Tác động tự do hóa tài khoản vốn đến bất bình đẳng thu nhập - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ TUYẾT HOA

TÁC ĐỘNG TỰ DO HÓA TÀI KHOẢN VỐN ĐẾN
BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ TUYẾT HOA

TÁC ĐỘNG TỰ DO HÓA TÀI KHOẢN VỐN ĐẾN
BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. TRẦN NGỌC THƠ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016


1.3

Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 5

1.4

Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài .................................................................... 6

1.5

Bố cục của đề tài .......................................................................................... 6

CHƯƠNG 2 tổng quan các nghiên cứu trước đây.......................................................... 8
2.1

Tổng quan các nghiên cứu .......................................................................... 8

2.1.1

Một số khái niệm ......................................................................................... 8

2.1.1.1

Tự do hóa tài chính ...................................................................................... 8

2.1.1.2

Bất bình đẳng thu nhập và các yếu tố tác động......................................10

2.1.2

Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................33

3.2

Mô hình nghiên cứu...................................................................................35

3.2.1

Mô tả biến ...................................................................................................35

3.2.1.1

Biến phụ thuộc ...........................................................................................35

3.2.1.2

Các biến kiểm soát chính và kỳ vọng dấu ..............................................36

3.2.1.3

Các biến kiểm soát bổ sung và kỳ vọng dấu ..........................................40

3.2.2

Lựa chọn phương pháp và mô hình nghiên cứu.....................................45

3.2.2.1

Giới thiệu chung về dữ liệu bảng.............................................................45


TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ARDL

: Mô hình tự hồi quy phân phối trễ

AREAER

: Cơ chế tỷ giá và những hạn chế ngoại hối

DGMM

: Phương pháp GMM sai phân

EU-KLEMS : Bộ dữ liệu được xây dựng dựa trên vốn từ thị trường cổ phiếu (k), số
giờ lao động (L), năng lượng (E), trang thiết bị (M) và dịch vụ (S) do
Liên Minh Châu Âu xây dựng
GDP

: Tổng sản phẩm quốc nội

GMM

: Phương pháp hồi quy với biến công cụ

GNP



WB

: Ngân hàng thế giới

WIID

: Cơ sở dữ liệu bất bình đẳng thu nhập thế giới

WLS

: Phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất có trọng số.


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Danh mục 35 quốc gia nghiên cứu ............................................................... 34
Bảng 3.2. Danh mục biến và nguồn dữ liệu .................................................................. 44
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu............................................................ 51
Bảng 4.3: Kết quả hồi quy với mô hình cơ bản ............................................................ 53
Bảng 4.3: Kết quả hồi quy với mô hình cơ bản (tiếp theo) ......................................... 54


DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Đường cong Lorenz ......................................................................................... 11
Hình 2.2: Tác động tự do hóa tài khoản vốn khi v thấp .............................................. 27
Hình 2.3: Tác động tự do hóa tài khoản vốn khi v cao ................................................ 28
Hình 2.4: Đường cong Lorenz ........................................................................................ 29
Hình 4.1: Gini và KAOPEN............................................................................................ 52
Bảng 4.2: Tương quan các biến nghiên cứu.................................................................. 52



Lý do chọn đề tài

Tăng trưởng kinh tế là một trong những mối quan tâm hàng đầu của đa số các quốc
gia trên thế giới. Tuy nhiên, phát triển kinh tế bền vững (cách thức phát triển mà các
vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường được xem xét trong mối liên hệ lẫn nhau
nhằm đạt mục tiêu “thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến
khả năng thỏa mãn nhu cầu của thế hệ tương lai”1 ) mới là mục tiêu cuối cùng của
toàn xã hội. Vì vậy những vấn đề về nghèo đói và bất bình đẳng cũng nhận được sự
quan tâm không nhỏ của các học giả, đặc biệt là vấn đề bất bình đẳng trong thu nhập.
2 Các

