Những vấn đề pháp lý trong giai đoạn thành lập công ty theo pháp luật việt nam - Pdf 50

NGUYỄN QUANG TUYẾN

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
LUẬT KINH TẾ

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG GIAI ĐOẠN
THÀNH LẬP CÔNG TY THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

NGUYỄN QUANG TUYẾN
2015 - 2017
HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG GIAI ĐOẠN THÀNH LẬP
CÔNG TY THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

NGUYỄN QUANG TUYẾN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Người thực hiện

Nguyễn Quang Tuyến


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTCP

Công ty cổ phần

CTHD

Công ty hợp danh

CTTNHH

Công ty trách nhiệm hữu hạn

DNTN

Doanh nghiệp tư nhân

Bộ luật Dân sự

Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 do Quốc hội nước Cộng hòa

2005

xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 14/06/2005



Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 do Quốc hội nước Cộng

nghiệp 2014

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 26/11/2014

Luật Đầu tư 2005

Luật đầu tư số 59/2005/QH11 do Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 29/11/2005

Luật Đầu tư 2014

Luật đầu tư số 67/2014/QH13 do Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 26/11/2014


MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục chữ viết tắt
Mục lục
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
1.

Tính cấp thiết của đề tài ..................................................................................... 1

2.


1.1.3. Các đặc điểm pháp lý của giai đoạ
1.2.

Pháp



ng giai đ ạn hành ập c ng

c

g

...................................... 13

.................................................. 13

1.2.2. Pháp lu t về thủ tục thành l p công ty ............................................................... 17
1.2.3. Pháp lu t về giải quyết tranh chấ giai đoạn thành l p công ty ........................ 18


CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI VIỆT
NAM ............................................................................................................................. 20
2.1.

Th c

ạng pháp

ậ về giai đ ạn ch

ậ về giải

ế

ghiệp .................................................................. 34
anh chấp giai đ ạn hành ập c ng

.................. 34

ng giai đ ạn thành lập công ty vô hiệu ..................................... 39

CHƯƠNG 3. HO N THIỆN PH P

ẬT Ề GIAI ĐOẠN TH NH ẬP CÔNG

TY TẠI VIỆT NAM ..................................................................................................... 46
c n hiế phải h àn hiện pháp

3.1.
3.2.

Các giải pháp h àn hiện pháp
s

3.2.1.
ty

g

o


oạ

o g iệc á dụ g g ồ

a đế giai đoạ
3.2.4.
iệc

c

g cao
c

độ c
g

g

á

c

g

để giải

điề
ế




MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp hiế của đề ài
“Công ty” là một trong những chủ thể quan trọng của luật kinh tế và cũng là chủ

thể được quan tâm hàng đầu trong đời sống kinh tế - xã hội. Do đó, bất cứ người học
luật lẫn người làm ăn kinh doanh nào cũng có nhu cầu tìm hiểu pháp luật về các công
ty. Đây là một xu hướng chung và thiết yếu trong xã hội hiện đại.
Cần nhận thức rằng, hiểu về “công ty” không chỉ bó hẹp trong phạm vi từ lúc
công ty chính thức hoạt động đến khi chấm dứt số phận pháp lý bằng các thủ tục như
giải thể, phá sản… mà cũng cần một cái nhìn toàn diện và thấu suốt về giai đoạn thành
lập công ty, giai đoạn tiền đề tạo nên địa vị pháp lý cần thiết cho công ty sau này.
Hiện nay, các vấn đề cơ bản của giai đoạn thành lập công ty đã được quy định
khá cụ thể trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, các công trình nghiên cứu
có tính chất độc lập, chuyên sâu hay tổng quát về vấn đề này cũng tồn tại không ít. Thế
nhưng, thực tế ở Việt Nam, giai đoạn thành lập công ty dường như vẫn chưa có được
sự quan tâm cần thiết từ phía nhà làm luật và cả các chủ thể có mong muốn kinh
doanh. Điều luật sơ sài, thậm chí là thiếu vắng đã khiến cho giai đoạn này trở nên “lu
mờ” khi tìm hiểu về công ty nói chung và pháp luật về công ty nói riêng.
Thực trạng trên có lẽ xuất phát từ quan điểm cho rằng, giai đoạn thành lập công
ty là quan trọng nhưng không phải là tất cả đối với công ty, cũng không ảnh hưởng rõ
nét đến sự tồn tại và phát triển của công ty. Tuy nhiên, nếu giai đoạn này không được
chuẩn bị chu đáo thì liệu công ty có đứng vững trên thương trường? Nếu các vấn đề về
việc thành lập công ty không được xem xét một cách hợp lý thì một số tranh chấp sau
này của công ty có tìm được cách giải quyết thoả đáng? Đáng nói hơn, không có giai
đoạn thành lập công ty thì công ty có thể ra đời được không? Và rất nhiều những câu


