BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
--------o0o--------
NGUYỄN ĐỨC CẢNH
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG ĐIỆN
CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
NGÀNH: MẠNG VÀ HỆ THỐNG ĐIỆN
MÃ SỐ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. ĐẶNG QUỐC THỐNG
Hà Nội 10/2010
MỤC LỤC
Nội dung
1.1
1.2
1.3
1.4
2.1
2.2
2.2.1
2.2.2
2.3
2.3.1
Hoạt động điện lực và thị trường điện...........................................................
Đánh giá chung về thực trạng thị trường điện Việt Nam hiện nay ...............
Về hệ thống văn bản pháp lý hiện hành ........................................................
Về vấn đề quản lý nhà nước ngành điện .......................................................
Về mô hình và cơ chế sản xuất kinh doanh ..................................................
Về giá điện và quản lý kinh doanh điện nông thôn ......................................
Đánh giá hiện trạng hệ thống điều độ điện Quốc gia ....................................
Về cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật ngành điện .........................................
CHƯƠNG 3: LỘ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ KỸ
THUẬT LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG ĐIỆN
CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM
Quan điểm, mô hình và lộ trình phát triển thị trưòng điện cạnh tranh ở
Việt Nam........................................................................................................
Quan điểm xây dựng và phát triển thị trưòng điện cạnh tranh ở Việt Nam
Các mô hình và lộ trình phát triển thị trưòng điện cạnh tranh ở Việt Nam
Lộ trình phát triển thị trưòng điện cạnh tranh ở Việt Nam............................
Giai đoạn thị trường phát điện cạnh tranh.....................................................
Giai đoạn thị trường bán buôn điện cạnh tranh.............................................
Trang
1
3
3
6
9
15
27
27
29
4.2.1
4.2.2
4.2.2
4.2.3
4.3
4.3.1
4.3.2
4.3.3
Giai đoạn thị trường bán lẻ điện cạnh tranh ...................................................
Các vấn đề kỹ thuật trong thị trường điện cạnh tranh……………………....
Điều khiển hệ thống điện trong điều kiện thị trường……………………….
Hệ thống viễn thông điện lực trong điều kiện thị trường…………………
Vấn đề đấu nối vào lưới điện truyền tải Quốc gia………………………….
Đo đếm điện năng trong thị trường điện cạnh tranh……………………......
CHƯƠNG 4: GIÁ ĐIỆN VÀ MỘT SỐ PPHWOWNG PHÁP TÍNH
GIÁ ĐIỆN HIỆN NAY................................................................................
Các nguyên tắc xây dựng biểu giá điện.........................................................
Chính sách giá điện........................................................................................
Các nguyên tắc cơ bản khi xây dựng biểu giá điện.......................................
Hiện trạng cơ chế giá điện trong các hợp đồng mua bán điện hiện nay……
Giá phát điện………………………………………………………………..
Giá bán buôn điện…………………………………………………………..
Giá phân phối, bán lẻ điện...............................................................................
Đánh giá về hiện trạng giá điện.......................................................................
Các phương pháp định giá điện trong điều kiện thị trường………………..
Phương pháp định khung giá phát điện của các loại nguồn điện…………...
Phương pháp xác định phí truyền tải điện………………………………….
Một số ví dụ tính toán khung giá điện trong hệ thống điện Việt
Nam……...
ASEAN Association of South – East Asian Nations (Hiệp hội các nước Đông Nam Á)
BOT
Build – Operation – Transfer (Xây dựng – Vận hành – Chuyển giao)
CTĐL
Công ty điện lực
EU
European Union (Cộng đồng Châu Âu)
EVN
Tập đoàn điện lực Việt Nam (Electricity of Vietnam)
FDI
Foreign Direct Investment (Đầu tư trực tiếp nước ngoài)
IMF
International Monetary Fund (Quỹ tiền tệ Quốc tế)
IPP
Independent Power Producer (Nhà máy điện độc lập)
Trang
1
Bảng 2.2: Cơ cấu tiêu thụ điện
38
2
Bảng 4.1: Biểu giá điện qua các lần điều chỉnh
88
3
Bảng 4.2: Các chỉ tiêu tài chính theo giả thiết và tính toán theo mô hình tài
103
chính
4
Bảng 4.3: Các điều kiện khác tính toán cho nhà máy nhiệt điện.
104
5
2
Hình 2.2: Cấu trúc tích hợp ngành dọc của ngành điện
32
3
Hình 2.3: Sơ đồ tổ chức điều độ hệ thống điện Việt Nam
36
4
Hình 3.1: Các giai đoạn phát triển thị trường điện Việt Nam
50
5
Hình 3.2: Cấu trúc thị trường phát điện nội bộ EVN
52
6
Hình 3.3: Cấu trúc thị trường phát điện cạnh tranh một người mua hoàn
54
định hướng xã hội chủ nghĩa. Cùng với đó ngành điện cũng có những thay đổi quan
trọng, thị trường hóa một số khâu trong sản xuất kinh doanh điện, nâng cao quyền
tự chủ cho các doanh nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ, ….
Tuy nhiên sau nhiều lần cải cách, mô hình tổ chức và kinh doanh của ngành
điện nước ta hiện nay vẫn chưa đạt được yêu cầu như: chi phí lớn, hiệu quả kinh
doanh chưa cao, chưa theo kịp với nhu cầu điện năng ngày càng tăng cao, đặc biệt
không thể đáp ứng vốn đầu tư nến không tăng giá điện. Trong xu thế hội nhập và
cạnh tranh toàn cầu, ngành điện sẽ phải đối mặt với hàng loạt khó khăn, chúng sẽ
cản trở sự phát triển của ngành điện Việt Nam.
Để giúp ngành điện phát triển bền vững, Đảng và Nhà nước cho phép ngành
điện đa dạng hóa hình thức sở hữu, đưa các yếu tố cạnh tranh lành mạnh vào trong
quá trình sản xuất, kinh doanh nhằm thúc đầy, nâng cao hiệu quả kinh doanh trong
nền kinh tế thị trường. Vì vậy sự hình thành và phát triển thị trường điện cạnh tranh
ở Việt Nam là vấn đề cấp bách.
Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu trong luận văn này là “Một số vấn đề
về phát triển thị trường điện cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay”
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Cung cấp một số luận cứ khoa học và thực tiễn về việc tổ chức sản xuất kinh
doanh điện cho các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng môi trường cạnh tranh lành
mạnh trong quá trình sản xuất kinh doanh điện nhằm phát triển ngành điện Việt
Nam hiệu quả bền vững, mang lại lợi ích cho đất nước. Đồng thời, kết quả nghiên
cứu của đề tài cũng có thể giúp các nhà quản lý ngành điện tham khảo và vận dụng
vào việc định hướng phát triển sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp trong môi
trường thị trường điện cạnh tranh.
1
3. Nội dung của đề tài, các vấn đề cần giải quyết:
Vấn đề thị trường điện cạnh tranh là vấn đề rộng lớn, vì vậy trong đề tài này
trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận được coi là mục đích, là động lực của hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, lợi ích, hay độ thoả mãn được coi là động lực
của người tiêu dùng và cạnh tranh là môi trường, là điều kiện tốt nhất cho hai loại
lợi ích đó dung hoà với nhau. Trong môi trường thị trường, mỗi chủ thể hoạt động
kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đều phải nắm vững nhu cầu, biến động của
quan hệ cung cầu, giá cả để định vị hành vi của mình.
*Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Lịch sử phát triển xã hội loài người cho thấy, kinh tế thị trường có thể nảy sinh
và hoà hợp với nhiều chế độ chính trị khác nhau. Trong thời đại kinh tế tư bản chủ
nghĩa còn thống trị trên phạm vi thế giới thì hình thái kinh tế thị trường tư bản chủ
nghĩa trở thành phổ biến. Tuy nhiên, từ khi xuất hiện các phong trào xã hội chủ
nghĩa đến nay, nhất là khi hiện diện các nhà nước xã hội chủ nghĩa thì xuất hiện một
hình thái kinh tế thị trường mới, đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Đó cũng là mô hình kinh tế thị trường mà nước ta đang theo đuổi. Đại hội đại
biểu toàn lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định. Theo quan điểm của
3
Đảng ta, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta bao gồm hai
nhóm yếu tố sau:
- Nền kinh tế vận hành theo các quy luật của kinh tế thị trường. Đây là nhóm
yếu tố cơ bản, nền tảng bao gồm các chủ thể kinh tế có quyền tự chủ trong hoạt
động sản xuất và trao đổi hàng hoá theo nguyên tắc bình đẳng, thoả thuận và ngang
giá; môi trường cạnh tranh lành mạnh trong khuôn khổ pháp luật, là các thiết chế
tự định trong giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp được pháp luật thừa nhận...
- Sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhóm yếu tố này xác lập và nuôi
dưỡng các yếu tố của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa vào nền kinh tế thị trường.
Sự hình thành và phát triển của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa gắn với sự hoạt
động tự giác của con người, của nhà nước Việt Nam nhằm tìm mọi cách giảm thiểu
chuyền sản xuất, kinh doanh điện, gồm: sản xuất điện, truyền tải điện, phân phối
điện đều thuộc độc quyền của một ngành (một người bán duy nhất) và bán điện trên
cơ sở hợp đồng giữa doanh nghiệp điện độc quyền với các đối tượng mua khác
nhau. Nói cách khác, thị trường điện độc quyền là thị trường độc quyền bán.
*Thị trường điện cạnh tranh: là thị trường điện mà trong đó sự cạnh tranh
được chấp nhận và khuyến khích trong các khâu của dây chuyền sản xuất kinh
doanh điện, gồm: sản xuất điện, bán buôn điện, bán lẻ điện và cung cấp các dịch vụ
phụ trợ liên quan đến sản xuất và tiêu thụ điện.
*Điều tiết điện lực: là tác động của Nhà nước vào các hoạt động điện lực và
thị trường điện lực nhằm cung cấp điện an toàn, ổn định, chất lượng, sử dụng điện
tiết kiệm, có hiệu quả và bảo đảm tính công bằng, minh bạch, đúng quy định của
pháp luật trong sản xuất, cung ứng và tiêu thụ điện.
*Hoạt động điện lực: là hoạt động của tổ chức, cá nhân trong các lĩnh vực quy
hoạch, đầu tư phát triển điện lực, phát điện, truyền tải điện, phân phối điện, điều độ
hệ thống điện, điều hành giao dịch thị trường điện lực, bán buôn điện, bán lẻ điện,
tư vấn chuyên ngành điện lực và những hoạt động khác có liên quan.
* Đơn vị điện lực: là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động phát điện, truyền tải
điện, phân phối điện, điều độ hệ thống điện, điều hành giao dịch thị trường điện lực,
bán buôn điện, bán lẻ điện, tư vấn chuyên ngành điện lực và những hoạt động khác
có liên quan.
5
*Lưới điện: là hệ thống đường dây tải điện, máy biến áp và trang thiết bị phụ
trợ để truyền dẫn điện. Lưới điện, theo mục đích sử dụng và quản lý vận hành, được
phân biệt thành lưới điện truyền tải và lưới điện phân phối.
*Bán buôn điện: là hoạt động bán điện của đơn vị điện lực này cho đơn vị
điện lực khác để bán lại cho bên thứ ba.
*Bán lẻ điện: là hoạt động bán điện của đơn vị điện lực cho khách hàng sử
phát điện không được giữ vai trò chi phối về sản lượng so với Công ty phát điện
khác.
- Người tiêu dùng (khách hành mua điện) cần phải đa dạng, có đủ các tiềm
năng thanh toán, có hiểu biết về sản phẩm điện năng, đồng thời yếu tố sức mua cao.
Ví dụ có những cụm khách hàng lớn (như các Công ty xi măng, Công ty luyện thép,
các Công ty cơ khí, tổ hợp khu công nghiệp ... với sản lượng tiêu thụ điện cao có thể
mua điện trực tiếp từ Công ty phát điện hoặc qua các Công ty phân phối điện); có
những cụm khách hàng vừa (như các tổ hợp khách sạn, các Công ty sản xuất công
nghiệp nhẹ, thực phẩm... mua điện qua các Công ty phân phối điện) và loại khách
hàng nhỏ (chủ yếu là các tổ hợp sản xuất nhỏ, khu thương mại, các hộ dân,... mua
điện qua các Công ty phân phối điện)...
1.2.2. Chất lượng sản phẩm điện, các biện pháp cạnh tranh.
Khác với các loại hàng hoá thông thường, điện có nhiều đặc trưng riêng biệt.
Trước hết, điện là một loại hàng hoá đặc biệt, không thể dự trữ được sau khi đã sản
xuất ra, cân bằng giữa sản xuất và tiêu thụ tại mọi thời điểm là quy luật cơ bản của
chu trình sản xuất và kinh doanh điện. Quá trình sản xuất ra điện và vận chuyển tới
khách hàng mua điện gồm 3 khâu chính là: sản xuất, truyền tải và phân phối điện.
Gần đây, cùng với tiến trình cải cách ngành điện và hình thành thị trường cạnh tranh
bán lẻ, khâu phân phối điện được tách thành hai khâu phân phối và cung ứng điện.
Mỗi khâu trong quá trình cung ứng điện được đặc trưng bởi chức năng, công nghệ
và chi phí. Cụ thể như sau:
7
Hình 1.1. Dây chuyền sản xuất kinh doanh của ngành điện
- Khâu sản xuất điện (phát điện): Các nhà máy điện sử dụng nhiều loại công
nghệ khác nhau, nhằm chuyển hoá các dạng năng lượng sơ cấp như: than, dầu, khí
đốt, hạt nhân, sức gió, nước...thành điện năng.
- Truyền tải điện: Là quá trình truyền tải điện ở cấp điện áp cao từ các nhà máy
dạng và khối lượng người mua đông đảo. Nói cách khác, thị trường điện mang tính
cạnh tranh khác nhau theo từng công đoạn cụ thể.
Ngày nay, điện năng là loại sản phẩm không thể thiếu được của nền kinh tế và
đời sống xã hội. Điện là nguồn năng lượng đầu vào của tất cả các doanh nghiệp
trong nền kinh tế quốc dân. Sự phát triển của ngành điện có ảnh hưởng không chỉ
đến sự phát triển của nền kinh tế, mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng cuộc
sống của dân cư. Nhờ có năng lượng điện con người có thể nhìn thấy nhiều hơn, đi
xa hơn, cánh tay kéo dài hơn và thông tin nhiều hơn. Chính vì vậy mà tất cả các
quốc gia trên thế giới đều coi trọng vấn đề đảm bảo xây dựng và phát triển các công
trình điện nhằm đáp ứng nhu cầu điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất. Đối với các
nước đang phát triển như nước ta, để thực hiện công nghiệp hoá thành công cần có
kế hoạch phát triển điện lực bền vững và đi trước một bước so với các ngành kinh tế
khác.
1.3. CÁC ĐIỀU KIỆN VÀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐÊN SỰ HÌNH THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG ĐIỆN CẠNH TRANH Ở NƯỚC TA.
1.3.1. Điều kiện hình thành và phát triển thị trường điện cạnh tranh ở nước ta.
9
1.3.1.1. Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cho phép phát
triển thị trường điện cạnh tranh ở nước ta.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến sự phát triển
của ngành điện. Điều đó được thể hiện qua các quan điểm chủ trương và chính sách
về cải tổ ngành điện và phát triển thị trường điện ở các văn bản sau:
- Kết luận của Bộ Chính trị về Chiến lược phát triển ngành điện Việt Nam tại
Văn bản số 26-KL/TW ngày 24/10/2003; Quyết định 176/2004/QĐ-TTg ngày
05/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Điện
Việt Nam giai đoạn 2004 - 2010, định hướng đến 2020, nêu rõ “từng bước hình
thành thị trường điện cạnh tranh trong nước, đa dạng hoá phương thức đầu tư và
cao, giai đoạn 1995 - 2000 trong 5 năm điện thương phẩm tăng bình quân
15%/năm, giai đoạn 2001 - 2005 tốc độ tăng trung bình đạt 15,2%. Dự báo tốc độ
tăng nhu cầu điện sẽ vẫn ở mức cao trong nhiều năm tới. Theo dự báo của Viện
Năng lượng, trong giai đoạn 2006 - 2015 nhu cầu điện ở mức 17 đến 20%.
Để đáp ứng nhu cầu điện tăng cao sẽ đòi hỏi một lượng vốn đầu tư rất lớn vào
nguồn và lưới điện, trung bình là khoảng 3 tỉ USD/năm. Đây sẽ là một áp lực rất lớn
cho ngành điện và Chính phủ đối với mục tiêu phát triển kinh tế Quốc gia. Với tổng
công suất nguồn điện phải đầu tư trong giai đoạn 2006 - 2015 khoảng 33.200MW
khả năng cân đối vốn đầu tư của EVN là không thể tự đáp ứng, bên cạnh đó yêu cầu
cấp bách về tiến độ thì năng lực quản lý là một thách thức không nhỏ đối với EVN.
Vì vậy xu hướng tỷ trọng công suất của các nhà đầu tư sản xuất điện ngoài EVN
(của tư nhân, nước ngoài, các doanh nghiệp ngoài EVN) ngày càng tăng là một điều
kiện quan trọng cho việc thúc đẩy hình thành thị trường điện.
Kinh nghiệm thực tế trên thế giới cho thấy, chỉ có thúc đẩy cạnh tranh trong
các hoạt động điện lực mới có thể giải quyết được vấn đề tăng hiệu quả sản xuất và
kinh doanh điện, thu hút các nguồn vốn đầu tư cũng như sử dụng vốn đầu tư một
cách hiệu quả. Theo kế hoạch đầu tư xây dựng từ năm 2010 - 2011 trở đi, do có
hàng lọat các nhà máy điện lớn được đưa vào vận hành, hệ thống điện Việt Nam có
đủ dự phòng công suất nguồn, đây sẽ là một thuận lợi cho ra đời thị trường điện
cạnh tranh.
1.3.2. Nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển thị trường điện cạnh
tranh.
11
1.3.2.1. Điều kiện tự nhiên.
Việt Nam có điều kiện tự nhiên khác biệt giữa các miền, chiều dài đất nước
lớn, các điều kiện về nguồn nhiên liệu cho sản xuất điện của các miền cũng khác
nhau. Ở miền Bắc chủ yếu là các nguồn nhiệt điện than và thủy điện; ở miền trung
thị trường trong và ngoài nước... Các nhà kinh tế đã chứng minh với việc áp dụng
công nghệ tin học, người ta hoàn toàn có thể quản lý điều hành từng khâu trong dây
chuyền sản xuất điện với hiệu suất cao hơn so với mô hình quản lý tập trung trước
đây. Đây là một luận cứ quan trọng để các nhà khoa học đưa ra kết luận rằng việc
cơ cấu lại các CTĐL và hình thành thị trường điện sẽ làm giảm chi phí giao dịch so
với mô hình độc quyền liên kết dọc trước đây.
1.3.2.3. Quyền lựa chọn của các khách hàng mua điện.
Quyền lựa chọn của các khách hàng mua điện là một nhân tố quan trọng tác
động lên quá trình cải cách mô hình tổ chức của các CTĐL. Hiệu quả của việc tự do
hoá thị trường viễn thông đã có ảnh hưởng lớn tới ngành điện. Ở Mỹ, các hộ tiêu
thụ điện đã đòi hỏi phải cải tổ các CTĐL do sự chênh lệch giữa chi phí sản xuất và
giá bán điện cho khách hàng. Trong khối EU, việc hình thành một thị trường chung
của khối đã dẫn tới việc các hộ tiêu thụ điện gây áp lực đòi hình thành thị trường
điện chung của EU, đưa điện năng trở thành một loại hàng hoá giao dịch chung giữa
các nước thành viên trong EU. Áp lực của người tiêu dùng còn khuyến khích các
CTĐL mở ra các loại dịch vụ, hàng hoá mới cung cấp cho khách hàng ví dụ như:
dịch vụ tư vấn giúp khách hàng sử dụng điện tiết kiệm, kinh doanh thiết bị tiết kiệm
điện...
1.3.2.4. Ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa.
Trong một nền kinh tế mở, khi các hàng rào thuế quan và các cản trở hành
chính khác được dỡ bỏ, các nhà đầu tư thường lựa chọn những nơi có điều kiện đầu
tư hấp dẫn nhất. Trong đó, đảm bảo an toàn cung cấp điện và giá điện là một trong
những yếu tố được các nhà đầu tư chú ý. Các nhà đầu tư, đặc biệt là các tổ hợp sản
xuất công nghiệp lớn, có nhu cầu tiêu thụ điện năng cao thường yêu cầu Chính phủ
sở tại cho phép họ được phép lựa chọn đơn vị cung ứng điện có giá cạnh tranh nhất
và có khả năng đảm bảo an toàn cung cấp điện. Mặt khác, một số CTĐL lớn trên thế
giới đã phát triển trở thành các tập đoàn kinh tế lớn, kinh doanh điện trên phạm vi
quốc tế. Vì vậy, đây cũng là một nhân tố quan trọng thúc đẩy cải tổ mô hình độc
13
giảm gánh nặng ngân sách đầu tư vào ngành điện, giảm giá bán điện... là động lực
14
mạnh mẽ thúc đẩy các nước đi sau, đặc biệt là các nước đang phát triển, đẩy nhanh
quá trình cải cách mô hình tổ chức các CTĐL, ảnh hưởng đến hình thành thị trường
điện cạnh tranh.
1.4 KINH NGHIỆM TỔ CHỨC, QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
ĐIỆN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI.
1.4.1. Kinh nghiệm của các nước công nghiệp phát triển.
Phần lớn các nước công nghiệp phát triển đã thực hiện cải tổ ngành điện và
phát triển thị trường điện lực ở các mức độ khác nhau và nhiều nước đã đạt được
những thành công nhất định. Ảnh hưởng của phát triển thị trường điện cạnh tranh
chỉ thể hiện rõ trong giai đoạn dài hạn do kết quả tốt hơn của các quyết định đầu tư.
Trong một thời gian ngắn hạn, việc mở ra thị trường cạnh tranh đã tăng hiệu quả sản
xuất kinh doanh được ghi nhận ở nhiều nước công nghiệp phát triển trên cơ sở tư
nhân hóa, công ty hóa. Giá điện cho khách hàng được giảm đáng kể ở một số nước
và giữ ổn định ở một số nước khác. Giá bán buôn được giữ ở mức thấp so với chi
phí xây dựng nguồn mới.
Trong các nước phát triển, khối liên hiệp Anh, Australia, Norway, New
Zealand và Sweden là những nước đã thực hiện cải tổ ngành điện, phát triển thị
trường điện sớm nhất và đã đạt được nhiều lợi ích đáng kể. Việc cải tổ ngành điện
tại các nước này đều bắt đầu từ việc chia tách dọc hoạt động truyền tải ra khỏi phát
điện và phân phối điện. Đồng thời việc chia tách ngang (thiết lập một số lượng nhất
định các công ty phát hoặc phân phối) cũng được thực hiện để hạn chế lũng đoạn thị
trường. Việc giám sát quá trình cải tổ và hoạt động của thị trường được thực hiện
bởi cơ quan điều tiết. Cơ quan này là một cơ quan độc lập, ở một số nước có thể
trực thuộc Bộ. Mô hình ban đầu của thị trường các nước này thường là mô hình thị
trường bán buôn điện cạnh tranh.
nghiệp lớn và các công ty phân phối được quyền lựa chọn nhà cung cấp. Tham gia
lưới điện theo hình thức có điều tiết. NGC đóng vai trò điều độ hệ thống và vận
hành thị trường. Cơ quan điều tiết điện lực (OFFER - Office of Electricity
Regulatory) giữ vai trò điều tiết.
16
- Từ năm 1998, các khách hàng mua điện, kể các hộ gia đình đều có quyền
lựa chọn người bán điện, như vậy thị trường bán lẻ điện cạnh tranh đã phát triển
hoàn toàn.
- Năm 1999, Cơ quan điều tiết điện lực và cơ quan điều tiết khí được sát nhập
thành cơ quan điều tiết điện - khí (OFGEM - Office of Gas and Electricity
Regulatory).
- Năm 2002, tại liên hiệp Anh bắt đầu tiến hành cải cách tổ chức của thị
trường điện, chuyển từ hình thức bắt buộc sang tự nguyện, hạn chế các rủi ro đối
với người mua điện trên thị trường.
Quá trình cải tổ ngành điện cho thấy, Khối liên hiệp Anh là một ví dụ điển
hình về quá trình tái cơ cấu và phát triển thị trường điện cạnh tranh, tư nhân hoá và
cải cách thể chế trong công nghiệp điện. Nhìn chung, việc cải cách ngành điện ở
liên hiệp Anh được đánh giá là thành công. Các kinh nghiệm về phát triển thị
trường điện tại Liên hiệp Anh đã trở thành khuôn mẫu về chính sách cải tổ và phát
triển thị trường điện cạnh tranh trong ngành điện cho một số quốc gia khác. Theo tài
liệu của Ủy ban năng lượng Thế giới, từ năm 1990, năng suất lao động của ngành
công nghiệp điện của Anh tăng đáng kể (tăng 8% từ 1988 đến 1995). Giá bán điện
cho người tiêu dùng giảm (giảm 7,5% từ 1990 đến 1995). Các công ty phát điện
kinh doanh có lãi với tỷ lệ thu hồi vốn 25% đối với hai công ty lớn nhất trong giai
đoạn 1993 đến 1999. Việc giảm giá điện đối với người sử dụng tại Liên hiệp Anh
được đánh giá là do cơ chế điều tiết và áp lực cạnh tranh tạo ra.
1.4.1.2. Kinh nghiệm của Australia.
NEM là thị trường bắt buộc, các nguồn phát từ 30MW trở lên đều phải bán điện lên
thị trường. Các hợp đồng song phương là các hợp đồng tài chính nhằm hạn chế các
rủi ro do biến động về giá cả trên thị trường.
- Năm 1995 cơ quan điều tiết điện lực quốc gia độc lập (Australian
Competition and Consumer Commission - ACCC) được thành lập. Từng bang lại có
các cơ quan điều tiết riêng cho điều tiết thị trường điện từng bang. Từ đầu năm 2005
các cơ quan điều tiết liên bang và tiều bang được thống nhất lại thành 1 cơ quan
điều tiết duy nhất.
Việc mở ra thị trường cạnh tranh tại Australia được đánh giá là thành công.
Giá điện giảm đáng kể. Đặc biệt là ở giá bán buôn. Trong 2 năm từ 1995 đến 1997
18
giá bán buôn trên thị trường Victoria giảm hơn một nửa từ 28,1 A$ xuống còn 12,5
A$/1 MWh. Các khách hàng được tự do lựa chọn nhà cung cấp điện. Mức độ sẵn
sàng của nguồn điện tăng lên, từ 84% năm 1992 tăng đến 93% năm 1999. Tuy
nhiên, quá trình cải tổ này cũng còn một số vấn đề cần xem xét:
- Tiến trình tái tổ chức lại ngành điện ở các bang là khác nhau và chịu ảnh
hưởng của các yếu tố chính trị. Điều này ảnh hưởng đến việc buôn bán giữa các
bang trong thị trường điện quốc gia;
- Nguyên tắc xác định giá khác nhau giữa các bang ảnh hưởng đến sự không
công bằng về cơ hội;
- Cơ quan điều tiết ở cấp liên bang và tiểu bang cùng tồn tại nên có nhiều
trùng lặp về chức năng và đã phải tiến hành hợp nhất thành một cơ quan duy nhất.
1.4.2. Kinh nghiệm của các nước đang phát triển.
Xu thế phát triển thị trường điện tại các nước đang phát triển chậm hơn so với
các nước công nghiệp phát triển. Thị trường điện đã được mở ra ở một số nước khu
vực châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh. Chile là nước đầu tiên trên thế giới thực
hiện cải tổ ngành điện. Trong các nước đang phát triển Argentina và Chile được coi