ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THU TRANG
TIẾP NHẬN LUẬT LA MÃ TRONG VIỆC
XÂY DỰNG CHẾ ĐỊNH VẬT QUYỀN Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THU TRANG
TIẾP NHẬN LUẬT LA MÃ TRONG VIỆC
XÂY DỰNG CHẾ ĐỊNH VẬT QUYỀN Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
1.1. Khái quát chung về Luật tƣ La Mã: ........................................................... 9
1.1.1. Hoàn cảnh ra đời Luật La Mã: ................................................................. 9
1.1.2. Hệ thống luật tƣ La Mã: .......................................................................... 10
1.1.3. Đối tƣợng điều chỉnh của Luật tƣ La Mã .............................................. 11
1.1.4. Nguồn của Luật tƣ La Mã:...................................................................... 13
1.2. Khái quát chung về vật quyền trong Luật La Mã: .................................. 16
1.2.1. Khái niệm và bản chất vật quyền: .......................................................... 16
1.2.2. Phân loại vật quyền trong Luật La Mã : ............................................... 19
1.3. Sự tiếp nhận vật quyền trong pháp luật dân sự :..................................... 22
CHƢƠNG 2 : CHẾ ĐỊNH VẬT QUYỀN TRONG LUẬT TƢ LA MÃ: ..... 25
2.1. Vật trong Luật La Mã: ............................................................................... 25
2.2. Chiếm hữu: .................................................................................................. 27
2.2.1. Khái niệm:................................................................................................. 27
Như vậy, thuật ngữ “Chiếm hữu” có thể được hiểu như sau: Chiếm hữu thực tế
đối với vật là thực tế có vật, kiểm soát và chi phối vật đó. Trên cơ sở chiếm hữu
thực tế, hình thành sở hữu và quyền sở hữu [16; tr62]. ....................................... 29
2.2.2. Nội dung: ................................................................................................... 30
2.3. Quyền sở hữu:.............................................................................................. 34
2.3.1. Khái niệm:................................................................................................. 34
2.3.2. Nội dung: ................................................................................................... 37
2.4. Quyền đối với tài sản của ngƣời khác: ...................................................... 44
2.4.1. Khái niệm:................................................................................................. 44
2.4.2. Nội dung: ................................................................................................... 45
2.5. Quyền cầm cố: ............................................................................................. 52
2.5.1. Khái niệm:................................................................................................. 52
2.5.2. Nội dung: ................................................................................................... 55
1
lớn đế n các hệ thống luật trên thế giới và việc nghiên cứu Luật La Mã có vai trò
hết sức quan trọng.
Vật quyền là một chế định cơ bản của Luật tư La Mã, có ảnh hưởng đến
hầu hết các chế định khác của luật dân sự. Khái niệm vật quyền đã tồn tại từ thời
kỳ La Mã, là một phần không thể thiếu trong hầu hết các Bộ luật Dân sự. Ngay
từ Bộ luật Napoléon (1804) - BLDS đầu tiên trên thế giới đến thời hiện đại,
BLDS của Nhật Bản, BLDS của Đức cũng đều quy định về vật quyền.
Pháp luật Việt Nam hiện hành cũng đã có quy định về vật quyền, cụ thể là
phần “Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản” tại BLDS 2015. BLDS Việt
Nam 2015 đã ghi nhận một số quyền tương tự như các quyền đối vật chính trong
luật La Mã. Thế nhưng, khái niệm vật quyền chưa được quy định chính thức.
Cũng có thể thấy các vật quyền khác ngoài quyền sở hữu ít được chú trọng đến.
Điều này có lẽ có lý do từ sự ảnh hưởng của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung,
quan liêu bao cấp trước đây, đó là không tạo ra được tiền đề cho các loại vật
quyền khác ngoài quyền sở hữu ra đời, tồn tại và phát triển.
3
Sự thiếu vắng lý thuyết về vật quyền có thể gây ra một số khó khăn, hạn
chế trong việc áp dụng pháp luật và trong thực tiễn. Hơn nữa Việt Nam đang
trong giai đoạn đổi mới, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, việc
ghi nhận chế định vật quyền vào hệ thống pháp luật giúp pháp luật Việt Nam tìm
được tiếng nói chung đối với pháp luật các nước trên thế giới. Luật La Mã, đặc
biệt là chế định vật quyền của Luật La Mã là một nguồn tham khảo quan trọng
mà Việt Nam có thể sử dụng trong quá trình xây dựng chế định vật quyền.
Vì vậy, theo tác giả, nghiên cứu một cách sâu sắc, kĩ lưỡng và có hệ thống
về vật quyền trong Luật La Mã và tiếp nhận chế định này vào hệ thống pháp luật
Việt Nam là cần thiết.
Bởi các lẽ đó tác giả lựa chọn đề tài: “Tiếp nhận Luật La Mã trong việc
Việt Nam hiện hành, chỉ ra một số điểm chưa thực sự hợp lý trong luật Việt
Nam. Trên cơ sở đó nêu ra một số kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện chế
định vật quyền ở Việt Nam.
3.2. Mục tiêu cụ thể:
Để đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu tổng quát, luận văn có các nhiệm
vụ nghiên cứu cụ thể dưới đây:
- Nghiên cứu khái quát về nhà nước La Mã và Luật La Mã cụ thể là hoàn
cảnh xuất hiện Luật La Mã, khái niệm Luật La Mã, hệ thống Luật La Mã, các
loại nguồn của Luật La Mã;
- Nghiên cứu chế định vật quyền trong Luật tư La Mã, đi sâu làm rõ các
vấn đề liên quan đến vật quyền trong Luật La Mã bao gồm các quy định về vật,
về quyền chiếm hữu, quyền sở hữu, quyền đối với tài sản của người khác;
- Phân tích và đánh giá thực trạng về chế định tương tự trong pháp luật
dân sự của Việt Nam hiện hành;
5
- Nêu sự cần thiết xây dựng chế định vật quyền cũng như một số giải pháp
hoàn thiện pháp luật về vật quyền ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở tiếp nhận chế
định vật quyền trong Luật La Mã.
4 . Tính mới và những đóng góp của đề tài:
Luận văn nghiên cứu , phân tích các quy định có liên quan đế n vật quyền
trong luật pháp La Mã.
Đồng thời luận văn còn tìm hiểu các quy định có liên quan đế n vật quyền
được quy định trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành (BLDS 2015), từ đó
chỉ ra một số hạn chế của những quy định pháp luật về vật quyền trong Bộ luật
dân sự Việt Nam 2015, nhằm đưa ra kiến nghị hoàn thiện chế định vật quyền
trong Bộ luật này trên cơ sở kế thừa Luật La Mã.
Luận văn có ý nghĩa thiết thực, là nguồn tài liệu cho mọi người tham khảo
Phương pháp phân tích: phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu các
quy định pháp luật La Mã và các quy định pháp luật Việt Nam về chế định vật
quyền.
Phương pháp so sánh pháp luật: phương pháp này được sử dụng chủ yếu
để là rõ các vấn đề của pháp luật Việt Nam. Từ đó luận văn đưa ra các kiến nghị
phù hợp.
Phương pháp tổng hợp: dựa trên những phân tích, đánh giá về chế định vật
quyền trong pháp luật La Mã và pháp luật Việt Nam hiện hành, luận văn đưa ra
kết luận về sự cần thiết tiếp nhận chế định vật quyền trong luật La Mã vào hệ
thống pháp luật Việt Nam và kiến nghị về việc tiếp nhận.
7
7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề khái quát chung về vật quyền trong Luật tư La
Mã và sự tiếp nhận vật quyền trong pháp luật dân sự.
Chương 2: Chế định vật quyền trong Luật tư La Mã.
Chương 3: Kiến nghị liên quan đến việc xây dựng chế định vật quyền ở
Việt Nam hiện nay trên cơ sở tiếp nhận Luật La Mã.
8
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẬT QUYỀN
TRONG LUẬT TƢ LA MÃ VÀ SỰ TIẾP NHẬN VẬT QUYỀN TRONG
PHÁP LUẬT DÂN SỰ:
1.1. Khái quát chung về Luật tƣ La Mã:
mã cổ đại - luật pháp La mã chiếm hữu nô lệ. Đối tượng nghiên cứu luật La mã
là những chế định quan trọng về quyền tài sản, các quan hệ gia đình...” [9; tr8].
Vào thời kỳ cộng hòa, Luật La Mã đã có sự phân biệt giữa luật công (ius
publicum) và luật tư (ius privatum). “Theo luật gia Upian thì luật công La Mã là
những quy định nhằm điều chỉnh cơ cấu tổ chức nhà nước La Mã, còn tư pháp
La Mã là những quy định về địa vị cá nhân cùng các quyền và nghĩa vụ của họ
trong quan hệ xã hội về tài sản và về nhân thân” [16; tr28,29].
