BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
PHẠM THỊ TÂM
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỘT SỐ THUỐC
GIẢM GLUCOSE MÁU TRỘN LẪN TRONG
CÁC CHẾ PHẨM THUỐC ĐÔNG DƢỢC
BẰNG SẮC KÝ LỚP MỎNG HIỆU NĂNG CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƢỢC HỌC
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
PHẠM THỊ TÂM
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỘT SỐ THUỐC
GIẢM GLUCOSE MÁU TRỘN LẪN TRONG
CÁC CHẾ PHẨM THUỐC ĐÔNG DƢỢC
BẰNG SẮC KÝ LỚP MỎNG HIỆU NĂNG CAO
Hà Nôi, ngày 3 tháng 4 năm 2017
Học viên
Phạm Thị Tâm
MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các kí hiệu, chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục hình ảnh
Chƣơng 1: TỔNG QUAN ............................................................................... 3
1.1 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu ......................................................... 3
1.1.1.Các thực phẩm bảo vệ sức khoẻ và thuốc thảo dược hỗ trợ điều trị
và điều trị tiểu đường ........................................................................ 3
1.1.2. Cấu trúc, tính chất lý hoá và tác dụng của metformin, glibenclamid 6
1.2. Tổng quan về phương pháp nghiên cứu ................................................... 8
1.2.1. Sắc ký lớp mỏng ............................................................................... 8
1.2.2. Sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao ........................................................ 9
1.2.3. Phương pháp quang phổ Raman ..................................................... 10
1.3. Một số nghiên cứu định tính, định lượng nhóm thuốc giảm glucose máu
trộn trong các chế phẩm từ dược liệu ............................................. 14
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............ 19
2.1. Nguyên vật liệu, thiết bị và đối tượng nghiên cứu................................. 19
2.1.1. Nguyên vật liệu dùng trong nghiên cứu ......................................... 19
2.1.2. Thiết bị, dụng cụ nghiên cứu .......................................................... 19
2.1.3. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................... 20
2.2. Phương pháp nghiên cứu........................................................................ 20
Hiệp hội các nhà hóa học phân tích chính thức
(Association of Official Analytical Chemists)
DMF
N,N-dimethylformamid
HPTLC
Sắc kí lớp mỏng hiệu năng cao
(High Performance Thin Layer Chromatography)
HPLC
Sắc kí lỏng hiệu năng cao
(High Performance Liquid Chromatography)
LOD
Giới hạn phát hiện (Limit of detection)
LOQ
Giới hạn định lượng (Limit of quantitation)
RSD
Độ lệch chuẩn tương đối (Relative Standard Deviation)
SERS
Bảng 3.3. Kết quả đánh giá độ tuyến tính của metformin HCl, glibenclamid .....32
Bảng 3.4. Kết quả đánh giá độ lặp lại và độ đúng của metformin ........................33
Bảng 3.5. Kết quả đánh giá độ lặp lại và độ đúng của glibenclamid....................34
Bảng 3.6 . Kết quả xác định LOD, LOQ của metformin HCl và glibenclamid ..36
Bảng 3.7. Kết quả hàm lượng glibenclamid trong các mẫu thử ...........................39
Bảng 3.8. Cách pha các nồng độ khác nhau của dung dịch keo M5 ....................44
Bảng 3.9. Thể tích chấm khảo sát LOD của phương pháp TLC-SERS ...............48
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1. Các thành phần tán xạ thu được sau khi cho ánh sáng kích thích đến mẫu...11
Hình 1.2.Tán xạ Raman Stokes và đối Stokes, m, n, r: các mức năng lượng..12
Hình 3.1. Sắc ký đồ khảo sát hệ dung môi pha động ...................................... 26
Hình 3.2. Kết quả quét phổ UV tại vị trí của chất phân tích........................... 27
Hình 3.3. Kết quả khảo sát dung môi chiết ..................................................... 28
Hình 3.4. Sơ đồ xử lý mẫu phân tích .............................................................. 29
Hình 3.5. Sắc ký đồ đánh giá độ chọn lọc HPTLC ......................................... 30
Hình 3.6. Sắc ký đồ analog của hỗn hợp hoạt chất xác định tính chọn lọc của
phương pháp.................................................................................... 30
Hình 3.7. Sắc ký đồ 3D khoảng tuyến tính của metformin HCl và
glibenclamid .................................................................................... 32
Hình 3.8. Đường biểu diễn mối tương quan giữa nồng độ và diện tích pic của
metformin và glibeclamid ............................................................... 32
Hình 3.9. Sắc ký đồ xác định LOD của glibenclamid và metformin HCl ...... 35
Hình 3.10. Sắc ký đồ analog xác định LOD của glibenclamid) ..................... 35
Hình 3.11. Sắc ký đồ analog xác định LOD của metformin HCl .................. 35
Hình 3.12. Sắc kí đồ phân tích các mẫu chế phẩm đông dược trên thị trường
bằng HPTLC ................................................................................... 37
Hình 3.13. Kết quả chồng phổ UV quét tại vị trí có Rf 0,77 (vết
biguanid, thiazolidin và các thuốc khác không phải sulfonylure, được sử
dụng phổ biến để điều trị tiểu đường typ II. Tuy nhiên, những thuốc giảm
glucose máu thường bị phát hiện trộn lẫn trái phép trong các chế phẩm
đông dược như metformin, glibenclamid, gliclazid [23], [28]; ... Nếu sử
dụng các chế phẩm này trong một thời gian dài mà không biết rõ thành
phần, người sử dụng có thể xuất hiện tình trạng nhiễm toan lactic, rối loạn
tiêu hóa, tổn thương gan thận…[33], [35]. Do đó, một nhu cầu cấp thiết
nhằm phát triển một phương pháp nhanh chóng để sàng lọc các chế phẩm
đông dược bị trộn lẫn các thuốc tổng hợp hoá học này. Do metformin và
glibenclamid là hai thuốc tân dược thường được trộn nhiều nhất vào các
chế phẩm đông dược, nên đề tài đã chọn 2 dược chất này để nghiên cứu.
