam ....... 54
2.3.1. Những kết quả đạt được ............................................................................... 54
2.3.2. Hạn chế ........................................................................................................ 56
2.3.3. Nguyên nhân ............................................................................................... 63
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY
ĐỊNH CỦA VIỆT NAM VỀ THẾ CHẤP PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG
TY .......................................................................................................................... 66
iv
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài sản là phần vốn góp và hoạt
động xử lý tài sản ................................................................................................... 66
3.1.1. Các yêu cầu cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo định hướng của
Đảng và nhà nước................................................................................................... 66
3.1.2. Hoàn thiện quy định về thế chấp phần vốn góp nhằm đảm bảo nhu cầu phát
triển nền kinh tế, phù hợp với sự phát triển trong và ngoài nước .......................... 69
3.2. Phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về thế chấp phần vốn góp
trong công ty tại Việt Nam ..................................................................................... 71
3.3. Kiến nghị với các cơ quan quản lý .................................................................. 77
dựng và phát triển nền kinh tế - xã hội của từng nước.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện nay khi mà các giao dịch
dân sự, thương mại được xác lập ngày càng nhiều thì các tranh chấp, kiện tụng
cũng theo đó ngày một gia tăng. Theo đó, hoạt động thế chấp quyền tài sản nói
chung và thế chấp phần vốn góp nói riêng được xem là một trong những công cụ
pháp lý căn bản, mang hiệu quả cao nhằm hạn chế nhưng rủi ro phát sinh từ
những giao dịch vay vốn, tín dụng. Đồng thời, hoạt động này có tác động mạnh
mẽ đối với doanh nghiệp nhằm góp phần giúp doanh nghiệp có sự linh động
trong nguồn vốn để có thể vận hành một cách dễ dàng hơn.
Những năm gần đây, khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) đã tạo tiền đề cho việc phát triển các mối
quan hệ có liên quan đến thế chấp trong những giao dịch dân sự, thương mại,
đặc biệt trong các quan hệ cấp tín dụng. Vậy hành lang pháp lý cho các quan hệ
thế chấp nói chung và thế chấp phần vốn góp của doanh nghiệp nói riêng đã thực
sự an toàn, hiệu quả. Đồng thời, quyền và lợi ích hợp pháp của bên có quyền
trong quan hệ đã được bảo đảm hay chưa? Cho đến thời điểm này, các văn bản
pháp luật đã được ban hành như: BLDS năm 2015, Luật Doanh nghiệp 2014,
Đất Đai năm 2013, Luật kinh doanh Bất động sản năm 2014…và đặc biệt sự ra
đời của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính
phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng
1
02 năm 2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo
đảm, đã đánh một dấu mốc quan trọng trong lĩnh vực giao dịch bảo đảm nói
chung và quan hệ thế chấp nói riêng. Các dự thảo Luật Đăng ký giao dịch bảo
đảm, Luật đăng ký Bất động sản đang trong quá trình hoàn thiện.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật về phần vốn
góp và thế chấp phần vốn góp của doanh nghiệp còn phát sinh mâu thuẫn, không
vốn góp, tôi lựa chọn đề tài: "Thế chấp phần vống góp trong công ty theo pháp
luật Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ luật học với mong muốn
sẽ góp phần hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề
thế chấp phần vốn góp nhằm khẳng định tầm quan trọng của biện pháp thế chấp
này đối với doanh nghiệp nói chung trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện
nay. Đồng thời, qua đó nhằm góp phần phát hiện những hạn chế của pháp luật về
thế chấp nói chung và thế chấp phần vốn góp nói riêng cũng như những khó
khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi ở Việt Nam. Từ đó, đề xuất, kiến nghị
một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về thế chấp phần vốn
góp nói riêng và hệ thống pháp luật kinh tế nói chung, nâng cao hiệu quả áp
dụng pháp luật về giao dịch đảm bảo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
2. Phạm vi và mục đích nghiên cứu
Pháp luật về thế chấp phần vốn góp là một lĩnh vực tương đối rộng và phức
tạp thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau. Trong khuôn khổ
luận văn thạc sĩ, phạm vi nghiên cứu luận văn thạc sĩ được giới hạn trong các
văn bản pháp luật về thế chấp phần vốn góp như: BLDS năm 2015, Luật Doanh
nghiệp 2014, Đất Đai năm 2013, Luật kinh doanh Bất động sản năm 2014…và
một số văn bản có liên quan như: Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng
3
12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐCP ngày 22 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ
về giao dịch bảo đảm... Nội dung luận văn giới hạn trong vấn đề lý luận về thế
chấp phần vốn góp được pháp luật Việt Nam quy định. Giới hạn khảo sát của
luận văn là quá trình áp dụng pháp luật thế chấp phần vốn góp tại Việt Nam.