1.1.2. Hệ thống luật tƣ La Mã:
Hệ thống luật tư La Mã (ius privatum) là sự tổng hợp ba hệ thống luật: luật
dành riêng cho công dân La Mã (ius civile hay luật Quiritium), luật của tất cả
công dân trên lãnh thổ La Mã (ius gentium) và luật của các quan (ius
praetorium). Ba hệ thống luật này song song tồn tại và có sự ảnh hưởng lẫn nhau.
Cả ius civile và ius gentium đều tập trung điều chỉnh những quan hệ giữa các
công dân với nhau. “Trong ius civile gồm có các văn bản của Đại hội nhân dân
ban hành (thời cộng hoà gọi là Lex, thời đế chế gọi là Constitucia), của Viện
nguyên lão ban hành thì gọi là Senatuconstum, các văn bản của các quan praetor
ban hành gọi là ius praetorium, các văn bản của quan edill ban hành gọi là
edicta”[19; tr12]. Ius civile là luật chỉ dành riêng cho công dân La mã. Những
người ở nơi khác di cư đến hoặc dân cư ở các vùng bị xâm lược không thuộc
Populus Romanus (dân La Mã chính thống). “Vào thời cổ đại, danh dự của công
10
dân La Mã như một biểu trưng tự hào cho những ai cư trú ở La Mã. Do vậy khi
có tranh chấp phát sinh người La Mã được yêu cầu xét xử theo luật ius civile hay
còn gọi là luật Quiritium” [16; tr15,16].
Ius gentium là luật dành cho tất cả công dân sống trên lãnh thổ La Mã, có
nội dung khác biệt so với ius civile. Ius gentium ra đời đã khắc phục được những
hạn chế của ius civile do không theo kịp những quan hệ của xã hội ngày một
đồng; quan hệ về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; quan hệ về thừa kế.
Chế định trái quyền trong Luật La Mã quy định về nghĩa vụ và hợp đồng,
bao gồm các vấn đề: “căn cứ xác lập nghĩa vụ theo hợp đồng (ex contractu),
nghĩa vụ ngoài hợp đồng (ex delictu); phân biệt nghĩa vụ phát sinh từ chuẩn khế
ước, từ chuẩn vi phạm; điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, mức
bồi thường do hành vi vi phạm hợp đồng và vi phạm quyền tư pháp khác của
công dân” [16; tr23]. Các loại hợp đồng thông dụng cũng được quy định cụ thể
trong chế định này.
Chế định thừa kế của Luật La Mã quy định hai hình thức thừa kế là thừa
kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.
Ngoài ra, chế định vật quyền cũng là một chế định quan trọng thuộc sự
điều chỉnh của tư pháp La Mã. Chế định vật quyền trong Luật La Mã quy định
về các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu và các quyền của người khác không
phải là chủ sở hữu trên tài sản (quyền đối với tài sản của người khác). Nội dung
của chế định sở hữu trong Luật La Mã đã phản ánh một cách tương đối đầy đủ
các quan hệ liên quan đến sở hữu phát sinh trong đời sống thực tế của xã hội La
Mã thời bấy giờ. Luật La Mã quy định về các căn cứ phát sinh, chấm dứt quyền
sở hữu tài sản, quyền sở hữu tài sản của người khác theo thời hiệu; phát sinh
12
quyền sở hữu trên cơ sở chế tạo, liên kết hỗn hợp vật của nhiều chủ sở hữu; hạn
chế về quyền sở hữu. Luật La Mã cũng quy định về chiếm hữu trong sự phân
biệt với quyền sở hữu mặc dù trong hầu hết các trường hợp chủ sở hữu đều là
người chiếm hữu đồ vật. Bên cạnh đó chế định vật quyền cũng bao gồm cả
những quy định về quyền đối với tài sản của người khác.
Như vậy có thể thấy, pháp luật La Mã điều chỉnh chủ yếu là các quan hệ
thuộc lĩnh vực luật tư xoay quanh các quan hệ giao dịch giữa các cá nhân với
nhau liên quan đến các quyền về nhân thân và tài sản. Trong các quan hệ đó,
1.1.4.2. Đạo luật:
Nói về lịch sử phát triển của Luật La Mã, ngay trong các chế định của
Justinian đã có sự phân biệt giữa luật thành văn (ius csriptum) và luật không
thành văn (ius non csriptum). Luật thành văn là đạo luật và những quy phạm do
các cơ quan quyền lực đặt ra và ghi nhận bằng các văn bản cụ thể [9; tr14]. Đạo
luật đã được sử dụng thay thế cho thường luật không thành văn khi thường luật
không còn là hình thức phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Thời kỳ cộng hòa, các đạo luật được Hội nghị nhân dân thông qua được
gọi là leges. Tuy số lượng các đạo luật thời kỳ này chưa nhiều nhưng chúng cũng
đã đóng một vai trò quan trọng đối với việc ổn định và phát triển kinh tế - xã
hội.
Thời kỳ quân chủ, nhà vua ra các sắc dụ (Constitutio) có tính chất bắt
buộc một tầng lớp hoặc toàn thể nhân dân La Mã phải tuân theo. Các sắc dụ thể
hiện ở các dạng: “chiếu chỉ cho các thần dân; sắc chỉ cho từng vụ việc; sắc dụ
cho các quan lại và sắc lệnh giải quyết các tranh chấp” [16; tr15].
14
1.1.4.3. Sắc dụ của các quan chấp chính:
Sắc dụ của các quan chấp chính (Edict magistratum) có tính chất bắt buộc
và hiệu lực của nó kéo dài theo nhiệm chức của quan.
Trong thực tiễn xét xử, một số quy phạm pháp luật cổ không còn phù hợp
đã được điều chỉnh hoặc thay đổi. Điều này đã khắc phục được các hạn chế của
luật civile nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, giải quyết các vấn đề
mới phát sinh trong xã hội mà luật chưa thay đổi kịp để điều chỉnh.
Hoạt động sáng tạo luật pháp của các quan tòa đã làm xuất hiện một hệ
thống các quy phạm pháp luật mới mẻ có tên gọi là ius honorarium (từ honores
dùng để chỉ những người có chức sắc) hoặc còn gọi là ius praetorium – Luật
quan. Hoạt động sáng tạo luật pháp của các quan tòa còn dẫn đến sự xuất hiện
1.2.1. Khái niệm và bản chất vật quyền:
Thông thường, luật dân sự là khung pháp lý điều chỉnh các quan hệ tài sản
được phân chia thành hai loại: (1) quan hệ giữa con người với nhau hay chính là
quan hệ nghĩa vụ được gọi là trái quyền và (2) quan hệ giữa con người với vật
được gọi là vật quyền. Chế định nghĩa vụ luôn bao gồm trái quyền, còn vật
quyền thuộc phạm vi của chế định tài sản. Nói một cách đơn giản về vật quyền
thì vật quyền cho phép người có quyền được thực hiện hành vi một cách trực
tiếp, không cần phải thông qua trung gian tác động lên tài sản là đối tượng của
vật quyền đó. Vật quyền dùng để chỉ mối quan hệ giữa một người xác định là
chủ thể quyền với một vật cụ thể là đối tượng của quyền.
Vật quyền là quyền của một người đối với vật, cho phép người đó được
phép tác động trực tiếp lên vật nhằm đáp ứng các nhu cầu của mình. Vật quyền
16
không chỉ cho phép người có quyền được tác động lên chính đối tượng của vật
quyền, mà theo Edward C.Abell Jr thì vật quyền còn được xem như một công cụ
chống lại tất cả những người khác trên thế giới. Khái niệm về vật quyền cũng
được PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện xây dựng như sau: “Vật quyền. Tính chất trực
tiếp và tức thì của việc thực hiện vật quyền được thể hiện ngay trong cách thức
tác động bằng hành vi vật chất (cả hành vi pháp lý) của chủ thể lên đối tượng của
quyền”.
Quan hệ vật quyền hình thành từ hai yếu tố: chủ thể quyền và đối tượng
của quyền. Chủ thể quyền bao giờ cũng là một người xác định, có quyền loại trừ
với tất cả những người còn lại trong quan hệ với đối tượng của vật quyền cũng là
một vật xác định. Chủ thể của vật quyền được thực hiện đầy đủ các quyền năng
đối với vật cũng như quyền tác động trực tiếp lên vật bao gồm quyền kiểm soát,
sử dụng, được lợi từ vật mà không cần thông qua bất cứ một người nào khác.
“Tính chất trực tiếp và tức thì của việc thực hiện vật quyền được thể hiện ngay
quyền nhất định trên vật thuộc sở hữu của mình. Những người không phải chủ sở
hữu tài sản cũng có thể có một số quyền năng của chủ sở hữu. Khi chủ sở hữu
cho phép một người được sử dụng và thu hoa lợi từ vật thì người này có quyền
hưởng dụng, nếu được sử dụng vật mà không hưởng hoa lợi thì chỉ có quyền sử
dụng. Ngoài ra còn tồn taị các loại quyền khác đối với vật như quyền địa dịch,
quyền cầm cố…
Trên một vật có thể có nhiều quyền được thiết lập. Bởi pháp luật nhiều khi
phải nói chung tới tất cả các quyền trên vật mà bao gồm cả quyền sở hữu và các
quyền này, nên người ta gọi chung chúng là “vật quyền” hay “quyền đối vật”.
