BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG BỐN MỨC PHÂN ĐẠM VÀ BỐN MỨC
PHÂN KALI ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
CỦA CÂY MĂNG TÂY (Asparagus officinalis L.)
TRỒNG TẠI QUẬN THỦ ĐỨC, TP HCM
NGÀNH
: NÔNG HỌC
KHÓA
: 2011 - 2015
SINH VIÊN THỰC HIỆN: HỶ MINH CƯỜNG
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2015
ẢNH HƯỞNG BỐN MỨC PHÂN ĐẠM VÀ BỐN MỨC
PHÂN KALI ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
CỦA CÂY MĂNG TÂY (Asparagus officinalis L.)
TRỒNG TẠI QUẬN THỦ ĐỨC, TP HCM
Tác giả
HỶ MINH CƯỜNG
TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu: Ảnh hưởng của bốn mức phân đạm và bốn mức phân kali đến
sinh trưởng và năng suất của cây măng tây (Asparagus officininalis L.) trồng tại Thủ Đức
Tp. Hồ Chí Minh
Thí nghiệm được tiến hành trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 5/2015, tại trại
thực nghiệm khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh, nhằm chọn
ra mức phân bón đạm và kali phù hợp cho cây măng tây.
Thí nghiệm: Ảnh hưởng của bốn mức phân đạm và bốn mức phân kali đến sinh
trưởng và năng suất của cây măng tây (Asparagus officininalis L.) trồng tại Thủ Đức
Tp Hồ Chí Minh. Thí nghiệm hai yếu tố được bố trí theo kiểu lô phụ (Split-Plot
Design) với ba lần lặp lại, trong đó yếu tố phụ (được bố trí trên lô chính), là các mức
phân kali 40, 60, 80, 100 kg K2O/ha, yếu tố chính (được bố trí trên lô phụ) là các mức
phân đạm 80, 120, 160, 200 kg N/ha.
Việc sử dụng phân đạm 200 kg N/ha có ảnh hưởng tốt đến một số chỉ tiêu sinh
trưởng chiều cao cây (168,9cm), đường kính thân (11,5 mm), cành cấp một đạt 46,1
cành/cây, số thân trung bình trên bụi (6,2 thân). Với mức bón 160 kg N/ha năng suất
măng tây được dao động từ 741,4 kg/1000 m 2 (4 tháng); tăng hơn so với bón 80 kg
N/ha lần lượt 23,1.
Bón phân kali ở mức 100 kg K 2O/ha ảnh hưởng tốt đến chỉ tiêu măng trung
bình bụi (270,1 g), trọng lượng trung bình một măng (21,0 g) và khả tăng khả năng
chống chịu bệnh nứt thân trên măng tây. Tuy không có ý nghĩa thống kê về năng suất
nhưng mức bón 100 kg K2O/ha cho năng suất cao nhất đạt 720,3 kg/1000 m 2 (4 tháng)
cao hơn mức bón 40 kg K2O/ha 12,5%. Với mức bón 200 kg N/ha + 100 kg K 2O/ha
chiều cao cây măng tây đạt cao nhất (184,67 cm).
Lợi nhuận thu cao nhất ở mức bón (100 kg K2O + 160 kg N/ha) đạt 43.154.400
đồng/1000m2 (4 tháng). Hiệu quả đầu tư 1,49 đồng/đồng.