sách báo tham khảo về chế định này được viết khá nhiều như Giáo trình Luật kinh tế Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội; Giáo trình Luật kinh tế - Đại học Luật Hà Nội;
Một số vấn đề về công ty và hoàn thiện pháp luật về công ty ở Việt Nam hiện nay Nguyễn Thị Thu Vân;…
Riêng những đề tài có liên quan trực tiếp hay gián tiếp về giai đoạn thành lập
công ty cũng không ít. Có thể kể đến một số công trình như: “Luật Thương mại Việt
Nam dẫn giải” của nhóm tác giả Lê Tài Triển (chủ biên), Nguyễn Vạng Thọ và
Nguyễn Tân; “Hợp đồng thành lập công ty ở Việt Nam” - Luận án tiến sĩ luật học của
Ngô Huy Cương; “Công ty vô hiệu” - Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Hồng
2


Minh;… Nghiên c u so sánh pháp lu t về thành l p doanh nghiệ ” - Luận văn Ths Luật
của Nguyễn Thị Phương Thảo năm 2010; “P á

t Việt Nam về góp vốn thành l p

doanh nghiệ ” Luận văn Ths Luật của Nguyễn Thị Thu Hà năm 2013; “P á
đă g ký ki

doa

ở Việt Nam thực trạ g

ơ g

t về

ớng hoàn thiệ ” Luận văn

Ths Luật của Trần Tố Uyên năm 2005; Cải cách thủ tục thành l p doanh nghiệp ở Việt
Nam trong chặ g đ




Nghiên cứu các vấn đề pháp lý đặc thù trong giai đoạn thành lập công ty.

3




Phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về giai đoạn thành lập
công ty.



Kiến nghị một số định hướng xây dựng khung pháp luật về giai đoạn thành lập
công ty.

4.

Giới hạn phạ

vi nghiên cứ

Chế định pháp luật về công ty là một chế định rộng, liên quan đến nhiều yếu tố
pháp lý lẫn thực tiễn như: các loại hình công ty, các học thuyết pháp lý về bản chất
công ty, thành lập, hoạt động, giải thể hoặc phá sản công ty… Luận văn không có tham
vọng nghiên cứu toàn bộ chế định này mà chỉ tập trung vào giai đoạn thành lập công ty
để làm rõ các vấn đề có tính nguyên tắc cần thiết cho việc xây dựng và hoàn thiện các
quy định pháp luật trong lĩnh vực này. Đặc biệt, luận văn sẽ đi sâu hơn vào việc phân

hợp, so sánh để làm rõ vấn đề.
6.

Ý nghĩa của đề ài
Hiện nay, ở nước ta các quy định pháp lý điều chỉnh vấn đề về việc thành lập

công ty còn rất thiếu vắng, có chăng chỉ là những quy định rời rạc và có phần thiếu sót,
chưa thể hiện được cái nhìn tổng quan và thấu đáo về vấn đề này.
Luận văn kế thừa những công trình nghiên cứu đã có về các vấn đề liên quan nhưng
vẫn phần nào thể hiện được tính mới của đề tài. Đặc biệt trong bối cảnh chưa có một
công trình nào trùng lặp hoàn toàn về mặt ý tưởng và cách thể hiện, đề tài mang ý
nghĩa lý luận cho việc xây dựng những quy phạm pháp luật đầy đủ và toàn diện hơn,
làm cơ sở lý luận cho việc áp dụng trong thực tiễn thành lập và giải quyết tranh chấp
về công ty. Những phân tích và kiến nghị của đề tài hy vọng sẽ có ý nghĩa thiết thực
trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật công ty của Việt Nam, phù hợp với
luật pháp quốc tề và đáp ứng nhu cầu thời đại.
7.