Các quyền này được gọi như vậy từ xa xưa, có ý nghĩa quan trọng trong việc
18
phân biệt với một loại quyền khác là quyền đối nhân (quyền yêu cầu của trái chủ
đối với người thụ trái xác định) [8]. Sự phân biệt này mang lại rất nhiều lợi ích.
Trên cơ sở sự phân biệt vật quyền và trái quyền, người làm luật có điều kiện xây
dựng các chế độ pháp lý tương ứng cho mỗi quyền tài sản có tính chất khác biệt:
chế độ pháp lý về vật quyền đặc trưng bằng các quy tắc chỉ định ứng xử của chủ
thể trong quá trình tác động lên tài sản đối tượng của quyền; chế độ pháp lý về
trái quyền đặc trưng bởi các quy tắc chỉ định hành vi ứng xử trong giao tiếp giữa
hai bên [14]. Hay nói một cách cụ thể hơn thì, pháp luật ra đời tạo ra một khung
pháp lý cho các quan hệ pháp luật được tiến hành. Trong quan hệ vật quyền,
pháp luật quy định cụ thể về các quyền của chủ thể đối với vật, còn quan hệ trái
quyền, pháp luật là quy chuẩn cơ bản cho cách ứng xử giữa mọi người với nhau
trong quan hệ.
Như vậy, hiểu một cách khái quát, vật quyền (jus in re) là quyền của một
người chi phối, tác động trực tiếp lên vật không cần thông qua người trung gian.
1.2.2. Phân loại vật quyền trong Luật La Mã :
Vật quyền trong Luật La Mã có thể được chia thành hai loại là quyền trên
trong phạm vi hạn chế hơn so với người có vật quyền chính yếu.
1.2.3. Bảo vệ vật quyền :
Vật quyền được pháp luật La Mã công nhận và bảo vệ một cách tuyệt đối,
người có vật quyền được phép chống lại bất cứ người nào có hành vi cản trở việc
thực hiện quyền của mình. Không ai có thể tự ý hạn chế, tước đoạt trái pháp luật
hoặc xâm phạm đến quyền sở hữu cũng như các quyền hợp pháp trên tài sản của
người khác. Có hai hình thức bảo vệ được pháp luật La Mã công nhận và cho
20
phép chủ thể được áp dụng đó là phương pháp tự bảo vệ và phương pháp kiện
vật quyền (actio in rem).
Chủ thể của vật quyền có quyền tự bảo vệ, ngăn cản các hành vi xâm
phạm đến quyền của mình cũng như truy đòi tài sản là đối tượng của vật quyền
đang bị người khác chiếm giữ, sử dụng không có căn cứ pháp luật.
Vật quyền được pháp luật bảo vệ bất kể vật đang nằm trong tay người nào.
Luật gọi đó là quyền theo đuổi. Trên nguyên tắc, tất cả những ai đang nắm giữ
vật, dù với tư cách nào, đều phải tôn trọng các quyền năng của người có vật
quyền, một cách không điều kiện: người có quyền sở hữu tài sản được quyền yêu
cầu người nắm giữ tài sản phải giao tài sản cho mình và người sau này phải giao
nếu không muốn bị coi là người chiếm giữ tài sản trái phép; chủ sở hữu tài sản
thế chấp phải tôn trọng quyền kê biên tài sản của chủ nợ nhận thế chấp; chủ sở
hữu bất động sản chịu địa dịch về lối đi qua phải tôn trọng quyền về lối đi qua
của người hưởng địa dịch... [13].
Ngoài biện pháp tự bảo vệ, vật quyền được pháp luật La Mã bảo vệ bởi
hình thức kiện actio in rem (kiện vật quyền). Theo hình thức này, người có vật
quyền được phép khởi kiện người có hành vi xâm phạm đến quyền của mình
hoặc người chiếm giữ vật bất hợp pháp. Khi xảy ra những hành vi nhằm chiếm
hữu trái pháp luật tài sản của người khác hay những hành vi được tiến hành
Tùy thuộc vào chính sách pháp lý cũng như truyền thống của mỗi quốc gia
mà danh sách các vật quyền [32] cũng như các nguyên tắc chi phối quan hệ vật
quyền của mỗi quốc gia có sự khác biệt nhất định [17]. BLDS của Pháp và Đức
chịu sự ảnh hưởng sâu sắc từ Luật La Mã và cũng là hai bộ luật tiêu biểu cho
việc tiếp nhận vật quyền vào trong luật dân sự.
22