iii
1.8.1 Tình hình nghiên cứu măng tây trên thế giới..................................................14
1.8.2 Tình hình nghiên cứu măng tây ở Việt Nam...................................................15
iv
Chương 2....................................................................................................................17
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..................................................17
(Nguồn: Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ, 2015)....................................18
2.4.3 Chăm sóc vườn trước khi thí nghiệm..............................................................19
2.5.2 Quy mô thí nghiệm............................................................................................20
Chọn 5 cây ngẫu nhiên trên mỗi nghiệm thức để theo dõi. Đánh dấu cây chỉ tiêu
bằng sơn đỏ và bắt đầu theo dõi sau khi tỉa cây (để lại 3 thân mẹ/bụi và cắt
ngọn) tiến hành bón phân...................................................................................21
Định kì theo dõi lấy chỉ tiêu số liệu về chỉ tiêu sinh trưởng định kỳ 4 ngày theo
dõi lấy số liệu 1 lần, số lượt theo dõi: 21, 25, 29, 33, 37, 41 NSB......................21
2.6.1 Chỉ tiêu sinh trưởng..........................................................................................21
2.6.2 Chỉ tiêu măng và năng suất..............................................................................21
2.6.4 Lượng toán kinh tế............................................................................................22
2.7 Phương pháp tính toán xử lý số liệu...................................................................22
Chương 3....................................................................................................................23
KẾT QUẢ THẢO LUẬN..........................................................................................23
3.1 Ảnh hưởng của bốn mức phân đạm và bốn mức phân kali đến chiều cao cây
(cm) ở thời điểm 21, 25, 29, 33, 37, 41 NSB........................................................23
3.2 Ảnh hưởng của bốn mức phân đạm và bốn mức phân kali đến đường kính
cây (mm) ở thời điểm 21, 25, 29, 33, 37, 41 NSB...............................................27
3.3 Ảnh hưởng của bốn mức phân đạm và bốn mức phân kali đến cành cấp một
ở thời điểm 21, 25, 29, 33, 37, 41 NSB................................................................30
3.4 Ảnh hưởng của bốn mức phân đạm và bốn mức phân kali đến thân trên bụi
(thân/bụi) ở thời điểm 21, 25, 29, 33, 37, 41 NSB..............................................32
3.5 Ảnh hưởng của bốn mức phân đạm và bốn mức phân kali đến yếu tố cấu
PPM
NT
Giáo viên hướng dẫn
Part per million
Nghiệm thức
NSB
NSLT
NSTTO
NSTT
pH
TLMTB
TLTB1M
TLTBMTB
TSB
Ngày sau bón
Năng suất lý thuyết
Năng suất thực thu ô
Năng suất thực thu
Pondus hydrogen
Trọng lượng măng trung bình
Trọng lượng trung bình một măng
Trọng lượng trung bình măng trên bụi
Tổng số bụi
UDSA
United States Department of Agriculture
với mức thấp nhất (40 kg K2O/ha) là 800 kg tăng 12,5%. Thấp nhất là mức
bón 60 kg K2O/ha/năm tăng 6,1%. Giữa các mức đạm giá trị chênh lệch
năng suất cao nhất ở mức bón 160 kg N/ha đạt 1390 kg tăng 23,1% , mức
200 kg N/ha giá trị chênh lệch tăng (22,7%) Thấp nhất ở mức bón 120 kg
N/ha tăng 7,8%....................................................................................................39
Bảng 3.8 Tỉ lệ bệnh (%) của các nghiệm thức qua các thời điểm sinh trưởng......40
3.9 Lượng toán chi phí của các nghiệm thức thí nghiệm về bốn mức phân đạm
và bốn mức phân kali..........................................................................................42
Bảng 3.9 Lượng toán chi phí đầu tư cho 1000 m2 trong 4 tháng thí nghiệm........42
Bảng 3.10 Lượng toán chi phí cho từng nghiệm thức thí nghiệm tính cho 1000
m2 trong 4 tháng..................................................................................................43
Bảng 3.11 Bảng tính lợi nhuận của các nghiệm thức về bốn mức đạm và bốn
mức phân kali (tính cho 1000 m2 trong 4 tháng)..............................................43
viii
DANH SÁCH HÌNH
Hình 3.1 Vườn măng tây thí nghiệm........................................................................49
49
Hình 3.2 Đo đường kính măng Hình 3.3 Đường kính thân.....................................49
50
Hình 3.4 Măng non 2-3 ngày tuổi Hình 3.5 Măng non 3-4 ngày tuổi.....................50
Hình 3.6 Măng non 4-5 ngày tuổi Hình 3.7 Đo chiều cao cây.................................50
Hình 3.8 Măng tây non ngoài ruộng.........................................................................51
Hình 3.9 Măng thu hoạch vườn măng tây thí nghiệm.............................................51
52
Hình 3.10 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu măng trong thời gian thí
nghiệm..................................................................................................................52
52
chính trong sản xuất và kinh doanh giúp tăng khả năng chống chịu, thúc đẩy sự sinh
trưởng và phát triển của cây trồng. Do mỗi loài cây đều có đặc điểm sinh lý và nhu cầu
dinh dưỡng riêng, nên cần bón phân hợp lý vừa mang lại hiệu quả tốt, vừa an toàn đối
với người tiêu dùng. Trong số các nguyên tố dinh đưỡng cây trồng hấp thụ thì đạm (N)
và kali (K2O) là hai nguyên tố đa lượng quan trọng đối với chu kì sống của cây, sự cân
bằng hàm lượng thích hợp sẽ giúp cây măng tây sinh trưởng mạnh, nhanh ra măng,
thúc đẩy nhanh quá trình vận chuyển và tích lũy chất hữu cơ. Xuất phát từ thực tế đó,
đề tài được tiến hành nghiên cứu: “Ảnh hưởng của bốn mức phân đạm và bốn mức
phân kali đến sinh trưởng và năng suất của cây măng tây (Asparagus officinalis
L.) trồng tại Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh”.
Mục tiêu
1
Xác định mức phân bón đạm (N) và kali (K 2O) thích hợp cho sự sinh trưởng và
năng suất của cây măng tây.
Yêu cầu
Theo dõi ảnh hưởng của bốn mức phân đạm (N) và bốn mức phân kali ( K 2O)
đến khả năng sinh trưởng và năng suất của cây măng tây.
Bước đầu tính toán hiệu toán kinh tế của cây măng tây trong thời gian làm thí
nghiệm.
Giới hạn đề tài
Đề tài được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2015 trên vùng đất xám tại
Trại Thực nghiệm khoa Nông học, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
2
Chương 1
mọc cao thân ngã màu xanh và phân cành nhiều (Mai Thị Phương Anh, 2001).
1.2.3 Lá
Lá cây măng tây thuộc lá kim, thoát nước ít nên có khả năng chịu hạn tốt (Mai
Thị Phương Anh, 2001).
1.2.4 Hoa
Măng tây là cây đơn tính biệt chu, nhị hoa đực và nhụy hoa cái không hoàn
chỉnh, chỉ có một số ít trong số các hoa đậu quả được. Các hoa cái có dấu tích của nhị
đực nhưng không có khả năng sinh hạt phấn.
Hoa măng tây được sinh ra trên các cành mới và đạt được độ thành thục trước
khi cành mang hoa thành thục. Các cây hoa đực thường cho nhiều măng, sống lâu hơn
và sản lượng măng cao hơn cây hoa cái khoảng 25% nhưng chất lượng măng lại kém
(Mai Thị Phương Anh, 2001).
1.2.5 Quả
Quả măng tây mọng, đường kính trung bình 8 – 9 mm, có 3 ngăn, mỗi ngăn có
2 hạt, khi chín quả có màu đỏ. Hạt có màu đen, vỏ rất cứng, đường kính trung bình 1 –
3 mm, 40 – 60 hạt/g (Mai Thị Phương Anh, 2001).
1.3 Giá trị cây măng tây
1.3.1 Giá trị dược liệu
Trước khi được dùng cho mục đích thực phẩm thì măng tây được biết đến như
một loài thảo dược dùng để chữa trị những bệnh về tim mạch, phù thũng và đau răng.
Sau đó, cũng chính người Hy Lạp đã sử dụng măng tây như một loại rau cao cấp vào
những năm 200 trước công nguyên (Mai Thị Phương Anh, 2001).
Măng tây chứa một nhóm các chất có khả năng chống viêm bao gồm các
saponin măng tây (asparanin, sarsasapogenin, protodioscin, và diosgenin) và flavonoid
4
quercetin, rutin, kaempferol và isorhamnetin. Các hợp chất chống viêm này là một
trong những tác nhân tốt nhất giúp phòng chống các bệnh mãn tính như tiểu đường
loại 2, bệnh tim và bệnh ung thư. Ngoài ra, còn là nguồn dồi dào các chất chống oxy
như Châu Âu, Châu Á và Châu Mỹ. Ở Mỹ măng tây chiếm vị trí thứ mười trong các
loại rau (USDA, 2005).
Thị trường nhập khẩu măng tây xanh của thế giới hiện nay đã lên đến hàng trăm
ngàn tấn/năm, và vẫn còn tăng cao thêm mỗi năm, chủ yếu là thị trường các nước châu
Âu, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, Australia, Đài Loan (Lê Hồng Triều, 2012).
Ở các nước láng giềng, tính đến năm 2012 người Thái Lan đã trồng được
khoảng 16.600 hecta, sản lượng 65.000 tấn. Ở Trung Quốc diện tích măng tây là
1.350.600 hecta với sản lượng 7.353.200 tấn măng/năm. Tại Đức khoảng 55 nghìn tấn
măng tây được tiêu thụ/năm trên toàn nước (FAO, 2012).
Măng tây là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, đem lại thu nhập cao cho
người nông dân. Năng suất trung bình măng tây 8 – 10 kg/1.000 m 2/ngày, thu nhập
khoảng 60 triệu đồng/ha/tháng, năng suất măng tây tăng dần theo từng năm (Nguyễn
Văn Thọ, 2014).
1.3.3 Giá trị dinh dưỡng
Bảng 1.1 Giá trị dinh dưỡng 100 g măng tây
Thành phần
Hàm lượng
Thành phần
Hàm lượng
Năng lượng
20 kcal
Riboflavin (vit. B2)
0,141 mg
52 mg
Protein
2,20 g
Choline
16 mg
Vitamin A equiv,
38 mg
Vitamin C
5,6 mg
Thiamin (vit, B1)
0,143 mg
Magiê
14 mg
Vitamin E
1,1 mg
mangan, kali, kẽm,… chiếm 35%). Ngoài ra, còn chứa rất nhiều loại vitamin cần thiết
như vitamin C, E, K, thiamine (vitamin B1), riboflavin (vitamin B2), niacin (vitamin
B3), axit pantothenic (vitamin B5), pyridoxine (vitamin B6), folate (vitamin B9)
(Hoàng Oanh, 2012) (Bảng 1.1).
Bảng 1.2 Bảng phân tích hóa sơ bộ về thành phần hóa thực vật trên cây măng tây
Nhóm hợp chất
Chất béo
Carotenoid
Tinh dầu
Triterpenoid tự do
Alkaloid
Coumarin
Antraglycosid
Flavonoid
Glycosid tim
Anthocyanosid
Proanthocyanidin
Tannin
Triterpenoid thủy phân
Saponin
Acid hữu cơ
Chất khử
Hợp chất polyuronic
Kết quả định tính trên các dịch chiết
Dịch chiết cồn
Dịch chiết nước
Dịch
Không
+++
+
+++
+++
-
+++
++
++
++
++
++++
++++
++++
+++
+++
Phân tích: Trung Tâm Sâm và Dược Liệu Tp. HCM
Chú thích: (-) Không có; (+/-) Nghi ngờ; (+) Có ít; (++) Có; (+++) Có nhiều; (++
++) Có rất nhiều.
Bảng 1.2 cho thấy trong thành phần măng tây có các nhóm hợp chất sau: chất
béo, tinh dầu, carotenoid, triterpenoid tự do, alkaloid, flavonoid, proanthocyanidin,
triterpenoid thủy phân, saponin, chất khử, hợp chất polyuronic. Các chất này có tác
dụng chống viêm, giúp phòng chống các bệnh mãn tính như tiểu đường loại 2, bệnh
7
tim và bệnh ung thư (Hồng Duyên, 2014). Trong đó thành phần các chất khử,
flavonoid, triterpenoid tự do và carotenoid có nhiều hơn, thành phần hợp chất thứ cấp
flavonoid là thành phần chủ yếu quyết định hoạt tính chống oxy hóa của măng tây
từng loại cây mà bổ sung liều lượng các chất dinh dưỡng phù hợp để đạt được năng
suất tối ưu và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Các nguyên tố đa lượng N, P, K; nguyên
tố trung lượng Ca, Mg, S, nguyên tố vi lượng B, Cl, Cu, Fe, Mn, Mo, Zn là những
nguyên tố dinh dưỡng có vai trò quan trọng trong đời sống của thực vật.
1.5 Ảnh hưởng của một số nguyên tố dinh dưỡng đến sự sinh trưởng và năng suất
của cây măng tây
Năng suất cây trồng nói chung phụ thuộc vào tác dụng tổng hợp của 4 yếu tố
ánh sáng, nhiệt độ, nước và dinh dưỡng. Trong điều kiện sản xuất, điều chỉnh dinh
dưỡng là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng và sức chống chịu của
cây trồng. Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng: mức tăng năng suất cây trồng
có mối quan hệ rất chặt chẽ với số lượng, chủng loại và cách sử dụng các loại phân
bón trong canh tác (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007).
Những chất cây cần với số lượng nhiều gọi là chất đa lượng như: C, O, H, S, N,
P, K, Ca, Mg. Những chất đa lượng tham gia trực tiếp vào cấu tạo tế bào, tạo nên cơ
thể cây và chiếm tới 99,95% trọng lượng các chất trong cây. Còn lại trên 60 nguyên tố
khác chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng 0,05%, gọi là các chất vi lượng, tuy cần với lượng
rất ít nhưng các chất vi lượng có vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống thực vật.
Những chất vi lượng này có thể tham gia một phần trong cấu tạo tế bào, đặc biệt là
trong các chất enzym và xitochrom, là những chất giữ vai trò xúc tác hoặc thúc đẩy
các phản ứng sinh học để tổng hợp hoặc chuyển hóa các vật chất trong cây, đảm bảo
cho các quá trình sinh trưởng – phát triển của cây được tiến hành bình thường (Lê Văn
Dũ, 2009).
Phần lớn các chất dinh dưỡng đa lượng và vi lượng cần thiết cho cây đều có
trong đất và được cây hút vào qua hệ thống rễ. Tuy vậy, có một số chất mà số lượng
chứa trong đất thường không đủ cung cấp cho nhu cầu của cây khi được gieo trồng với
9
mật độ cao, trong đó chủ yếu là N, P, K. Vì vậy, khi trồng trọt người ta phải bón thêm
các chất này vào đất để cung cấp cho cây dưới các dạng phân bón (Lê Văn Dũ, 2009).
loại bệnh; tạo cho cây cứng chắc, ít đổ ngã, tăng khả năng chịu úng, chịu hạn, chịu rét.
Kali làm tăng phẩm chất nông sản và góp phần làm tăng năng suất của cây. Cân
bằng giữa đạm và kali làm cho cây vững chắc. Trên phương diện khối lượng, cây trồng
cần nhiều K hơn N nhưng vì trong đất có tương đối nhiều K hơn N và P, nên K ít được
chú ý. Mức kali thấp làm cho cây sinh trưởng yếu và chậm, cây bị úa vàng, chóp lá
chuyển màu nâu; cây phát triển chậm, còi cọc, thân yếu, dễ bị đỗ ngã. Thừa kali lá cây
trở nên xanh thẫm và rút ngắn sinh trưởng. Mức kali được xác định thích hợp tùy theo
mùa (Đường Hồng Dật, 2002).
1.6 Tình hình sản xuất và tiêu thụ măng tây trên thế giới và trong nước
1.6.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ măng tây trên thế giới
Hiện nay diện tích trồng măng tây trên thế giới khoảng 1.496.685 ha, trong đó
Châu Á là khu vực trồng măng tây lớn nhất thế giới. Một số nước trồng măng tây với
diện tích lớn là Trung Quốc, Đức, Peru, Mêxico, Tây Ban Nha, Thái Lan (Bảng 1.3).
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất măng tây của các khu vực trên thế giới năm 2012
Diện tích
Năng suất
(ha)
(tấn/ha)
Châu Á
Châu Mỹ
Châu Âu
Châu Phi
Châu Đại Dương
1.375.057
66.670
Bảng 1.4 Tình hình sản xuất măng tây của một số quốc gia thế giới năm 2012
Quốc gia
Trung Quốc
Peru
Mexico
Đức
Thái Lan
Tây Ban Nha
Mỹ
Nhật
Ý
Pháp
Thế giới
Sản lương (tấn/năm)
7.350,200
376.645
119.789
102.395
65.000
45.400
34.520
30.000
29.914
19.940
8.301.482
diện tích (ha)
1.350.650
33.063
1.6.3 Thu hoạch và phân loại măng
Thu hoạch khi măng được 25 – 30 cm, thời gian thu hoạch măng tây xanh là
buổi sáng 5 - 9 giờ, tránh để măng tiếp xúc với ánh nắng. Măng đã thu hoạch nếu chưa
sử dụng ngay cần phải được bảo quản lạnh 2 0C hoặc cắm chân măng vào 3 – 5 cm
nước đá lạnh.
Giá thu mua sản phẩm măng tây ở thành phố Hồ Chí Minh (2012):
Loại 1: Đường kính thân măng > 9 - 15 mm, dài 25cm: 70 - 75.000 đ/kg
Loại 2: Đường kính thân măng > 6 - 3 -
Thí nghiệm của Asghar và ctv (2006), về ảnh hưởng của đạm đến sinh trưởng
và năng suất của 6 giống măng tây chỉ ra rằng với mức đạm 90 kg N/ha cho chiều cao
cây tối đa (2,3m) số nhánh trên cây (12,2 cành), trọng lượng trung bình cây (178,8 g)
và trọng lượng trung bình rễ (288,3 g), số lượng búp măng chồi (34,1), chiều dài măng
(25,1 cm), trọng lượng măng (32,2 g) và năng suất cao nhất 37,9 tấn/ha.
Kết quả nghiên cứu của Krug và Kailuweit (1999), về ảnh hưởng của phân đạm
ở các liều lượng 50, 75, 100 và 200 kg N/ha đến năng suất của măng tây. Kết quả cho
thấy 3 trong 4 trường hợp theo dõi, năng suất đạt tối đa với liều lượng đạm thấp nhất.
Tuy nhiên, Sander và Benson (1999) đã thử nghiệm bón 0, 50, 100, 150, và 200 kg
N/ha + 0, 50, 150, 250 và 300 K2O kg/ha cho giống măng tây lai Jersey Gem. Năng
suất tích lũy gia tăng đến liều lượng 150 kg N/ha và 150 kg K2O/ha .
1.8.2 Tình hình nghiên cứu măng tây ở Việt Nam
Ở nước ta hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về loại cây trồng này, Trần Khắc
Thi (1995), đã tiến hành nghiên cứu chọn tạo một số giống rau chủ yếu và các biện
pháp thâm canh giai đoạn 1991 – 1996 trong đó có cây rau măng tây.
Theo Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (1994) cho rằng lượng phân bón
một ha măng tây như sau: 30 - 40 tấn phân chuồng, 200 kg Urê, 150 kg kali sunfat. Có
thể kéo dài thời gian thu hoạch và tăng sản lượng.
Theo Mai Thị Phương Anh (1999), xác định lượng đạm thích hợp bón cho
măng tây là 92 kg N/ha.
Theo Vi Thị Phượng (2011), nêu lên những tính năng và tầm quan trọng của cây
rau măng tây đối với con người. Cây măng tây không những có lợi về mặt dinh dưỡng
mà còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng cần được đầu tư và phát triển.
Theo Trần Thị Thơm (2013), đưa ra kết luận: bón vôi ở mức 500 kg/ha cho
năng suất thu hoạch măng ban đầu cao hơn 23,4% so với mức bón 2000 kg/ha, năng
suất đạt được ở mức bón 160 kg N/ha tăng 31,3% so với mức bón 40 kg/ha.
15