Bố cục

ận văn

Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn có kết cấu 3 chương:
5


Chương 1: Những vấn đề chung về pháp luậ

ng giai đ ạn thành lập


Khái niệ

và ản chấ pháp ý của c ng

Công ty là một định chế quan trọng trong thời kỳ cạnh tranh toàn cầu, không chỉ
tác động đến đời sống kinh tế - xã hội mà còn là vấn đề được quan tâm đặc biệt trong
khoa học pháp lý. Có rất nhiều lý thuyết lý giải cho sự xuất hiện của công ty. Tuy
nhiên, dưới giác độ kinh tế và luật pháp, có quan điểm chung cho rằng “công ty xuất
hiện bởi vì đó chính là “công cụ” giúp các nhà đầu tư giảm thiểu được rủi ro và chi phí
giao dịch trong thực hiện hoạt động kinh doanh” [3]. Ngày nay, công ty được xem là
loại hình doanh nghiệp phổ biến và được ưa chuộng trong trên thế giới.
1.1.1. Khái niệm công ty
Công ty xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XIX ở châu Âu. Tuỳ từng cách tiếp
cận, khái niệm công ty cũng được nhìn nhận khác nhau.
* Nhìn từ góc độ kinh tế, công ty là một tổ chức kinh tế, là doanh nghiệp được
thành lập nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận và lấy hoạt động kinh doanh làm ngành
nghề chính. Công ty chỉ mang tính chất như một vỏ bọc hình thức để hợp pháp hoá các
giao dịch, chi phí và hoạt động kinh doanh của thành viên công ty, “là một cái áo
khoác để thực hiện ý tưởng kinh doanh” [25, tr. 250].
Dưới góc độ kinh tế luật, Ronald Coase – nhà kinh tế học nổi tiếng đã có một
khái niệm trở thành kinh điển về doanh nghiệp. Coase phát biểu: “doanh nghiệp là một
sự thể hiện cao cấp của hợp đồng giữa các thành viên của doanh nghiệp đó”, và rằng –
“các thành viên cần phải tập hợp lại với nhau để chung vốn, chung sức cạnh tranh”
[23, tr.152]. Khi doanh nghiệp được thành lập, chi phí giao dịch giữa các thành viên
cũng như giữa các doanh nghiệp với nhau cũng sẽ giảm, từ đây sức cạnh tranh tăng
7


lên. Như vậy, chi phí giao dịch chính là vấn đề cốt lõi về mặt kinh tế của khái niệm

trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, gọi chung là công ty, là doanh nghiệp trong
đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với
phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần
vốn góp của mình góp vào công ty”. Có thể thấy ở giai đoạn này, luật công ty của Việt
Nam chỉ nhìn nhận hai loại hình chủ yếu được gọi là công ty đó là CTTNHH và
CTCP, trong khi hợp danh là một loại hình công ty đã tồn tại lâu đời và được ghi nhận
ở hầu khắp các quốc gia lại chưa được đề cập đến. Đây có thể xem là một điểm thiếu
sót của các nhà làm luật, dẫn đến khái niệm về công ty bị bó hẹp trong phạm vi các
loại hình.
Hiện nay, khái niệm “công ty” không còn được đề cập trong các văn bản luật
như Luật Doanh nghiệp hay Luật Thương mại. Các nhà làm luật xem xét công ty là
một loại hình doanh nghiệp và chỉ đưa ra khái niệm tổng quát về doanh nghiệp. Theo
đó, “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn
định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện
các hoạt động kinh doanh”. Định nghĩa này cho thấy chỉ những chủ thể kinh doanh
thoả mãn những điều kiện trên mới có tư cách doanh nghiệp. Công ty là một loại hình
doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ những điều kiện trên, và còn có những đặc điểm đặc thù:
(i) là pháp nhân, (ii) tách biệt và là chủ thể pháp lý độc lập với chủ sở hữu, (iii) quản lý
tập trung và thống nhất [3, tr.6].
1.1.2. Bản chất pháp lý của công ty
Xét về bản chất pháp lý của công ty, hiện có nhiều quan điểm khác nhau. Các
nước theo truyền thống Civil Law (Họ pháp luật La Mã - Đức) xem bản chất pháp lý
của công ty là hợp đồng. Trong khi các nước Common Law (Họ pháp luật Anh Mỹ),

9


điển hình là Hoa Kỳ, phát triển rất nhiều học thuyết khác nhau về bản chất pháp lý của
công ty. Có thể kể ra một số học thuyết như sau: Học thuyết hư cấu hay thực thể nhân
tạo – xem công ty là một pháp nhân hay một thực thể nhân tạo được thiết lập bởi nhà

