Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón tới sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa TH3-3 và giống P6 tại Gia Lâm - Hà Nội - Pdf 31

PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây lúa (Oryza Sativa L) là một trong những cây trồng cung cấp nguồn
lương thực quan trọng nhất của loài người, với 40% dân số thế giới sử dụng
lúa gạo làm thức ăn chính và có ảnh hưởng đến đời sống của ít nhất 65% dân số
thế giới.
Ở Việt Nam, việc áp dụng thành tựu về lúa lai đã có kết quả to lớn. Năng
suất lúa lai so với lúa thường tăng từ 20% trở lên và diện tích lúa lai ngày
càng tăng. Trước đây 10 năm, Việt Nam đã xuất khẩu được một lượng lúa gạo
lớn đứng thứ hai trên thế giới (FAO, 2006). Sản xuất lúa lai hiện nay ở Việt
Nam đã có nhiều công nghệ và giống mới được tạo ra.
Để góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc trồng lúa nhằm tăng thu
nhập cho những nông dân trồng lúa và bảo vệ môi trường, tiến tới xây dựng
nền nông nghiệp bền vững. Bộ NN và PTNT đã quyết định thành lập và xây
dựng chương trình “ba giảm ba tăng” áp dụng cho canh tác lúa.
Trong thời gian gần đây cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế,
ngành nông nghiệp nước ta đã tăng nhanh về năng suất và sản lượng lúa là
nhờ có sự đóng góp của công nghệ ưu thế lai và phân bón, trong đó mức phân
bón có vai trò quyết định lớn đến năng suất và hiệu quả kinh tế của ruộng lúa.
Vì vậy việc xác định ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến chỉ số diện tích
lá và trọng lượng tích lũy chất khô của lúa lai và lúa thuần ở từng giai đoạn
sinh trưởng khác nhau và mối quan hệ của chúng đối với năng suất hạt ở các
mùa vụ là việc làm hết sức cần thiết nhằm đạt năng suất và hiệu quả kinh tế
cao. Chính vì thế chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh
hưởng của liều lượng phân bón tới sinh trưởng, phát triển và năng suất
của giống lúa TH3-3 và giống P6 tại Gia Lâm - Hà Nội.”

1



2


PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam
2.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng, cho năng suất cao. Hiện nay
trên thế giới có khoảng trên 100 nước trồng lúa. Vùng trồng lúa tương đối
rộng: có thể trồng ở các vùng có vĩ độ cao như Hắc Long Giang (Trung Quốc)
530B; Tiệp 490B, Nhật, Italia, Nga (Krasnodar) 450B đến nam bán cầu, New
South Wales (úc): 350N. Vùng phân bố chủ yếu ở châu á từ 300B đến 100N.
Sản xuất lúa gạo trong những thập kỷ gần đây đã có mức tăng đáng kể,
nhưng do dân số tăng nhanh, nhất là ở các nước đang phát triển (Châu Á,
Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh) nên vấn đề lương thực vẫn là yêu cầu cấp bách
phải quan tâm trong những năm trước mắt và lâu dài.
Theo thống kê của Viện Nghiên cứu lúa quốc tế, cho đến nay lúa vẫn là
cây lương thực được con người sản xuất và tiêu thụ nhiều nhất. Chính vì vậy,
tổng sản lượng lúa trong vòng 30 năm qua đã tăng lên gấp hơn 2 lần: từ 257
triệu tấn năm 1965 lên tới 535 triệu tấn năm 1994. Cùng với nó, diện tích
trồng lúa cũng tăng lên đáng kể, năm 1970 diện tích trồng lúa toàn thế giới là
134.390 triệu ha, đến năm 1994 con số này đã lên tới 146.452 triệu ha. Trong
đó, các nước Châu Á vẫn giữ vai trò chủ đạo trong sản xuất và tiêu thụ lúa
gạo…[58], [68].
2.1.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Với điều kiện khí hậu nhiệt đới, Việt Nam có thể coi là cái nôi hình
thành cây lúa nước. Đã từ lâu, cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu, có
ý nghĩa đáng kể trong nền kinh tế và xã hội nước ta. Với địa bàn trải dài trên
15 vĩ độ Bắc bán cầu, từ Bắc vào Nam đã hình thành những đồng bằng châu
thổ trồng lúa phì nhiêu.

năng suất và chất lượng lúa, nhằm đáp ứng được nhu cầu lương thực cho
người dân và cho xuất khẩu [44] .