Thông qua việc nghiên cứu trong phạm vi được đề ra ở trên, tác giả mong
muốn cung cấp cho người đọc một cách tổng thể các quy định về hoạt động thế
chấp phần vốn góp trong công ty. Trên cơ sở đó, nghiên cứu thực trạng, tình
hình thế chấp phần vốn góp tại Việt nam để có thể đánh giá được mức độ bảo vệ
sử của chủ nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm
của Đảng cộng sản Việt Nam. Theo đó, người viết đặt các vấn đề về thế chấp
phần vốn góp trong mối liên hệ, quan hệ với nhau, không nghiên cứu một cách
riêng lẻ đồng thời có sự so sánh với các quy định đã hết hiệu lực cũng như sắp
được áp dụng.
Một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng:
Phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải: Những phương pháp này
được sử dụng phổ biến trong việc làm rõ các quy định của pháp luật về giao dịch
bảo đảm nói chung và thế chấp phần vốn góp nói riêng.
Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh: Những phương pháp này
được người viết vận dụng để đưa ra ý kiến nhận xét quy định của pháp luật hiện
hành có hợp lý hay không, đồng thời nhìn nhận trong mối tương quan so với quy
định liên quan hoặc pháp luật của các nước khác…
Phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch: Được vận dụng để triển khai
có hiệu quả các vấn đề liên quan đến thế chấp phần vốn góp, đặc biệt là các kiến
5
nghị hoàn thiện. Cụ thể như trên cở sở đưa ra những kiến nghị mang tính khái
quát, súc tích người viết dùng phương pháp diễn dịch để làm rõ nội dung của
kiến nghị đó…
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả đạt được của luận văn góp phần làm sáng tỏ phương diện lý luận
trong khoa học pháp lý của vấn đề thế chấp phần vốn góp trong công ty. Cụ thể:
Xây dựng được khái niệm và đưa ra những tiêu chí cơ bản nhất để xác định thế
chấp tài sản vốn góp trong công ty, phân tích thực trạng điều chỉnh pháp luật đối
với vấn đề này, chỉ ra những bất cập của pháp luật và đưa ra phương hướng hoàn
thiện pháp luật về thế chấp phần vốn góp tại Việt Nam.
Ngoài ra, những giải pháp hoàn thiện pháp luật là cơ sở quan trọng để các
cơ quan chức năng trong phạm vi, thẩm quyền của mình sửa đổi, bổ sung, hoàn
và tài sản lưu động. Còn khi phân loại tài sản theo đặc tính cấu tạo của vật chất,
ta có tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Như vậy, phần vốn góp được xem như
là tài sản của các cá nhân, tổ chức dùng khi tham gia vào các mối quan hệ được
pháp luật kinh tế điều chỉnh.
Để có thể đưa ra một khái niệm cơ bản, từ điển tiếng Việt giải thích: "Thế
chấp phần vốn góp là việc dùng [tài sản] dùng làm vật bảo đảm, thay thế cho số
tiền vay nếu không có khả năng trả đúng kỳ hạn"[23]. Xuất phát từ ngữ nghĩa cơ
bản của từ thế chấp phần vốn góp như trên thì chúng ta có thể hiểu đó là một
cách thức mà bên có quyền và bên có nghĩa vụ đã lựa chọn để bảo đảm cho việc
thực hiện nghĩa vụ thông qua phần vốn góp trong công ty; giá trị của phần vốn
góp có khả năng thay thế cho nghĩa vụ bị vi phạm. Từ đó, ta nhận thấy, thế chấp
7
phần vốn góp là việc một bên dùng phần vốn góp trong công ty mà chủ thể này
đã tiến hành góp vốn bằng tài sản trước đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự đối với bên kia và nếu bên thế chấp phần vốn góp không thực hiện nghĩa vụ
dân sự thì sẽ phải chuyển giao phần vốn góp trong công ty đó cho bên nhận thế
chấp. Phần vốn góp trong công ty làm đối tượng của hoạt động thế chấp do bên
thế chấp đứng tên với tư cách là chủ sở hữu bị giới hạn quyền sở hữu (Quyền
định đoạt), các bên cũng có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế
chấp.