Tối cao John Marshall “là một thứ được người ta tạo ra, không thấy được, không sờ
được, và chỉ tồn tại theo những quy định của luật pháp. Thuần tuý là một sản phẩm của
luật pháp. Nó chỉ mang những tính chất mà văn bản lập nên nó đặt vào nó, hoặc được
nêu một cách rõ ràng, hoặc vì có liên quan đến sự tồn tại của chính nó. Những tính
chất đó đã được tính toán kỹ để giúp nó đạt mục tiêu mà vì đó nó được lập ra. Một
trong số những tính chất quan trọng nhất của nó là tính bất tử, và - nếu có thể nói được
– tính con người; một tính chất mà nhờ đó sự kế tục vĩnh cửu của nhiều người được coi
như nhau, và do đó có thể hành động như một con người”.
Ở Việt Nam hiện nay, hầu hết các luật gia coi công ty là một chủ thể kinh
doanh, nghĩa là một “định chế”. Khái niệm định chế được hiểu là “tổng thể các quy tắc
pháp lý có tính cách bắt buộc đối với một nhóm người theo mục đích xác định; quyền
lợi riêng phụ thuộc vào mục đích xã hội theo đuổi” [2, tr.16]. Điều này thể hiện rõ nét
trong các định nghĩa về công ty tại Luật Công ty 1990 và định nghĩa chung về doanh
nghiệp trong Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp 2005. Tuy nhiên, trong
các Bộ luật dân sự của các chế độ cũ ở Việt Nam lại có một chương riêng về khế ước
lập hội, đồng thời trong khái niệm về công ty cũng xác định rõ bản chất pháp lý của
công ty hay thương hội là hợp đồng.
Có thể nói mỗi cách tiếp cận đều có cái lý và mặt tích cực riêng và có thể đưa ra
những dấu hiệu nhận diện cơ bản sau về công ty:
ấ c g

ột chủ thể pháp lý độc

, là “người” do pháp luật tạo ra.

“Luật pháp đã trao cho công ty quyền năng giống như một cá nhân thực hiện các công
việc kinh doanh cho chính mình” [3, tr.7]

11


toàn quyền sử dụng mà không chịu sự chi phối, kiểm soát của bất kỳ ai. Tài sản đó
phải hoàn toàn tách biệt với tài sản của các cá nhân là thành viên nên các thành viên
chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn góp vào công ty trừ ngoại lệ trách
nhiệm tài sản của thành viên hợp danh công ty hợp danh.
a c
a

g

đ ợc
a


c

g

ả g ự do ý c í của các

oạ độ g

ục i

c

i

g

Công ty (thuộc sở hữu của nhiều thành viên) được hình thành dựa trên nền tảng


ng giai đ ạn hành ập c ng

Sự liên kết để tạo nên công ty thông thường gồm ba bước: (i) Phát hiện ra cơ
hội kinh doanh; (ii) Điều tra nhằm xác định tính khả thi của hoạt động kinh doanh dự
kiến; Hội họp cùng nhau góp sức người, sức của để tổ chức hoạt động kinh doanh và
(iii) Tiến hành các thủ tục thành lập với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để khai sinh
tư cách pháp lý cho công ty. Những quan hệ thuộc bước (i) và (ii) được thể hiện dưới
dạng hợp đồng. Các giao dịch trong ba bước trên được gọi là các giao dịch hay thoả
thuận tiền công ty.
Pháp luật trong giai đoạn thành lập công ty là tổng hợp những quy phạm pháp
luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các thành viên công ty với nhau, giữa thành
1

Tr 2 Giáo trình: Một số hợp đồng đặc thù trong hoạt động thương mại và kỹ năng đàm phán, soạn thảo, Trường
Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2012.

13


viên công ty với các cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thỏa thuận
cùng nhau góp vốn, tiến hành các công việc thành lập công ty và đăng ký thành lập
công ty.
Theo đó, pháp luật thành lập trong giai đoạn thành lập công ty gồm ba nội dung
sau:
Thứ nhất, pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ giữa thành viên công ty, giữa
thành viên công ty với những người có liên quan để chuẩn bị các thủ tục thành lập
công ty (gọi chung là pháp luật về các giao dịch trong giai đoạn trước đăng ký kinh
doanh).
Thứ hai, pháp luật điều chỉnh giao dịch giữa người thành lập công ty với cơ