nhà kinh tế học quan tâm đến bất bình đẳng không chỉ vì khía cạnh công bằng

xã hội mà còn vì những ảnh hưởng đến khả năng phát triển của một quốc gia. Về mặt
công bằng xã hội, bất bình đẳng có thể được xem như một dạng nghèo trên phương
diện phân phối. Ở một số quốc gia, khi tăng trưởng kinh tế càng nhanh thì bất bình
đẳng trong phân phối thu nhập càng lớn khiến tình trạng đói nghèo càng trở nên gay
gắt. Bất bình đẳng còn được chú ý vì ba lý do sau đây: thứ nhất, bất bình đẳng lớn
trong thu nhập có thể dẫn đến tình trạng kinh tế kém hiệu quả. Những nhóm có thu
nhập thấp sẽ không có điều kiện tiếp cận vốn và đầu tư. Thứ hai, bất bình đẳng cao
khiến việc phân bổ các nguồn lực kém hiệu quả. Chẳng hạn, chính phủ sẽ đầu tư
nhiều hơn cho giáo dục bậc cao chứ không phải giáo dục cơ bản; hoặc tập trung đất
đai cho một tập hợp những cá nhân giàu có, khiến cho những nông dân nhỏ có hoạt
động kinh doanh hiệu quả không được hỗ trợ. Thứ ba: bất bình đẳng chứa đựng những
bất ổn xã hội cũng như tính đoàn kết. Xã hội có bất bình đẳng cao có xu hướng củng
cố quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị của nhóm giàu có, khi đó những phúc lợi
liên quan đến người nghèo thì khó cải thiện. Xung đội giai cấp vì thế có thể bùng nổ,

1 2 Giáo

mức độ hội nhập kinh tế, tự do hóa thương mại lên mức độ bất bình đẳng trong thu
nhập được nghiên cứu khá nhiều, trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Tuy nhiên,
những nghiên cứu về tác động của tự do hóa tài khoản vốn đến phân phối thu nhập là


3

khá ít. Một trong số những nghiên cứu là nghiên cứu của Mauricio Larrain (2013),
Prakash Loungani (2015) và Silke Bumann, Robert Lensink (2015). Những nghiên
cứu này đều cho thấy tự do hóa vốn làm tăng bất bình đẳng thu nhập.
Trong một phạm vi rộng hơn, nhiều nhà kinh tế nghiên cứu tác động của tự do hóa
tài chính đến bất bình đẳng thu nhập. Tiêu biểu như nghiên cứu của Cornia và Kiiski
(2001), Ang (2010), Agnello và cộng sự (2012), Jaumotte và cộng sự (2013), Delis
và cộng sự (2014). Những nghiên cứu này cung cấp bằng chứng khác nhau về tác
động của tự do hóa tài chính đến bất bình đẳng thu nhập. Nghiên cứu của Cornia và
Kiiski (2001) cho thấy các chính sách tự do hóa tài chính làm tăng bất bình đẳng thu
nhập ở nhiều nước đang phát triển. Ang (2010), tập trung nghiên cứu vào Ấn Độ, kết
quả là tự do hóa tài chính làm tăng bất bình đẳng thu nhập, tuy nhiên sự phát triển tài
chính làm giảm bất bình đẳng thu nhập. Trong một bảng dữ liệu của 62 quốc gia trong
giai đoạn 1973-2005, Agnello và cộng sự (2012) tìm thấy bằng chứng chứng minh
rằng những cải cách tài chính (tăng tự do hóa tài chính) làm giảm bất bình đẳng thu
nhập. Giống với Agnello và cộng sự (2012), kết quả nghiên cứu của Delis và cộng sự
(2014) cho thấy tự do hóa tài chính giảm bất bình đẳng thu nhập của mẫu nghiên cứu
trong giai đoạn 1997-2005, đặc biệt những chính sách nhằm tăng cường tư nhân hóa
các tổ chức tài chính, loại bỏ sự kiểm soát tín dụng và hạ thấp rào cản chu chuyển
vốn là những yếu tố chính làm giảm bất bình đẳng thu nhập. Mặc dù vậy, tác động
này yếu đi, và trở nên không đáng kể cho các nước có thu nhập thấp. Jaumotte và
cộng sự (2013) cũng thấy rằng toàn cầu hóa thương mại dẫn đến sự bất bình đẳng thu
nhập ít hơn, trong khi toàn cầu hóa tài chính gây ra bất bình đẳng lớn hơn.
Bằng việc thiết lập một mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa tự do hóa tài khoản