Hiện nay đã có một số nghiên cứu phát hiện các thuốc tân dược trộn
lẫn trong thuốc đông dược, TPBVSK được triển khai như sắc ký lớp mỏng
1
(TLC) [21], [25], sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) [21], sắc ký lỏng kết
nối khối phổ (LC-MS) [23], [15], TLC kết hợp tán xạ Raman tăng cường
bề mặt (TLC-SERS) [17], [35]…Trong đó, tách bằng TLC sau đó phát
hiện tại bước sóng 254 nm hoặc 366 nm đã được sử dụng để phát hiện
nhanh và có thể định lượng được các thuốc tân dược trộn trong đông
dược. Phương pháp này có khả năng tách các dược chất ra khỏi nền mẫu
vì nền mẫu của các chế phẩm đông dược rất đa dạng. Trong khi đó, tán xạ
Raman là một kỹ thuật nhạy trên bề mặt, có thể tăng cường từ 104-106 so
với quang phổ Raman bình thường [32]. Kết hợp TLC và SERS sẽ thuận
lợi cho việc phát hiện tại chỗ vì tính đơn giản, nhanh chóng, cung cấp
nhiều thông tin về dược chất và tăng độ chọn lọc của phương pháp, đồng
thời loại trừ khả năng phát huỳnh quang của dược liệu.
Để góp phần vào công tác kiểm tra phát hiện các chất cấm trộn lẫn
trong các chế phẩm đông dược, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu
chè, thuốc dạng bột, thuốc dạng cao và các dạng thuốc khác [1].
Mặc dù trong những năm gần đây đã có sự cải tiến của các loại thuốc
chống đái tháo đường tổng hợp, điều trị bệnh tiểu đường vẫn không đạt được
thành công rõ rệt. Điều trị bệnh tiểu đường là phức tạp do đây là bệnh mạn
tính, người bệnh phải dùng thuốc cả cuộc đời, trong khi đó lại thiếu thuốc an
toàn và hiệu quả, không bền vững về lâm sàng…Ngược lại, các loại thuốc
thảo dược đã đạt được tầm quan trọng lớn hơn trên toàn thế giới, chủ yếu là
do tính an toàn cao hơn, ít tác dụng bất lợi hơn và khả năng hạ thấp lượng
đường trong máu ổn định. Ở các nước phát triển, việc sử dụng thuốc thảo
dược cho người mắc bệnh tiểu đường được khuyến khích bởi những lo ngại
3
về tác dụng phụ và chi phí liên quan tới việc sử dụng lâu dài các thuốc tổng
hợp. Ở Việt Nam, các thuốc đông dược và TPBVSK sử dụng hộ trợ điều trị
tiểu đường rất đa dạng. Người bệnh có thể đến các nhà thuốc để mua các
TPBVSK có số đăng ký, được bào chế thành dạng viên nén, viên nang hoặc
trà túi lọc thuận tiện cho việc sử dụng. Trong khi đó, các chế phẩm thuốc
đông dược của các lương y, lương dược (không có số đăng ký) được bào chế
dưới dạng viên hoàn hay thuốc bộtngoài được bán tại cơ sở chế biến còn được
bán trên các trang mạng xã hội, người bệnh không cần đến tận nơi cũng có thể
có được sản phẩm thuốc để sử dụng. Điều này vừa có lợi vừa bất lợi cho
người bệnh, khi những chế phẩm này chưa được kiểm soát chặt chẽ có thể có
những chế phẩm bị trộn lẫn tân dược mà người sử dụng không được biết.
Về thành phần của các thuốc đông dược và TPBVSK hỗ trợ điều trị tiểu
đường cũng rất đa dạng. Các chế phẩm có thể chỉ có 1 thành phần là dược liệu
như Diabetna, Dây thìa canh Gia Huy…trong thành phần có chứa dược liệu là
dây thìa canh.Các chế phẩm phổ biến có nhiều thành phần hơn, từ 2 tới 10
thành phần là dược liệu. Cũng có những chế phẩm có khá nhiều thành phần
Nhằm đảm bảo chất lượng dược liệu, thuốc y học cổ truyền, thuốc từ
dược liệu sử dụng trong phòng và điều trị bệnh, Bộ Y tế đã ban hành
nhiều văn bản chỉ đạo tăng cường công tác quản lý chất lượng dược liệu,
thuốc y học cổ truyền, thuốc từ dược liệu, đặc biệt là Chỉ thị số 03/CTBYT ngày 24/02/2012 về việc tăng cường quản lý cung ứng, sử dụng
dược liệu, thuốc Y học cổ truyền, thuốc từ dược liệu trong các cơ sở khám
chữa bệnh bằng y học cổ truyền với nhiều giải pháp đồng bộ. Kết quả
kiểm tra đánh giá chất lượng thuốc năm 2013, toàn quốc có 56.179 mẫu
thuốc đã được kiểm tra đánh giá chất lượng (cả thuốc tân dược và đông
dược), trong đó phát hiện 1004 mẫu thuốc (1,79 %) không đạt chỉ tiêu
chất lượng và 08 (0,014%) mẫu thuốc giả; tỷ lệ thuốc giả và thuốc kém
chất lượng là (1,8%). Tỷ lệ thuốc giả và thuốc kém chất lượng năm 2013
(1,8%) giảm so với năm 2012 (3,09%) [12].
5
Đã có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tình trạng trộn lẫn tân dược trong các
chế phