LÊ THỊ MINH TRANG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------
Lê Thị Minh Trang
KĨ THUẬT ĐIỆN – HƯỚNG HỆ THÔNG ĐIỆN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NGUỒN ĐIỆN PHÂN
TÁN TỚI HỆ THỐNG BẢO VỆ ROLE
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Kĩ thuật điện
KHOÁ 2009-2011
Hà Nội -2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
--------------------------------------Lê Thị Minh Trang
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NGUỒN ĐIỆN PHÂN TÁN TỚI
HỆ THỐNG BẢO VỆ ROLE
Chuyên ngành: Kĩ thuật điện
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Lê Thị Minh Trang
Học viên: Lê Thị Minh Trang
1
Ngành: Kĩ thuật điện 2009-2011
Luận văn thạc sĩ khoa học
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 8
Chương 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGUỒN ĐIỆN PHÂN TÁN .................10
1.1. Định nghĩa nguồn điện phân tán (DG) .............................................................10
1.2. Các yếu tố thúc đẩy sự phát triển của nguồn điện phân tán .............................12
1.2.1. Thị trường điện tự do ................................................................................13
1.2.2. Độ tin cậy cung cấp điện và chất lượng điện năng...................................14
1.2.3. Các vấn đề về biến đổi khí hậu.................................................................14
1.3. Các loại nguồn điện phân tán và khả năng phát triển của chúng......................15
1.3.1. Năng lượng mặt trời .................................................................................16
1.3.2. Năng lượng gió .........................................................................................17
1.3.4. Năng lượng thủy triều và sóng .................................................................17
1.4. Các lợi ích của nguồn điện phân tán .................................................................20
1.4.1. Nâng cao độ tin cậy của lưới điện ............................................................20
1.4.2. Nâng cao chất lượng điện năng ................................................................21
1.4.3. Giảm yêu cầu của công suất đỉnh. ............................................................23
1.4.4. Cung cấp các dịch vụ phụ trợ cho lưới điện .............................................24
1.5. Ảnh hưởng của nguồn điện phân tán đối với hệ thống điện .............................25
tính cách điện với đất).......................................................................................51
3.1.1. Giới thiệu nhà máy thủy điện Nậm Đông ................................................51
3.1.2. Tính toán phân bố dòng thứ tự không khi có sự cố một pha chạm đất trên
lưới điện 35kV Văn Chấn .........................................................................53
3.1.3. Lựa chọn phương thức và thông số cài đặt của các rơle bảo vệ lưới điện
35kV Văn Chấn ........................................................................................54
3.2. Ảnh hưởng của nhà máy thủy điện Đa Khai (nối với lưới điện có điểm trung
tính nối đất trực tiếp).........................................................................................60
Học viên: Lê Thị Minh Trang
3
Ngành: Kĩ thuật điện 2009-2011
Luận văn thạc sĩ khoa học
3.2.1. Giới thiệu nhà máy thủy điện Đa Khai .....................................................60
3.2.2. Ảnh hưởng của nhà máy thủy điện Đa Khai tới sự phối hợp các thiết bị
bảo vệ ........................................................................................................65
CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .........................................................80
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................83
Học viên: Lê Thị Minh Trang
4
Ngành: Kĩ thuật điện 2009-2011
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Kết quả chỉnh định bảo vệ thứ tự không có độ nhậy cao cho các đường
dây 377, 375, 373, 371. .............................................................................................60
Bảng 3.2. Dòng điện ngắn mạch chạy qua các bảo vệ khi có sự cố trên đường dây
D1 và chưa có NMTĐ Đa Khai đấu nối vào ............................................................72
Bảng 3.3. Dòng điện ngắn mạch chạy qua các bảo vệ khi có sự cố trên đường dây
D1 và có NMTĐ Đa Khai đấu nối vào ......................................................................77
Bảng 3.4. Thông số chỉnh định của bảo vệ đường dây D2 22kV trạm biến áp 110kV
Đà Lạt trước khi nhà máy thủy điện Đa Khai đấu nối vào .......................................78
Bảng 3.5. Cài đặt lại thông số chỉnh định của bảo vệ đường dây D2 22kV trạm biến
áp 110kV Đà Lạt sau khi nhà máy thủy điện Đa Khai đấu nối vào ..........................79
Học viên: Lê Thị Minh Trang
6
Ngành: Kĩ thuật điện 2009-2011
Luận văn thạc sĩ khoa học
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1. Sơ đồ mô tả trường hợp tự động đóng lại và cầu chì phối hợp bảo vệ
không tốt ...................................................................................................33
Hình 1.2. Sơ đồ mô tả trường hợp tự động đóng lại tác động ngoài vùng bảo vệ ....34
Hình 1.3. Sơ đồ mô tả tác động của nguồn điện phân tán đến các sự cố ở đường dây
lân cận .......................................................................................................36
Hình 2.1. Sơ đồ mô tả hệ thống bảo vệ của lưới điện phân phối ..............................41
Hình 2.2. Sơ đồ nguồn điện phân tán kết nối với lưới điện thông qua máy biến áp có
tổ đấu dây Y0/∆ .........................................................................................44
phân tán vào lưới điện quốc gia cũng tăng theo hàm số mũ trong các năm trở lại
đây. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó, với đặc điểm có nhiều sông ngòi
và trải đều theo chiều dài đất nước, nên ngày nay có nhiều các thủy điện nhỏ được
kết nối vào lưới điện phân phối trên cả ba miền: Bắc, Trung, Nam. Ngoài ra, chúng
ta cũng đang tiến hành khảo sát, tiến đến xây dựng các nhà máy thủy điện sử dụng
năng lượng tái tạo.
Tuy nhiên, sự xuất hiện của nguồn điện phân tán trong lưới điện phân phối
không phải tạo ra các vấn đề đối với lưới điện phân phối. Nguyên nhân chính của
các vấn đề này là việc lưới điện phân phối được thiết kế là một lưới điện thụ động,
nghĩa là trên lưới điện khi thiết kế được giả thiết là chỉ bao gồm các phụ tải điện,
không có các nguồn điện kết nối vào. Nếu có nhiều nguồn phân tán kết nối vào có
thể dẫn đến các chế độ vận hành không cho phép cũng như có thể gây hư hỏng cho
các thiết bị điện trên lưới điện phân phối. Các tác động lớn nhất của nguồn điện
phân tán đến lưới điện phân phối là ảnh hưởng của dòng điện trong các chế độ sự cố
ngắn mạch và hệ thống bảo vệ của lưới điện phân phối. Vì vậy ta cần tìm hiểu,
nghiên cứu để nhận biết và đề ra các biện pháp khắc phục, giải quyết các vấn đề đó
một cách tối ưu nhất.
Luận văn này nhằm mục đích nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn điện phân
tán đến hệ thống bảo vệ của lưới điện phân phối. Cụ thể ở đây là nghiên cứu hai
lưới điện có trung tính nối đất trực tiếp và trung tính cách điện so với đất. Với lưới
hai lưới điện này, khi có nguồn điện phân tán nối song song với lưới cần điều chỉnh
Học viên: Lê Thị Minh Trang
8
Ngành: Kĩ thuật điện 2009-2011
Luận văn thạc sĩ khoa học
Đứng trước nguy cơ nguồn năng lượng hóa thạch có hạn trên trái đất đang dần
đi đến cạn kiệt, những nguồn năng lượng mới (nguồn năng lượng phân tán) đã và
đang dần được giới khoa học và con người quan tâm hơn. Chúng được đánh giá sẽ
là những nguồn năng lượng quan trọng trong tương lai. Những tiến bộ của khoa học
kỹ thuật, sự thay đổi của nền kinh tế và sự điều tiết của thị trường đã dẫn đến các
nguồn điện phân tán - nguồn điện có công suất nhỏ đang được quan tâm. Những
nguyên nhân chính tạo ra mối quan tâm này, đó là: sự phát triển trong công nghệ
phát điện của nguồn điện phân tán, nhu cầu xây dựng lưới điện truyền tải mới để
đáp ứng phụ tải ngày càng tăng trong khi lưới điện truyền tải đã rất lớn và quá phức
tạp, nhu cầu phụ tải đối với dịch vụ cung cấp điện có độ tin cậy cao tăng lên, sự
thành lập của thị trường điện tự do và những vấn đề đối với sự thay đổi khí hậu toàn
cầu.
Để tìm hiểu các tác động của nguồn điện phân tán đối với lưới điện, chương
này sẽ giới thiệu sơ lược về nguồn điện phân tán để làm cơ sở cho việc nghiên cứu
về nguồn điện phân tán ở các chương tiếp theo.
1.1. Định nghĩa nguồn điện phân tán (DG)
Để tìm hiểu về nguồn điện phân tán, trước hết ta cần tìm hiểu xem định nghĩa
Học viên: Lê Thị Minh Trang
10
Ngành: Kĩ thuật điện 2009-2011
Luận văn thạc sĩ khoa học
của nguồn điện phân tán. Hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất nào dành cho
nguồn điện phân tán, mỗi quốc gia, mỗi tổ chức lại đưa ra định nghĩa khác nhau dựa
trên những đặc điểm nhất định về nguồn điện phân tán. Ví dụ như CIGRE [9] định
nghĩa về nguồn điện phân tán là các nguồn điện có công suất trong khoảng 50100MW và thường được kết nối vào lưới điện phân phối. Còn IEEE [10] lại định
Luận văn thạc sĩ khoa học
lượng tái tạo làm năng lượng sơ cấp, nhiều trường hợp lại không sử dụng năng
lượng tái tạo.
Ta cần đưa ra một định nghĩa khái quát nhất về nguồn điện phân tán, trong
định nghĩa không được đưa ra các giới hạn về công suất phát, điện áp kết nối cũng
như công nghệ phát điện sử dụng trong các nguồn điện phân tán. Theo tài liệu
‘‘Distributed generation: definition, benefit and issues” [2] đã đưa ra một định nghĩa
thích hợp nhất cho nguồn điện phân tán như sau:
“Nguồn điện phân tán là các nguồn điện được kết nối trực tiếp vào lưới điện
phân phối hay được kết nối vào các khu vực phụ tải điện”.
Đây là định nghĩa phù hợp nhất cho nguồn điện phân tán hiện nay, trong định
nghĩa không đưa ra các giới hạn về điện áp kết nối, công nghệ phát điện cũng như
công suất của nguồn điện phân tán. Đồng thời định nghĩa cũng đã nêu bật được đặc
điểm quan trọng nhất của nguồn điện phân tán là khoảng cách đến phụ tải gần hơn
so với nguồn điện tập trung khác.
1.2. Các yếu tố thúc đẩy sự phát triển của nguồn điện phân tán
Theo IEA [6] đã đưa ra 5 nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự quan tâm trở lại đối
với nguồn điện phân tán. Năm nguyên nhân lần lượt đó là:
1- Sự phát triển công nghệ phát điện sử dụng trong nguồn điện phân tán.
2- Nhu cầu cấp thiết cần xây dựng các đường dây truyền tải điện mới.
3- Sự tăng trưởng của nhu cầu cấp điện với chất lượng và độ tin cậy cao.
4- Sự hình thành của thị trường điện tự do.
5- Những vấn đề đặt ra đối với biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên có 3 nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến sự quan tâm trở lại đối với
nguồn điện phân tán, đó là nguyên nhân thứ ba, tư, năm. Đối với nguyên nhân thứ
nhất, tuy rằng các công nghệ phát điện được sử dụng đã phát triển rất nhiều so với
trước đây tuy nhiên nếu phân tích kinh tế, tài chính thì nguồn điện phân tán không
đem lại nhiều lợi nhuận như các nguồn điện tập trung khác. Đồng thời ta cũng thấy
không phải xây dựng các nhà máy điện tập trung có công suất lớn nữa mà thay vào
đó là các nguồn điện phân tán có quy mô nhỏ hơn, được kết nối ở gần phụ tải.
Ngoài ra, nguồn điện phân tán còn giúp các nhà cung cấp tiết kiệm được chi
phí bằng việc trì hoãn sự bảo vệ cũng như xây mới lưới điện truyền tải, nếu ta lựa
chọn vị trí đặt các nguồn điện phân tán hợp lý còn giúp giảm được tổn thất trên lưới
điện, cũng như giúp các nhà cung cấp đưa ra các dịch vụ phụ trợ khác cho khách
hàng (như hỗ trợ điện áp, các rung động tần số nhỏ hay cấp điện liên tục....).
1.2.2. Độ tin cậy cung cấp điện và chất lượng điện năng
Học viên: Lê Thị Minh Trang
13
Ngành: Kĩ thuật điện 2009-2011
Luận văn thạc sĩ khoa học
Độ tin cậy cung cấp điện thấp có thể giúp nguồn điện phân tán nhận được
nhiều sự quan tâm hơn. Tuy nhiên tiền đề này không xuất hiện ở các nước công
nghiệp phát triển trong tương lai gần, nơi mà độ tin cậy cung cấp điện là rất cao và
người tiêu dùng ít quan tâm đến vấn đề này. Nhưng khi thị trường điện tự do được
hình thành đầy đủ điều này sẽ thay đổi, người tiêu dùng sẽ phải chú ý hơn đến vấn
đề độ tin cậy cung cấp điện. Bởi vì cung cấp điện với độ tin cậy đồng nghĩa với vốn
đầu tư và bảo dưỡng sẽ lớn, trong khi đó yêu cầu đối với một thị trường điện cạnh
tranh là giá cả. Chính vì vậy mà các nhà cung cấp điện sẽ làm giảm độ tin cậy cung
cấp điện để làm giảm được chi phí sản xuất. Nhưng độ tin cậy cung cấp điện lại rất
quan trọng đối với các phụ tải công nghiệp. Các nhà máy công nghiệp sẽ sớm nhận
thấy độ tin cậy cung cấp điện thấp hơn so với nhu cầu của họ và họ sẽ tiến hành đầu
tư vào các nguồn điện phân tán như là một giải pháp nhằm nâng cao độ tin cậy cung
Đặc biệt tại các nơi có nhu cầu về nhiệt năng thì họ sẽ thay đổi hình thức cung
cấp nhiệt trong các ống hơi và điện trên lưới điện bằng hình thức kết hợp phát cả
nhiệt và điện (Cogeration Combineed Heat and Power – CHP). So với việc cung
cấp điện một cách riêng rẽ thì phương pháp CHP giúp chúng ta tiết kiệm được từ
10% đến 30% năng lượng sơ cấp, tùy thuộc vào quy mô cũng như hiệu suất.
Ngoài ra, sử dụng nguồn điện phân tán giúp ta khai thác được các nguồn nhiên
liệu giá rẻ. Ví dụ như các nguồn điện phân tán sử dụng khí sinh học từ rác thải để
phát điện...
Kết luận: IEA đưa ra 5 nguyên nhân dẫn đến sự quan tâm trở lại đối với
nguồn điện phân tán, nhưng 2 nguyên nhân đầu tiên có những tác động không rõ
ràng, đồng thời cùng với những phân tích ở trên ta thấy 2 nguyên nhân này nó cũng
bao hàm trong 3 nguyên nhân còn lại. Vậy 3 nguyên nhân chính thúc đẩy sự phát
triển của nguồn điện phân tán là: Sự hình thành của thị trường điện tự do, nhu cầu
cấp điện với chất lượng điện năng và độ tin cậy cao, các vấn đề về biến đổi khí hậu.
Trong đó đối với tình hình hiện nay thì nguyên nhân các vấn đề về biến đổi khí hậu
là nguyên nhân chính, là động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của nguồn điện phân
tán.
1.3. Các loại nguồn điện phân tán và khả năng phát triển của chúng
Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển, nhu cầu về năng lượng ngày
càng tăng. Trong khi đó các nguồn nhiên liệu dự trữ như than đá, dầu mỏ, khí thiên
nhiên và ngay cả thủy điện thì có hạn, khiến cho nhân loại đứng trước nguy cơ
thiếu hụt năng lượng. Việc tìm kiếm và khai thác các nguồn năng lượng mới như
năng lượng hạt nhân, năng lượng địa nhiệt, năng lượng gió và năng lượng mặt trời,
năng lượng thủy thiều, thủy điện nhỏ.... là một trong những hướng quan trọng trong
Học viên: Lê Thị Minh Trang
15
Ngành: Kĩ thuật điện 2009-2011
NLMT lại có quá trình làm việc không ổn định và không liên tục, hoàn toàn biến
động theo thời tiết, vì vậy rất khó ứng dụng ở quy mô công nghiệp.
Các ứng dụng NLMT phổ biến hiện nay bao gồm các lĩnh vực chủ yếu sau: pin
Học viên: Lê Thị Minh Trang
16
Ngành: Kĩ thuật điện 2009-2011
Luận văn thạc sĩ khoa học
mặt trời, nhà máy nhiệt điện sử dụng năng lượng mặt trời, các thiết bị sấy bằng năng
lượng mặt trời, bếp nấu dùng năng lượng mặt trời, thiết bị chưng cất dùng năng
lượng mặt trời, động cơ Stirling chạy bằng NLMT, thiết bị đun nước nóng bằng
NLMT, thiết bị làm lạnh và điều hòa không khí dùng NLMT.......
1.3.2. Năng lượng gió
Gió là nguồn năng lượng sạch, không tạo ra chất thải, không sinh ra SO2,
CO2 ... Gió không cần "nguyên liệu", nó gần như vô tận, chỉ phải tốn kém cho việc
đầu tư thiết bị ban đầu. Vì thế, các công nghệ tiến bộ mới cho thấy năng lượng gió
sẽ có thể trở thành nguồn năng lượng quan trọng trong những thập kỷ tới. Chi phí
sản xuất điện từ năng lượng gió ngày càng giảm nhờ các tuabin cải tiến. Sử dụng
năng lượng gió không gây ra các vấn đề về môi trường.
Các ứng dụng năng lượng gió phổ biến hiện nay bao gồm các lĩnh vực chủ
yếu sau: Bơm nước dùng sức gió, máy phát điện dùng sức gió….
1.3.3. Năng lượng thủy điện nhỏ
Trong những năm gần đây, việc biến đổi khí hậu, dâng cao mực nước biển,
tình trạng bùng nổ dân số và phát triển kinh tế làm cho vấn đề năng lượng ngày
càng trở nên cấp bách. Việc khai thác sử dụng thủy điện nhỏ và các nguồn năng
lượng tái tạo là cần thiết, mặc dù dạng năng lượng này phân tán và không dễ khai
nhằm góp phần hạn chế tối đa sự phát thải khí CO2 vào môi trường sống. Nhiều
quốc gia đã có nhà máy điện dùng năng lượng sóng biển. Việc này có thể áp dụng
tốt ở vùng biển nước ta, theo số liệu khảo sát của Viện Năng lượng, Viện Khoa hoc,
công nghệ Việt Nam.
1.3.5. Năng lượng sinh khối (NLSK)
Sinh khối chứa năng lượng hóa học, nguồn năng lượng từ mặt trời tích lũy
trong thực vật qua quá trình quang hợp. Sinh khối là các phế phẩm từ nông nghiệp
(rơm rạ, bã mía, vỏ, xơ bắp v..v..), phế phẩm lâm nghiệp (lá khô, vụn gỗ v.v...), giấy
vụn, mêtan từ các bãi chôn lấp, trạm xử lý nước thải, phân từ các trại chăn nuôi gia
súc và gia cầm.
Nhiên liệu sinh khối có thể ở dạng rắn, lỏng, khí... được đốt để phóng thích
năng lượng. Sinh khối, đặc biệt là gỗ, than gỗ (charcoal) cung cấp phần năng lượng
đáng kể trên thế giới. Hiện nay, gỗ vẫn được sử dụng làm nhiên liệu phổ biến ở các
nước đang phát triển.
Sinh khối cũng có thể chuyển thành dạng nhiên liệu lỏng như mêtanol, êtanol
dùng trong các động cơ đốt trong; hay thành dạng khí sinh học (biogas) ứng dụng
cho nhu cầu năng lượng ở quy mô gia đình.
* Ưu điểm:
Học viên: Lê Thị Minh Trang
18
Ngành: Kĩ thuật điện 2009-2011
Luận văn thạc sĩ khoa học
Về mặt kinh tế:
- Phát triển nông thôn là một trong những lợi ích chính của việc phát triển
- Việc phát triển quy mô lớn các cây năng lượng để sản xuất nhiên liệu sinh
học (biofuel) có thể dẫn tới gia tăng sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón, gây tác hại
đối với động vật hoang dã và môi trường sống.
- Sản xuất năng lượng từ gỗ có thể gây thêm áp lực cho rừng…
Năng lượng gió, năng lượng mặt trời và thuỷ điện nhỏ là những mô hình hiệu
quả mà Việt Nam có thể áp dụng nhằm giảm bớt về nhu cầu năng lượng, nhất là
trong tình hình thiếu điện và giá xăng ngày càng lên cao như hiện nay.
Việt Nam hiện nay có nhiều lợi thế, với nhiều tiềm năng của các nguồn năng
lượng này chưa được khai thác, có mạng lưới điện quốc gia đến nhiều địa phương,
có kiến thức và kinh nghiệm về kỹ thuật (đặc biệt là thuỷ điện). Điều mà Việt Nam
cần hiện nay là một chính sách phù hợp để ứng dụng và phát triển những nguồn
năng lượng này trong tương lai.
1.4.
Các lợi ích của nguồn điện phân tán
1.4.1. Nâng cao độ tin cậy của lưới điện
Độ tin cậy của lưới điện là chỉ tiêu đánh giá khả năng cung cấp điện liên tục
cho các phụ tải. Độ tin cậy của lưới điện phụ thuộc vào độ tin cậy của từng phần tử
của lưới điện, như các nhà máy điện, các đường dây truyền tải điện, các trạm biến
áp, các trạm phân phối. Để đảm bảo độ tin cậy cho hệ thống điện, ngoài các phần tử
hoạt động thì người ta còn lắp đặt thêm các phần tử dự phòng (bao gồm dự phòng
nóng và dự phòng lạnh), việc này làm tăng các chi phí đầu tư cũng như các chi phí
vận hành bảo dưỡng hàng năm của lưới điện. Ngoài ra độ tin cậy còn phụ thuộc vào
cách thức vận hành lưới điện. Trong quá trình vận hành, người vận hành đưa vào
các thông số trạng thái của lưới điện để đưa ra các quyết định điều khiển, làm nâng
cao độ tin cậy khi xuất hiện một vấn đề về độ tin cậy của lưới điện. Mục đích chung
là để đảm bảo cung cấp điện cho các phụ tải một cách liên tục (đảm bảo độ tin cậy),
nếu có vấn đề nào đó xảy ra thì phải đảm bảo vấn đề đó nhanh chóng được giải
quyết và tác động đến ít phụ tải nhất.
điện phân tán, vị trí của nguồn điện phân tán, đặc tính điều khiển của nguồn điện
phân tán, độ tin cậy của nguồn điện phân tán…)
1.4.2. Nâng cao chất lượng điện năng
Đối với các ứng dụng hay các thiết bị điện của khách hàng trên lưới điện
nhạy cảm với các nhiễu động tần số và nhiễu động điện áp, thì nhu cầu về cung cấp
điện với chất lượng cao là rất cần thiết để tránh được các hư hỏng hay ngừng cung
cấp điện gây thiệt hại cho khách hàng. Các xung điện áp, độ lệch tần số, các sóng
hài bậc cao, các rung động nhỏ trong hệ thống và sự không cân bằng pha là các hiện
Học viên: Lê Thị Minh Trang
21
Ngành: Kĩ thuật điện 2009-2011
Luận văn thạc sĩ khoa học
tượng cần được quan tâm đến khi xét đến chất lượng điện năng, để tránh gây các
thiệt hại về kinh tế cho khách hàng.
Tuy rằng các tác động của chất lượng điện năng là rất lớn, nhưng rất khó có
thể định lượng được các thiệt hại do chất lượng điện năng thấp gây ra, cũng như chi
phí nâng cao chất lượng điện năng. Bởi các lý do sau:
- Các vấn đề liên quan đến chất lượng điện năng chỉ mang tính tức thời (một
phần của chu kỳ), rất khó có thể quan sát hay dự báo được.
- Sự thay đổi của phụ tải cũng dẫn đến sự thay đổỉ trong cách đánh giá chất
lượng điện năng. Ví dụ như ngày nay các thiết bị điện kỹ thuật số được sử dụng rất
rộng rãi, đây là thiết bị nhạy cảm với tần số, nên độ nhạy của các phụ tải đối với
thay đổi tần số trong hệ thống tăng lên. Vì vậy các yêu cầu đối với chất lượng điện
liên quan đến tần số ngày càng khắt khe hơn.