dụng tư nhân/GDP) hay không? Để thực hiện mục tiêu trên, bài nghiên cứu lần lượt
xem xét trả lời những câu hỏi sau:
Thứ nhất: liệu có tồn tại sự ảnh hưởng của tự do hóa tài khoản vốn lên bất bình đẳng
thu nhập ở các quốc gia có thu nhập trung bình thấp hay không?
Thứ hai: nếu có tồn tại sự ảnh hưởng của tự do hóa tài khoản vốn lên bất bình đẳng
thu nhập thì sự ảnh hưởng đó là như thế nào?


5

Thứ ba: sự phát triển tài chính được đại diện bằng biến Tín dụng tư nhân/GDP (độ
sâu tài chính) ảnh hưởng như thế nào đến mối quan hệ giữa tự do hóa tài khoản vốn
và bất bình đẳng thu nhập?
Dựa vào những phương pháp kinh tế lượng phát triển trong thời gian gần đây, bài
nghiên cứu xem xét ảnh hưởng độc lập và đồng thời của các biến số lên biến phụ
thuộc - bất bình đẳng thu nhập. Điều này cho phép khả năng có thể có những góc
nhìn đúng đắn và toàn diện hơn về ảnh hưởng của các nhân tố lên biến phụ thuộc

1.3

Phương pháp nghiên cứu

Để xem xét ảnh hưởng của tự do hóa tài khoản vốn lên bất bình đẳng thu nhập ở các
quốc gia có thu nhập trung bình thấp, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên
cứu định lượng, hồi quy dựa trên một bảng dữ liệu động không đồng nhất. Cụ thể
hơn, tác giả sử dụng công cụ GMM sai phân (DGMM) để xem xét mối quan hệ giữa
tự do hóa tài khoản vốn đến bất bình đẳng thu nhập cũng như xem xét vai trò của phát
triển tài chính. DGMM là một phương pháp thống kê cho phép kết hợp các dữ liệu
kinh tế quan sát được trong các điều kiện moment tổng thể sử dụng các biến công cụ
để ước lượng các tham số chưa biết của mô hình.

nguồn lực tài chính, tối thiểu hóa rủi ro và chi phí sử dụng vốn. Nhưng trong điều
kiện hệ thống tài chính chưa phát triển cao, sự tiếp cận của các cá nhân với những
nguồn tài trợ còn hạn chế, toàn cầu hóa tài chính (không có kiểm soát và chiến lược)
sẽ làm gia tăng vấn đề bất bình đẳng giữa các chủ thể trong xã hội, làm chậm con
đường phát triển bền vững của các quốc gia. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của các biến số
kinh tế khác lên bất bình đẳng thu nhập cũng được xem xét trong bài nghiên cứu bao
gồm tăng trưởng kinh tế, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, lạm phát, mở cửa
thương mại, tốc độ tăng trưởng dân số, tỷ lệ người phụ thuộc và tỷ lệ hoàn thành tiểu
học. Đây chính là điều kiện để hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô với sự kết hợp
đồng bộ trên nhiều khía cạnh cho mục tiêu phát triển kinh tế trong dài hạn.

1.5

Bố cục của đề tài

Ngoài các phần tóm tắt, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng, danh mục hình, danh
mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của bài nghiên cứu bao gồm 5 chương
sắp xếp theo bố cục như sau:
Chương một: giới thiệu về đề tài. Trong chương này, bài nghiên cứu đưa ra lý do
chọn đề tài cũng như tổng quan về mục tiêu, phương pháp, ý nghĩa của bài nghiên
cứu.


7

Chương hai: trình bày tổng quan lý thuyết, các nghiên cứu trước đây về tác động của
từ do hóa tài khoản vốn đến bất bình đẳng thu nhập trên thế giới, mô hình lý thuyết
do Silke Bumann, Robert Lensink (2015) xây dựng về mối quan hệ giữa tự do hóa tài
khoản vốn, độ sâu tài chính và bất bình đẳng thu nhập.
Chương ba: trình bày phương pháp và dữ liệu nghiên cứu. Chương này giới thiệu về

những quan ngại về vấn đề bất bình đẳng thu nhập tại các quốc gia, về các tác động
khác nhau của tự do hóa tài chính nói chung và tự do hóa tài khoản vốn nói riêng đến
mức thu nhập, dẫn đến các cuộc tranh luận lý thuyết lẫn thực tiễn (Atkinson và
Morelli, 2011). Do vậy, nhiều học giả đã xây dựng cơ sở lý thuyết cũng như tiến hành
nghiên cứu thực nghiệm trên nhiều bộ mẫu dữ liệu khác nhau, trong những khoảng
thời gian khác nhau, với những phương pháp thống kê khác nhau và rút ra được những
kết quả không giống nhau.
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1

Tự do hóa tài chính

Hầu hết các nhà kinh tế đi tiên phong trong việc nghiên cứu tự do hóa tài chính đều
không định nghĩa trực tiếp tự do hóa tài chính mà tiếp cận theo hướng ngược lại, đó
là “kiềm chế tài chính”. Theo Ronald McKinnon (1973) và Edward Shaw (1973),
kiềm chế tài chính là tập hợp những quy định của chính phủ, luật pháp và các biện
pháp phi thị trường khác khiến cho các trung gian tài chính trong một nền kinh tế
không thể hoạt động hết công suất. Các chính sách này bao gồm quy định về trần lãi
suất, tỷ lệ thanh khoản, yêu cầu dự trữ bắt buộc, các biện pháp kiểm soát vốn, quy


9

định trong việc tiếp cận thị trường tài chính… Như vậy, kiềm chế tài chính là tập hợp
những quy định của chính phủ trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Và tự do hóa
tài chính tức là gỡ bỏ những quy định này để các trung gian tài chính hoạt động hết
công suất, phân bổ vốn hiệu quả. Chia theo chiều dọc thì tự do hóa tài chính bao gồm
tự do hóa trên thị trường tiền tệ và tự do hóa trên thị trường vốn. Chia theo chiều
ngang, tự do hóa tài chính được phân làm hai cấp độ: tự do hóa tài chính nội địa và
tự do hóa tài chính quốc tế.

vốn trong nền kinh tế, nhưng trong một quốc gia mà hệ thống tài chính chưa phát
triển thì nguồn vốn tăng thêm này không thể đến được tất cả các chủ thể trong nền
kinh tế. Hoặc nếu hệ thống pháp luật không quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của
các bên tham gia, các quy định về việc công bố thông tin cũng như việc đảm bảo thi
hành các hợp đồng, vấn đề bất cân xứng thông tin và rủi ro đạo đức lớn thì nguồn vốn
tăng thêm nhờ tự do hóa tài khoản vốn cũng không hoạt động có hiệu quả. Nói tóm
lại, tự do hóa tài khoản vốn và độ sâu tài chính giống như hai mặt của một vấn đề, tác
động qua lại lẫn nhau. Tự do hóa tài khoản vốn tạo áp lực thúc đẩy hệ thống tài chính
trong nước phát triển. Hệ thống tài chính phát triển, đến lượt nó sẽ làm tăng hiệu quả
của quá trình tự do hóa tài khoản vốn.
2.1.1.2

Bất bình đẳng thu nhập và các yếu tố tác động

Bất bình đẳng kinh tế (còn được gọi là khoảng cách giàu nghèo, bất bình đẳng thu
nhập) là chênh lệch giữa các cá nhân, các nhóm trong xã hội hay giữa các quốc gia
trong việc phân phối các tài sản, sự giàu có, hay thu nhập.
Theo các lý thuyết kinh tế hiện đại thì có nhiều cách để đo lường bất bình đẳng trong
thu nhập.
Tiếp cận theo quy mô: sắp xếp các cá nhân theo mức thu nhập tăng dần, rồi chia
tổng dân số thành các nhóm, thường là 5 nhóm có quy mô như nhau theo mức thu
nhập tăng dần. Khi đo lường mức độ bất bình đẳng, tính chi tiêu tỷ lệ thu nhập
bình quân của nhóm 20% hộ gia đình giàu nhất với thu nhập của nhóm 20% hộ gia
đình nghèo nhất.


11

Đường cong Lorenz 6 : một cách tiếp cận khác là xây dựng đường cong Lorenz,
được phát triển bởi Max.O.Lorenz từ năm 1905 để thể hiện sự phân phối thu nhập.

6

Đường cong Lorenz được lấy theo tên của Conrad Lorenz, một nhà thống kê người Mỹ năm 1950

đã nghĩ ra biểu đồ thuận tiện và sử dụng rộng rãi này để biểu thị quan hệ giữa các nhóm dân số và tỷ lệ thu
nhập tương ứng của họ


12

Hệ số Gini7: trên cơ sở đường cong Lorenz các nhà thống kê kinh tế tính hệ số
Gini: tỷ số giữa phần diện tích nằm giữa đường cong Lorenz và đường bình đẳng
tuyệt đối với phần diện tích nằm dưới đường bình đẳng tuyệt đối.
Tiêu chuẩn 40%: của Ngân hàng thế giới nhằm đưa ra phân bố thu nhập của dân
cư. Tiêu chuẩn này xét tỷ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhất
trong tổng thu nhập của toàn bộ dân cư. Tỷ trọng này nhỏ hơn 12% là có sự bất
bình đẳng cao về thu nhập, 12%- 17% là có sự bất bình đẳng vừa, lớn hơn 17% là
tương đối bình đẳng.
Chỉ số Theil: tính toán được mức chênh lệch cụ thể theo từng nhóm nghiên cứu
theo công thức sau:
𝑁

𝑌𝑗
𝑌𝑗
𝑌𝑗 𝑌
𝑌𝑖
𝑌𝑖 𝑁
) = ∑ 𝑇𝑗 + ∑ ( )
𝑇ℎ𝑒𝑖𝑙(𝑇) = ∑ ln (
𝑌

điểm về tính chính xác, nhưng cách tính toán và thu thập số liệu khá phức tạp. Vì
vậy, hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm thường sử dụng hệ số Gini.
Theo Kaasa (2005), có 5 nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến bất bình đẳng thu nhập
tại một quốc gia, đó là: sự phát triển kinh tế, yếu tố nhân khẩu học, yếu tố chính trị,
những yếu tố văn hóa và môi trường, cuối cùng là các yếu tố vĩ mô. Nhóm yếu tố phát
triển kinh tế gồm một số chỉ tiêu chính như: GDP bình quân đầu người, tăng trưởng
kinh tế, sự phát triển của kỹ thuật và sự phát triển của cơ cấu nền kinh tế. Trong đó,
các chỉ tiêu GDP và tăng trưởng kinh tế được sử dụng khá phổ biến trong các bài
nghiên cứu do sự đơn giản và khả năng cập nhật nhanh chóng, dễ dàng so sánh và
nghiên cứu giữa các quốc gia. Tiêu biểu nhất là bài nghiên cứu của Kuznet (1955)
với giả thuyết tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập có mối quan hệ hình chữ
U ngược. Sau đó, rất nhiều nhà kinh tế đã thực hiện kiểm định lại giả thuyết của
Kuznet như Jha (1996) hay Nicholas Apergis và Ilhan Ozturk (2015). Trong những
thập niên gần đây, các nhà kinh tế sử dụng chỉ số tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân
đầu người trong các nghiên cứu ảnh hưởng đến bất bình đẳng thu nhập (Chang và
Ram, 2000; Edwards, 1997) nhằm loại bỏ yếu tố tăng trưởng GDP do dân số tăng,
đồng thời có cái nhìn tổng quát và chính xác hơn những lợi ích của tăng trưởng kinh
tế đối với các khía cạnh của xã hội. Nhóm yếu tố thứ hai là những yếu tố về nhân
khẩu học như đô thị hóa, tăng trưởng dân số, cấu trúc tuổi dân số, trình độ giáo dục
của dân số… Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến bất bình đẳng thu nhập thường
đi cùng với quá trình công nghiệp hóa tại các quốc gia. Thu nhập tiềm năng trong lĩnh
vực công nghiệp cao hơn so với khu vực nông nghiệp – nông thôn do quá trình công
nghiệp hóa, đô thị hóa mang lại được xem là nguyên nhân gây ra bất bình đẳng thu
nhập. Tuy nhiên, yếu tố này thường chỉ quan trọng khi phân tích kinh tế trong giai
đoạn chuyển đổi của các quốc gia (từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế
thị trường…) (Sara Rose, 2011). Cải thiện hoặc tăng giáo dục được xem là một trong


14


Kênh thứ nhất: bằng các biện pháp làm giảm những yêu cầu dự trữ bắt buộc, tháo gỡ
những rào cản chu chuyển vốn quốc tế, tự do hóa tài chính làm tăng cung vốn cho
nền kinh tế. Vốn cũng là một loại hàng hóa. Vì vậy theo lý thuyết cung cầu: đường
cung vốn tăng nhưng đường cầu không thay đổi, sẽ làm thay đổi điểm cân bằng của
thị trường vốn, tức là chi phí sử dụng vốn của các nhà đầu tư giảm. Cùng với sự phát
triển của hệ thống tài chính, giúp các nhà đầu tư – những người có những dự án kinh
doanh tốt nhưng không thực hiện được trước đây do bị giới hạn khả năng vay
vốn/không tiếp cận được nguồn vốn do chi phí cao – có thể tiếp cận với nguồn vốn
dồi dào hiện tại, thực hiện các dự án, tăng thu nhập và lợi nhuận, góp phần làm giảm
bất bình đẳng thu nhập. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, kênh tác động này chỉ hoạt động
hiệu quả trong một thị trường tài chính phát triển, nguồn vốn có thể vận động theo
cung cầu của thị trường. Có nghĩa là, các chủ thể kinh tế có thể tiếp cận với những
nguồn vốn này. Còn ở những quốc gia mà tổ chức tài chính yếu, khả năng tiếp cận
với nguồn tín dụng vẫn hạn chế với nhiều chủ thể kinh tế thì tự do hóa tài chính có
thể làm tăng bất bình đẳng thu nhập. Bởi lẽ một mặt tự do hóa giúp những người giàu
có thể tiếp cận nguồn vốn rẻ hơn, tăng lợi nhuận đầu tư, tăng thu nhập, nhưng mặt
khác tự do hóa không giúp những người nghèo tăng thu nhập do không thể tiếp cận
được nguồn vốn này.
Kênh thứ hai: thông qua phân tán rủi ro. Tự do hóa tài chính góp phần đa dạng hóa
nguồn huy động vốn của các nhà đầu tư. Các chủ thể kinh tế không chỉ có thể huy
động vốn/đầu tư trong thị trường nội địa mà còn có thể huy động vốn/đầu tư từ thị
trường nước ngoài, không chỉ bằng những kênh trực tiếp mà còn có thể từ những kênh
gián tiếp. Sự đa dạng hóa này làm giảm rủi ro đặc thù của từng quốc gia, giúp các nhà
đầu tư có thể tối đa hóa tỷ suất sinh lợi tại mức rủi ro cho trước, hoạt động đầu tư
hiệu quả và mang lại lợi nhuận cao hơn, khuyến khích các chủ thể kinh tế đầu tư và
làm giảm bất bình đẳng thu nhập.


16

Trích đoạn Giới thiệu chung về dữ liệu bảng Kết luận chung Hàm ý chính sách Hạn chế của bài nghiên cứu và hướng mở rộng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status