Thế chấp tài sản nói chung là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự đã xuất hiện từ thời La Mã cổ đại. Theo các học giả La Mã, Luật về Cầm
cố và Thế chấp là luật thứ hai xuất hiện sau Luật về quyền dụng ích. Hình thức
đầu tiên của cách thức bảo đảm có tên gọi là Fiducia Cum Creditore (còn được
gọi là bán đợ). Người có nghĩa vụ chuyển giao một phần quyền sở hữu đối với
một số tài sản của mình (quyền định đoạt - Abusus) cho bên có quyền, khi người
có nghĩa vụ thực hiện xong nghĩa vụ thì bên có quyền hoàn trả lại tài sản. Đây là
biện pháp bảo đảm chuyển giao tài sản cùng với chuyển giao quyền sở hữu vật.
Tại khoản 21 Điều 4 LDN giải thích về phần vốn góp như sau: “Phần vốn
góp là tổng giá trị tài sản của một thành viên đã góp hoặc cam kết góp vào công
ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh. Tỷ lệ phần vốn góp là tỷ lệ giữa phần
vốn góp của một thành viên và vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty hợp danh...”. Theo các quy định của pháp luật, chủ sở hữu phần vốn góp
(người góp vốn) có các quyền sau: Quyền tài chính: được phân chia lợi nhuận
của doanh nghiệp tương ứng với tỷ lệ giá trị phần vốn góp; gánh chịu phần lỗ
tương ứng với tỷ lệ giá trị phần vốn góp nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, khi
đang hoạt động cũng như khi doanh nghiệp kết thúc hoạt động; nhận phần tài
9
sản còn lại tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp sau khi đã thanh toán hết các nghĩa
vụ của doanh nghiệp khi doanh nghiệp bị giải thể, phá sản… Quyền phi tài chính
như quyền biểu quyết, quyền thông tin…Ngoài ra, phần vốn góp với tư cách là
một tài sản vô hình có thể giá trị được bằng tiền nên chủ sở hữu được tự do
chuyển giao trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên, việc chuyển giao này bị hạn chế
bởi một số quy định theo LDN nhằm bảo đảm sự hoạt động lành mạnh của các
doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Như vậy, phần vốn góp là một tài sản đặc biệt, được hình thành thông qua
việc góp vốn vào doanh nghiệp và tồn tại song song với sự tồn tại của doanh
nghiệp. Phần vốn góp không phải là tài sản cụ thể như những tài sản khi đem
góp vốn mà là các quyền và mang tư cách pháp nhân khi tham gia hoạt động dân
sự nói chung.Tài sản khi được người góp vốn đem góp vào doanh nghiệp theo
một trình tự, thủ tục nhất định thì nó đã trở thành tài sản thuộc sở hữu của doanh
nghiệp (pháp nhân). Do đó, cá nhân người góp vốn không còn quyền sở hữu đối
với tài sản đã góp vốn. Đổi lại, họ được công nhận là chủ thể sở hữu phần vốn
góp của công ty được ghi trong điều lệ, bút toán sổ ghi và có các quyền lợi như
đã nêu trên.
Đối với hoạt động thế chấp quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh
đưa ra khái niệm về thế chấp phần vốn góp mà chỉ đề ra quy định chung.[36]
Thông qua hoạt động của phần vốn góp trong công ty thì việc xác định phần
vốn góp là một quyền tài sản đã có nhiều ý nghĩa quan trọng. Trong số các văn
bản dưới luật, có thể dẫn chiếu tới Điều 10 của Hệ thống tiêu chuẩn thẩm định
giá Việt Nam (tiêu chuẩn số 12 về Phân loại tài sản) ban hành kèm theo Quyết
định số 129/2008/QĐ-BTC của Bộ Tài chính về việc ban hành 06 tiêu chuẩn
thẩm định giá ngày 31/12/2008. Theo đó quyền tài sản là một khái niệm pháp lý
11
bao hàm tất cả quyền, quyền lợi và lợi tức liên quan đến quyền sở hữu, nghĩa là
người chủ sở hữu được hưởng một hay những quyền lợi khi làm chủ tài sản đó.
Quyền sở hữu tài sản là một nhóm những quyền năng mà mỗi quyền năng có thể
tách rời với quyền sở hữu và chuyển giao trong giao dịch dân sự, bao gồm:
quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt. Quyền tài sản gắn với lợi ích
thu được từ quyền tài sản được gọi là tài sản thực và là đối tượng thẩm định giá.
Quyền tài sản là tài sản vô hình. Quy định này đã công nhận quyền tài sản là
một loại tài sản vô hình, khẳng định quyền sở hữu của chủ sở hữu quyền tài sản,
đồng thời nhấn mạnh tới khía cạnh lợi ích kinh tế của quyền tài sản.
Tuy nhiên, trên thực tế, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh
nghiệp là một khái niệm khá trừu tượng, phần vốn góp trong công ty là quyền tài
sản (tài sản vô hình) và do đó không thể giao được về mặt vật chất cho chủ nợ có
bảo đảm.[31] Hơn nữa, chúng thể thiện quyền chủ nợ của người nắm giữ (chủ sở
hữu) cổ phần hay phần vốn góp đối với công ty dẫn đến khó khăn trong việc áp
dụng chế định này. Do đó, thế chấp là biện pháp bảo đảm phù hợp nhất đối với
phần vốn góp và cổ phần bởi vì thế chấp không đặt ra yêu cầu chuyển giao tài
sản thế chấp cho bên nhận thế chấp và pháp luật Việt Nam công nhận thế chấp là
biện pháp bảo đảm duy nhất đối với quyền đòi nợ. Trong khi Luật doanh nghiệp
năm 2014 chỉ quy định về chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố,... đối với phần vốn
góp trong doanh nghiệp (khoản 6 Điều 50, điểm e khoản 1 Điều 182). Với quy
quyền và yếu tố trái quyền. Như vậy, trên cơ sở hợp đồng thế chấp phần vốn góp
trong công ty được xác lập (là quan hệ có tính trái quyền), bên nhận thế chấp
phần vốn góp tiến hành hoàn thiện quyền của mình trên tài sản thế chấp để có
quyền truy đòi và quyền ưu tiên thanh toán (là quan hệ có tính vật quyền). Như
14
vậy, thế chấp phần vốn góp là một biện pháp chứa đựng cả yếu tố trái quyền và
cả yếu tố vật quyền, chúng tương hỗ cho nhau để thực hiện tốt nhất chức năng
bảo đảm của mình mà không có sự đối lập với nhau.
Hợp đồng thế chấp phần vốn góp trong công ty chịu sự điều chỉnh của
BLDS, LDN và một số văn bản có liên quan. Đồng thời, hoạt động này còn có
mối quan hệ phụ thuộc về hiệu lực đối với hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ cần
được bảo đảm thực hiện.
Tuy nhiên, trong xu thế phát triển của nền kinh tế theo hướng minh bạch
hóa tình trạng pháp lý của tài sản, đăng ký công khai phải được coi là căn cứ để
xác định quyền ưu tiên giữa các chủ thể cùng có lợi ích liên quan đến thế chấp
phần vốn góp trong công ty đã và đang tạo tiền đề cho sự phát triển của doanh
nghiệp nói chung.
1.1.3. Đặc điểm pháp lý của tài sản thế chấp là phần vốn góp theo pháp
luật Việt Nam
Theo PGS. TS Ngô Huy Cương, thế chấp nói chung có bốn đặc điểm chủ
yếu như sau:
Đặc điểm thứ nhất: Thế chấp là một vật quyền.
Đặc điểm thứ hai: Thế chấp là một quyền phụ thuộc.
Đặc điểm thứ ba: Thế chấp đối kháng với người thứ ba.
Đặc điểm thứ tư: Thế chấp không thể bị phân chia. [Ngô Huy Cương, “Bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”, Bài giảng điện tử, 2015].
Xét từ các đặc điểm chung này cho thấy: (1) Thế chấp phần vốn góp là một
vật quyền phụ thuộc mặc dù phần vốn góp là tài sản vô hình. Thông thường tài
thành nên hoạt động thế chấp phần vốn góp của doanh nghiệp, bởi lẽ, chỉ có chủ
16
sở hữu của tài sản mới có quyền dùng tài sản của mình thế chấp bảo đảm cho
việc thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc của người khác.
Thêm vào đó, trong phạm vi quyền sở hữu của mình, chủ sở hữu của tài sản
thông qua hợp đồng thế chấp phần vốn góp trong doanh nghiệp có thể chuyển
giao quyền định đoạt tài sản cho bên nhận thế chấp trong thời hạn bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ và chỉ còn giữ lại quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản. Chỉ có chủ sở
hữu hay người được chủ sở hữu ủy quyền mới có thể thế chấp tài sản, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác. BLDS năm 2015 của Việt Nam khoản 1, Điều
295 quy định: “ Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ
trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu…” Điều đó có nghĩa là chỉ có
chủ sở hữu mới có quyền quyết định đưa tài (trong trường hợp này là phần vốn
góp trong công ty) tham gia vào hoạt động thế chấp và trường hợp khác theo quy
định của pháp luật Việt Nam. Tóm lại, việc xác định tài sản thế chấp đều xuất
phát từ những nguyên tắc cơ bản của chế định tài sản và quyền sở hữu.
Hai là, phần vốn góp trong công ty được đưa ra thế chấp là đối tượng của
hợp đồng thế chấp, là tài sản vô hình không thể chuyển giao cho các bên. Do vậy
phải tuân thủ các điều kiện nói chung của đối tượng hợp đồng là tính xác định
(cụ thể, chi tiết) và có thể chuyển giao trong các giao lưu dân sự. Tính xác định
của tài sản thế chấp thể hiện ở hai giác độ: tính xác định về pháp lý và tính xác
định về vật lý. Đối với tài sản là vật, các bên phải xác định được vật đó là động
sản hay bất động sản, người đang thực tế chiếm giữ là ai (nếu người chiếm giữ
không đồng thời là chủ sở hữu đối với tài sản thì họ có mối quan hệ như thế nào
với bên thế chấp), xác định được giá trị của tài sản đó. Ngoài ra, phần vốn góp
trong công ty phải đáp ứng tính xác định về chủ sở hữu của tài sản, tình trạng
pháp lý của tài sản như: Được LDN quy định rõ ràng; có thể chuyển giao trong
18
vốn góp trong công ty trong suốt thời hạn thế chấp hoặc phải đưa vào hợp đồng
các điều khoản thỏa thuận về hậu quả pháp lý của việc thay đổi tài sản góp vốn.
Nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của bên nhận thế chấp thì pháp luật
cũng cần có các quy định về thủ tục đăng ký thế chấp coi như là một cách thức
để công bố tình trạng pháp lý hạn chế đối với tài sản, để có tác dụng cảnh báo
đối với chủ thể khác có ý định xác lập các giao dịch tiếp theo.
Bốn là, phần vốn góp trong công ty khi đem ra thế chấp vẫn là tài sản vô
hình thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp. Chính bởi vậy, trong thời hạn thế
chấp, bên thế chấp vẫn có quyền sử dụng, quyền hưởng lợi, cho thuê, thế chấp
tiếp nếu có sự đồng ý từ bên nhận thế chấp hay thực hiện các giao dịch khác đối
với phần vốn góp này.
Điều 2398 thuộc quyền IV phần các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
của BLDS Pháp có quy định: "Động sản không thể trở thành đối tượng của thế
chấp" [12], điều đó trên thực tế có thể ảnh hưởng đến việc đưa phần vốn góp là
bất động sản ra thế chấp. Trong khi đó, tại Điều 369 của BLDS Nhật Bản [16]
thì lại quy định đối tượng của thế chấp là động sản. Tuy nhiên, nếu xét từ giác
độ kinh tế của tài sản và tính khả thi trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên
thế chấp thì một số loại động sản có tính đặc thù như phương tiện giao thông vận
tải cơ giới hay các hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh
cũng có thể trở thành đối tượng của hoạt động thế chấp.
Pháp luật của các nước theo hệ thống luật án lệ như Anh, Mỹ cũng đã phát
triển theo hướng động sản cũng có thể trở thành tài sản thế chấp thông qua việc
phát triển và hoàn thiện hệ thống đăng ký thế chấp động sản qua mạng internet.
BLDS năm 2005 và nay là BLDS 2015 của Việt Nam cũng quy định cả bất động
sản và động sản là phần vốn góp trong công ty đều có thể dùng khi tham gia vào
hoạt động thế chấp.
19