4


2.2 Tình hình sản xuất lúa lai trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất lúa lai trên thế giới
Hiện tượng ưu thế lai ở lúa được nghiên cứu từ nửa đầu thế kỷ 19 do
Jones J.W (1926) là người đầu tiên đã công bố về ưu thế lai ở lúa trên các tính
trạng năng suất và một số tính trạng số lượng. Từ đó đến nay, đã có nhiều nhà
khoa học khác tập trung nghiên cứu đặc điểm này ở lúa. Các công trình
nghiên cứu tập trung vào các vấn đề như: bản chất di truyền sự biểu hiện ưu
thế lai và các phương pháp khai thác ưu thế lai.
Các nhà khoa học Ấn Độ, Nhật Bản là những người đầu tiên đề xuất
mở rộng sản xuất lúa lai thương phẩm. Tại Viện lúa quốc tế - IRRI, các nhà
khoa học đã xây dựng chương trình nghiên cứu về lúa lai làm cơ sở cho phát
triển sản xuất lúa lai thương phẩm. Song tất cả họ đều chưa thành công vì
chưa tìm ra phương pháp thích hợp để sản xuất hạt lai [1].
Năm 1964, các nhà khoa học Trung Quốc đã tìm ra một dạng lúa dại
bất dục, sau đó họ đã thành công trong việc chuyển gen bất dục đực tế bào
chất vào lúa trồng tạo ra các dòng lúa bất dục đực (CMS) mở đường cho công
tác khai thác ưu thế lai thương phẩm sau này [7], [20], [74] .
Năm 1973, Trung Quốc đã sản xuất được hạt lai F1 hệ 3 dòng nhờ sử
dụng 3 loại dòng bố mẹ là: dòng bất dục tế bào chất, dòng duy trì bất dục và
dòng phục hồi hữu dục. Năm 1974, Trung Quốc đã giới thiệu một số tổ hợp
lai thuộc hệ 3 dòng với ưu thế lai rất cao như: Shan ưu 2, Shan ưu 6, Shan ưu
63.... Năm 1975, quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai hệ 3 dòng được hoàn thiện
và đưa ra sản xuất [20], [74].
Năm 1976, Trung Quốc đã sản xuất được hạt lai F1 và gieo cấy

Hầu hết các tổ hợp lai hai dòng đều cho năng suất cao và phẩm chất tốt hơn
so với các tổ hợp lai ba dòng [20]. Gần đây hướng nghiên cứu phát triển lúa
lai một dòng là mục tiêu cuối cùng rất quan trọng của công tác chọn giống lúa
lai ở Trung Quốc. Ý tưởng của Yuan L. P là cố định ưu thế lai và sản xuất lúa

6


lai thuần đã trở thành những đề tài lớn, quan trọng trong các chương trình
quốc gia về phát triển khoa học và công nghệ cao.
Như vậy, xu thế phát triển tất yếu của lúa lai, theo Yuan L.P đã khởi
xướng là phát triển từ hệ thống ba dòng đến hệ thống hai dòng và sau đó là
lúa lai hệ một dòng hay cố định ưu thế lai ở F1 thành lúa lai thuần [20] .
Sự phát triển thành công của công nghệ sản xuất lúa lai ở Trung Quốc
đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Hiện nay, có 17 nước
nghiên cứu và sản xuất lúa lai đã đưa tổng diện tích lúa lai của thế giới lên
khoảng 10% tổng diện tích trồng lúa và chiếm 20% tổng sản lượng lúa gạo
toàn thế giới, song phát triển mạnh nhất vẫn là Việt Nam và Ấn Độ. Lúa lai
thực sự đã mở ra hướng phát triển mới để nâng cao năng suất và sản lượng
lúa cho xã hội loài người [7] .
2.2.2 Tình hình sản xuất lúa lai ở Việt Nam
Việt Nam bắt đầu nghiên cứu lúa lai từ năm 1985, nhưng thực sự được
xúc tiến mạnh từ những năm 1990. Một số dòng bất dục đực tế bào chất, dòng
phục hồi và tổ hợp lúa lai ba dòng được nhập nội từ Trung Quốc và IRRI đã
được đánh giá. Những kết quả bước đầu đã xác định được một số dòng bố mẹ
và giống lúa lai thích ứng với điều kiện sinh thái và sản xuất của Việt Nam,
đem lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao (Quách Ngọc Ân, 2002).
Công tác nghiên cứu và chọn tạo các giống lúa lai ở Việt Nam cũng
được thúc đẩy mạnh mẽ, tập trung vào việc thu thập, đánh giá các dòng bất
dục đực nhập nội, sử dụng các phương pháp chọn giống truyền thống như lai

Ngoài ra, một số nghiên cứu về sinh lý của cây lúa lai đã cho thấy: ưu
thế lai về năng suất hạt của một số tổ hợp lai được tạo bởi ưu thế lai về diện
tích lá ở giai đoạn đẻ nhánh và trỗ, một số khác do ưu thế lai về cường độ
quang hợp. Các nghiên cứu về phân bón cho thấy, khi tăng lượng phân bón
thì chỉ số diện tích lá (LAI), khối lượng chất khô trên toàn cây (DM), tốc độ
tích lũy chất khô (CGR) của lúa lai tăng vượt so với lúa thuần, đặc biệt ở giai

8


đoạn sau cấy 4 tuần; năng suất của lúa lai tăng nhiều hơn năng suất lúa thuần
và có tương quan thuận ở mức có ý nghĩa với LAI và CGR ở giai đoạn đầu
của quá trình sinh trưởng [9], [10].
Công tác nghiên cứu, chọn tạo lúa lai hai dòng cũng được xúc tiến
mạnh mẽ ở Việt Nam. Các nghiên cứu hiện nay tập trung vào một số lĩnh vực
như chọn tạo, đánh giá các đặc tính nông sinh học của các dòng TGMS; tiến
hành lai thử để tìm tổ hợp lai cho ưu thế lai cao; xây dựng quy trình nhân
dòng bất dục và sản xuất hạt lai F1. Một số tác giả đã có các nghiên cứu ban
đầu về bản chất di truyền và khả năng phối hợp của một số vật liệu hiện có.
Đã có hơn 20 dòng TGMS mới được chọn tạo tại Việt Nam [ 43], tuy
nhiên chỉ một số dòng như 103S, T1S-96 được sử dụng rộng rãi trong việc
chọn tạo các tổ hợp lúa lai hai dòng mới phát triển vào sản xuất. Các dòng
này cho con lai ngắn ngày, chất lượng gạo khá tốt, đặc biệt dễ sản xuất hạt lai
nên năng suất hạt lai cao, giá thành hạ (Phạm Đồng Quảng, 2005).
Các nhà chọn giống lúa lai trong nước cũng đã tiến hành chọn tạo các
dòng PGMS mới, có tính cảm quang, phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Phương pháp tiến hành là lai chuyển các gen cảm ứng với độ dài ngày với
giống lúa có nguồn gốc xuất xứ xa với vùng phát sinh của giống khởi đầu để
tìm kiểu phản ứng với pha sáng ngắn hơn. Cơ sở của phương pháp này là tính
cảm ứng với quang chu kỳ có thể biến đổi khi tồn tại ở các môi trường khác

Trong toàn bộ đời sống của cây lúa có thể chia ra hai thời kỳ sinh
trưởng chủ yếu là sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực.
Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng được tính từ lúc gieo đến lúc làm
đòng, là thời kỳ cây lúa hình thành và phát triển lá, rễ, nhánh. Ở lúa cấy thời
kỳ này có thể chia ra các giai đoạn: mạ ở ruộng mạ và đẻ nhánh ở ruộng cấy.
Trong đó giai đoạn mạ kéo dài khoảng 20 ngày từ khi gieo mạ đến khi cây có
khoảng 4-5 lá; giai đoạn đẻ nhánh kéo dài khoảng 40 ngày từ khi cấy đến khi
cây lúa bắt đầu có đòng; trong đó 10-13 ngày đầu là giai đoạn bén rễ hồi

10


xanh, giai đoạn đẻ nhánh hữu hiệu chỉ khoảng 20 ngày tiếp theo. Thời kỳ sinh
trưởng dinh dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành số bông, là yếu
tố cấu thành năng suất có ý nghĩa quyết định đối với cây lúa.
Thời kỳ sinh trưởng sinh thực, bắt đầu từ lúc làm đòng cho đến khi thu
hoạch, bao gồm các quá trình làm đòng, trỗ bông và hình thành hạt. Thời kỳ
này quyết định các yếu tố cấu thành năng suất: số hạt trên bông, tỷ lệ hạt chắc
và trọng lượng 1000 hạt, là thời kỳ có ảnh hưởng trực tiếp nhất đến năng suất
thu hoạch.
Liên quan tới TGST của cây lúa, các giống lúa được chia ra: giống cực
ngắn ngày, giống ngắn ngày và giống dài ngày. Trong bón phân cho lúa cần
chú ý: các giống cực ngắn ngày (chín sớm) có giai đoạn sinh trưởng dinh
dưỡng ngắn, vì vậy có thể bắt đầu phân hóa đòng trước giai đoạn đẻ nhánh tối
đa. Các giống dài ngày (chín muộn) có giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng dài
và đạt số dảnh tối đa trước khi bắt đầu phân hóa đòng, thời kỳ từ đẻ nhánh tối
đa đến đầu phân hóa đòng có lúc bị kéo dài. Các giống ngắn ngày có độ dài
của giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng vừa phải, cây bắt đầu phân hóa đòng
ngay sau giai đoạn đẻ nhánh tối đa.
2.3.2 Đặc điểm hệ rễ của cây lúa

2.3.3.1 Yêu cầu dinh dưỡng đạm của cây lúa và lúa lai
Đạm là một yếu tố dinh dưỡng quan trọng, quyết định sự sinh trưởng
và phát triển của cây trồng. Đạm là một trong những nguyên tố cơ bản của
cây trồng, là thành phần cơ bản của axit amin, axit nucleotit và diệp lục.
Trong thành phần chất khô của cây có chứa từ 0,5 – 6% đạm tổng số. Hàm
lượng đạm trong lá liên quan chặt chẽ với cường độ quang hợp và sản sinh
lượng sinh khối. Đối với cây lúa thì đạm lại càng quan trọng hơn, nó có tác
dụng trong việc hình thành bộ rễ; thúc đẩy nhanh quá trình đẻ nhánh và sự
phát triển thân lá của lúa dẫn đến làm tăng năng suất lúa. Do vậy, đạm thúc

12


đẩy cây sinh trưởng nhanh (chiều cao, số dảnh) và tăng kích thước lá, số hạt,
tỷ lệ hạt chắc, hàm lượng protein trong hạt. Đạm ảnh hưởng đến tất cả các chỉ
tiêu sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa.
Đạm ảnh hưởng lớn đến việc hình thành đòng và bông lúa sau này, sự
hình thành số hạt trên bông, tỷ lệ hạt chắc, trọng lượng nghìn hạt…
Lúa là cây trồng rất mẫn cảm với việc bón đạm. Nếu giai đoạn đẻ
nhánh mà thiếu đạm sẽ làm năng suất lúa giảm do đẻ nhánh ít, dẫn đến số
bông ít. Nếu bón không đủ đạm sẽ làm thấp cây, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ,
lá có thể biến thành màu vàng, bông đòng nhỏ, từ đó làm cho năng suất giảm.
Nhưng nếu bón thừa đạm lại làm cho cây lúa có lá to, dài, phiến lá mỏng, dễ
bị sâu bệnh, dễ lốp đổ; ngoài ra chiều cao phát triển mạnh, nhánh vô hiệu
nhiều, trỗ muộn, năng suất giảm. Khi cây lúa được bón đủ đạm thì nhu cầu tất
cả các chất dinh dưỡng khác như lân và kali đều tăng [45], [46]. Theo Bùi
Huy Đáp [18], đạm là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất lúa, cây có đủ
đạm thì các yếu tố khác mới phát huy hết được tác dụng.
Lúa lai có đặc tính đẻ nhánh sớm, đẻ nhiều và đẻ tập trung hơn lúa
thuần. Do đó yêu cầu dinh dưỡng đạm của lúa lai nhiều hơn lúa thuần. Khả

Khi cây lúa được cung cấp lân thoả đáng sẽ tạo điều kiện cho bộ rễ phát
triển tốt, tăng khả năng chống hạn, tạo điều kiện cho sinh trưởng, phát triển,
thúc đẩy sự chín của hạt và cuối cùng là tăng năng suất lúa [47].
Đào Thế Tuấn, 1963 [50] cho biết: bón phân có ảnh hưởng đến phẩm
chất hạt giống rõ rệt, làm tăng trọng lượng nghìn hạt, tăng tỉ lệ lân trong hạt,
tăng số hạt trên bông và cuối cùng là cho năng suất lúa cao hơn.
Bùi Huy Đáp, 1980 [18] cho rằng: lân có vai trò quan trọng đối với quá
trình tổng hợp đường, tinh bột trong cây lúa và có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất.

14


Theo Vũ Hữu Yêm, 1995 [57], cây non rất mẫn cảm với việc thiếu lân.
Thiếu lân trong thời kỳ cây non cho hiệu quả rất xấu, sau này dù có bón nhiều
lân thì cây cũng trỗ không đều hoặc không thoát. Do vậy, cần bón đủ lân ngay
từ giai đoạn đầu và bón lót phân lân là rất có hiệu quả.
Dinh dưỡng lân có liên quan mật thiết với dinh dưỡng đạm. Nếu bón đủ
lân sẽ làm tăng khả năng hút đạm và các chất dinh dưỡng khác. Cây được bón
cân đối N, P sẽ xanh tốt, phát triển mạnh, chín sớm, cho năng suất cao và
phẩm chất tốt.
Như vậy, muốn cho cây lúa sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao
thì không những cần cung cấp đầy đủ đạm mà còn cần cung cấp đầy đủ cả lân
cho cây lúa [53], [56], [57].
Hầu hết các thí nghiệm trong chậu và ngoài đồng đều cho thấy hiệu
suất sử dụng lân ở lúa lai là 10-12 kg thóc/kg P 2O5, cao hơn so với lúa thuần
chỉ đạt 6-8 kg thóc/kg P2O5.
2.3.3.3 Yêu cầu dinh dưỡng kali của cây lúa và lúa lai
Kali có vai trò không kém phần quan trọng đối với sự sinh trưởng của lúa
vì kali có tác dụng xúc tiến sự di chuyển của các chất đồng hoá trong cây.
Ngoài ra kali còn làm cho sự di động sắt trong cây được tốt do đó ảnh hưởng

8,7% tổng lượng hút. Như vậy trong suốt quá trình sinh trưởng, cường độ hút
kali của lúa lai luôn cao. Đây là đặc điểm dinh dưỡng rất đặc trưng về hút các
chất dinh dưỡng của lúa lai. Vì vậy để có năng suất cao cần coi trọng bón kali
cho lúa lai
2.4 Tình hình sử dụng phân bón cho sản xuất lúa
2.4.1 Cơ sở lý luận của việc bón phân cho cây lúa
Đối với sản xuất nông nghiệp, phân bón đóng một vai trò quan trọng
trong việc tăng năng suất. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Việt Nam đã sử
dụng phân bón vô cơ trong nông nghiệp và ngày càng tiến bộ. Đặc biệt trong
những năm gần đây, có rất nhiều giống lúa lai được đưa vào sử dụng, có khả

16


năng chịu phân rất tốt, là tiền đề cho việc thâm canh cao, nhằm không ngừng
tăng năng suất lúa. Đối với cây lúa, đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng
nhất, nó giữ vai trò quyết định trong việc tăng năng suất. Với lúa lai, vai trò
của phân bón kali cũng có vai trò quan trọng tương đương với đạm.
Theo Nguyễn Như Hà, 2005 [23], nhu cầu về đạm của cây lúa có tính
chất liên tục trong suốt thời gian sinh trưởng của cây. Theo Vũ Hữu Yêm,
1995 [57], hàm lượng đạm trong cây và sự tích luỹ đạm qua các giai đoạn
phát triển của cây lúa cũng tăng rõ rệt khi tăng liều lượng đạm bón. Nhưng
nếu quá lạm dụng đạm thì cây trồng phát triển mạnh, lá to, dài, phiến lá
mỏng, tăng số nhánh đẻ vô hiệu, trỗ muộn, đồng thời dễ bị lốp đổ và nhiễm
sâu bệnh, làm giảm năng suất. Ngược lại, thiếu đạm cây lúa còi cọc, đẻ nhánh
kém, phiến lá nhỏ, trỗ sớm. Hiệu lực của đạm còn phụ thuộc vào các yếu tố
dinh dưỡng khác. Thông thường các giống lúa có tiềm năng năng suất cao bao
giờ cũng cần lượng đạm cao; dinh dưỡng càng đầy đủ thì càng phát huy được
tiềm năng năng suất [57].
Theo De Datta S.K [64] cho rằng, đạm là yếu tố hạn chế năng suất lúa


Năm

2005
2010
2015
2020
Tổng số
1.900
2.100
2.100
2.100
Urê
Sản xuất trong nước
750
1.600
1.800
2.100
Nhập khẩu
1150
500
300
0.0
Tổng số
500
500
500
500
KCL
Sản xuất trong nước

hợp để bón trên các loại đất lúa thoái hoá. Phân đạm nitrat có thể dùng để bón
thúc ở thời kỳ đòng, đặc biệt hiệu quả khi bón trên đất chua mặn.
Đất chua trồng lúa, bón phân lân nung chảy thường cho kết quả ngang
phân supe lân hay có thể cao hơn do trong điều kiện ngập nước cũng dễ cung
cấp cho lúa mà lại ít bị rửa trôi và còn cung cấp cả Silic, là yếu tố dinh dưỡng
có nhu cầu cao ở cây lúa. Tuy nhiên nếu cần bón thúc lân và trồng lúa trên đất
nghèo lưu huỳnh (đất bạc màu bón ít phân hữu cơ) thì phải dùng phân lân supe.
Loại phân kali thích hợp bón cho lúa là kali clorua.
Ngoài ra, còn thường sử dụng các loại phân NPK, đặc biệt tốt là các
loại phân chuyên dùng cho lúa, phù hợp với điều kiện của từng vùng đất trồng
Khả năng chịu chua của cây lúa khá, nhưng ở đất quá chua, cây lúa
sinh trưởng kém, có thể do nhôm hoà tan gây ra vì hiện tượng ngộ độc nhôm
ít thấy trên các loại đất có pH trên 5,5. Mặt khác, sau khi đưa nước vào ruộng,
đất có thể bị chua hơn, nên bón vôi là biện pháp quan trọng ở đất lúa nước
quá chua và việc bón vôi phải được kết hợp với một chế độ bón phân hợp lý
thì mới thu được kết quả mong muốn nhất.
2.4.3.2. Lượng phân bón cho lúa ở các vùng trồng lúa chính

19


Liều lượng phân chuồng thường bón 7-10 tấn/ha, vụ mùa nên bón
nhiều hơn. Liều lượng phân khoáng bón cho lúa phụ thuộc vào năng suất kế
hoạch (đặc điểm của giống, loại hình cây), độ phì của đất, các điều kiện khí
hậu (mùa vụ) và khả năng cân đối với các loại phân khác. Giống năng suất
cao cần bón nhiều hơn so với các giống lúa thường, lúa địa phương, lúa vụ
xuân thường bón nhiều hơn lúa vụ mùa, trồng lúa trên đất có độ phì cao cần
giảm lượng phân bón.
Do hệ số sử dụng phân đạm của cây lúa không cao nên lượng đạm cần
bón phải cao hơn nhiều so với nhu cầu. Lượng đạm bón dao động từ 60-160

N
P2O5
K2O
90-120
60-80
40-60


Các tỉnh

Các tỉnh
Phía Nam

Lúa lai
140-160 80-100
Mùa
Thuần
80-100
40-60
Lúa lai
120-140
60-80
Địa phương
60-80
30-50
Đông xuân
Thuần
100-120
40-60
Lúa lai

60-100
30-50
40-60
80-100
40-60
80-100
30-40
30-40
30-40
30-50
30-40

2.4.3.3 Phương pháp bón phân cho lúa
Thời kỳ bón đạm ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và năng suất lúa. Thời
kỳ bón đạm phụ thuộc vào đặc điểm giống lúa, mùa vụ, thành phần cơ giới
đất và trình độ thâm canh. Không thể có một hướng dẫn chung về thời kỳ bón
đạm cho tất cả các giống, mùa vụ và đất trồng. Bón đạm sớm tạo nhiều bông,
bón đạm muộn tăng hạt là chủ yếu, bón đạm vào giai đoạn đòng làm tăng tỷ
lệ protein trong hạt. Thời kỳ bón phân đạm cho lúa thường gồm: bón lót và
bón thúc đẻ nhánh, thúc đòng, ngoài ra có thể có bón nuôi hạt.
* Bón phân lót cho lúa
Trong bón phân cho lúa thường bón lót toàn bộ phân chuồng và phân
lân, một phần phân đạm và kali. Thường bón lót phân chuồng trong quá trình
làm đất, phân lân, phân kali cùng với phân đạm bón trước khi cày bừa lần cuối.
Cây lúa hút khá nhiều lân trong các giai đoạn sinh trưởng đầu và giai
đoạn cây con, lúa bị khủng hoảng lân, do vậy phân lân cần được bón lót toàn
bộ hoặc bón lót và thúc sớm. Phân lân nên bón rải đều trên mặt ruộng trước
khi cầy bừa lần cuối để gieo cấy.
Nên bón lót nhiều phân kali trong các trường hợp sau: trồng giống đẻ
nhánh nhiều hay ngắn ngày, lúa có hiện tượng bị ngộ độc sắt, đất có khả năng

thời kỳ sinh trưởng đầu của cây lúa bị kéo dài.

22


Bón thúc đạm cho lúa tốt nhất là bón sau khi rút nước ruộng do có thể
làm tăng gấp đôi hiệu lực của phân bón so với ruộng có nhiều nước. Không
nên rút nước quá 1 ngày trước khi bón thúc vì việc rút nước trong một thời
gian dài thúc đẩy cỏ dại phát triển và làm mất đạm, đồng thời ruộng sau khi
bón phân phải được đưa nước vào ngay sau một ngày bón đạm. Dùng máy trừ
cỏ có trục quay để trộn lẫn phân đạm vào đất cũng tăng được hiệu lực của
phân đạm, đặc biệt là khi bón thúc sớm và cấy sâu.
* Phân bón thúc đòng
Bón thúc đòng cho lúa thường sử dụng phối hợp phần phân đạm và kali
còn lại nhằm tiếp tục cung cấp đạm cho lúa để tạo được bông lúa to, có
nhiều hạt chắc, nâng cao hệ số kinh tế cho cây lúa, đạt năng suất cao. Bón
đòng tốt nhất là bón sau khi phân hoá đòng vào khoảng 40-45 ngày sau khi
gieo, cấy.
Bảng 2.3: Chuẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng qua lá của cây lúa

Loại
dinh
N
dưỡng
P
K
Ca
Mg
S



tốt, lượng đạm bón tối thích cao hơn nhiều.
Nếu vừa thu hoạch hạt thóc, vừa lấy rơm rạ khỏi đồng ruộng thì bón
phân nhiều hơn, đặc biệt là phân kali, do khá nhiều kali bị lấy đi khỏi đồng
ruộng theo rơm rạ, nhưng nếu không lấy rơm rạ khỏi đồng ruộng thì chỉ
khoảng 5% lượng kali bị lấy đi theo sản phẩm thu hoạch qua hạt. Khoáng
trong đất, rạ và nước tưới là nguồn kali cung cấp cho cây.
Ở đất nhẹ nhiều cát cây cần kali hơn, đồng thời các giống năng suất cao
cần nhiều kali hơn.
2.5 Những kết quả nghiên cứu phân bón đối với cây lúa
2.5.1 Kết quả nghiên cứu về phân đạm đối với cây lúa
Nhu cầu đạm của cây lúa đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới đi
sâu nghiên cứu và có nhận xét chung là: nhu cầu đạm của cây lúa có tính chất
liên tục từ đầu thời kỳ sinh trưởng cho đến lúc thu hoạch. Trong suốt quá
trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, có hai thời kỳ mà nhu cầu dinh
dưỡng đạm cao nhất đó là thời kỳ đẻ nhánh rộ và thời kỳ làm đòng. Ở thời kỳ
đẻ nhánh rộ cây hút nhiều đạm nhất [8], [31].

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status