cũng bao gồm những quyền và nghĩa vụ của từng bên trong quá trình chuẩn bị thành
lập công ty cho đến khi bắt đầu tiến hành đăng ký kinh doanh và ở giai đoạn công ty
mới thành lập, xử lý trường hợp công ty không thể thành lập được, thậm chí cả những
vấn đề mà điều lệ mẫu của cơ quan cấp phép không quy định như các thoả thuận
chuyển nhượng vốn, vấn đề bảo mật thông tin giữa các nhà đầu tư, những cam kết
riêng lẻ khác…
Giao d ch hỗ trợ cho việc thành l p công ty: Đây là loại giao dịch không trực
tiếp ghi nhận những quyền lợi và trách nhiệm cho việc khai sinh công ty mà chỉ mang
tính chất bổ trợ, nghĩa là thực hiện các hoạt động hành lang, vận động và chuẩn bị cho
quá trình thành lập công ty, cũng như tạo cơ sở cho hoạt động của công ty sau này.
Thông thường loại giao dịch này được thể hiện dưới hình thức các hợp đồng giữa sáng
lập viên với bên thứ ba. Đó có thể là hợp đồng thuê dịch vụ thành lập công ty, thuê nhà
xưởng, thuê văn phòng, thuê nhân công…
Theo lý thuyết chung về luật tư, nghĩa vụ có hai nguồn gốc phát sinh căn bản là
hành vi pháp lý và sự kiện pháp lý. Hành vi pháp lý chính là giao dịch. Đây là việc tạo
lập hậu quả pháp lý (quyền và nghĩa vụ) bởi ý chí của đương sự. Giao dịch lại được
chia thành hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương. Điều này có nghĩa giao dịch
trong giai đoạn thành lập công ty cũng bao gồm các loại hợp đồng và cả hành vi pháp
lý đơn phương trong thời kỳ trước đăng ký kinh doanh của công ty.
Mặt khác, các giao dịch trong giai đoạn thành lập công ty với mục đích tạo ra
một thực thể kinh doanh phải đảm bảo cân đối được các quyền và lợi ích giữa các
thành viên giao kết hợp đồng với nhau, giữa thành viên công ty với công ty, và giữa
công ty với cộng đồng. Sự đảm bảo này sẽ khó thực hiện được nếu không có một cơ
chế điều tiết hợp lý. Lúc này, pháp luật chính là công cụ hữu hiệu nhất.

15


Như vậy, pháp luật điều chỉnh giao dịch trong giai đoạn thành lập công ty phải
bao quát, tổng hợp được các trường hợp phát sinh cả trong khoa học pháp lý lẫn thực

buộc bất kỳ ai vào một nghĩa vụ cụ thể trong một công ty cụ thể ngoài ý chí của họ”
[25, tr.12].
Tóm lại, phạm vi điều tiết của pháp luật đối với giao dịch trong giai đoạn thành
lập công ty khá rộng, bao gồm những quy định liên quan cả trong luật dân sự, thương
mại, và hợp đồng trên nền tảng của thuyết tự do ý chí.
1.2.2.

háp l

t

thủ tục th nh l p công ty

Thành lập công ty bao gồm hai giai đoạn chính là các công việc chuẩn bị cho
việc đăng ký kinh doanh và thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh, trong đó giai đoạn
đăng ký kinh doanh được xem là giai đoạn mang tính thủ tục rõ nét nhất và cũng là
giai đoạn căn bản để chính thức “khai sinh” và công khai công ty trên thực tế.
Thủ tục thành lập công ty trước hết cũng được điều chỉnh bởi pháp luật chung
về công ty. Bên cạnh đó, đây là giai đoạn đề cao tính hình thức nên thường có các văn
bản dưới luật hướng dẫn cụ thể về trình tự thủ tục và các loại giấy tờ hồ sơ cụ thể. Sự
điều chỉnh này là cần thiết nhằm nâng cao tính chặt chẽ của pháp luật và tạo điều kiện
cho các tổ chức, cá nhân tiến hành đăng ký kinh doanh thuận lợi, nhanh chóng.
Dù ở bất cứ hệ thống pháp luật nào, ở giai đoạn và thời kỳ nào, các vấn đề về
đăng ký kinh doanh, thành lập công ty là không thể thiếu khi đề cập đến chế định công
ty nói riêng và pháp luật về thương mại nói chung. Mỗi nước đều có những quy định
cụ thể nêu rõ trình tự đăng ký kinh doanh, hồ sơ thành lập công ty, các thủ tục liên
quan để công khai doanh nghiệp. Các quy định này thường được điều chỉnh cụ thể
trong Luật Công ty, với một số nước khác là Luật Doanh nghiệp, hay ở nhiều nước là
Luật Thương mại. Ngoài ra, các văn bản hướng dẫn thi hành những luật kể trên, các
Nghị định, Thông tư, Quyết định quy định chi tiết về đăng ký kinh doanh cũng là

chính, các Nghị định, thông tư và văn bản pháp luật khác. Theo đó, các hình thức giải
quyết tranh chấp thường là hoà giải, trọng tài và tòa án. Các hình thức xử phạt và giải
quyết tranh chấp cũng ở những mức và những cách thức khác nhau tuỳ từng vụ việc,
đối tượng. Việc giải quyết tranh chấp ở nhiều nước không chỉ dựa trên các quy định
pháp luật để tìm ra hướng xử lý phù hợp mà còn dựa trên một nguồn luật rất quan
trọng là án lệ. Thực tế, việc sử dụng án lệ sẽ khiến cho các tranh chấp được giải quyết

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status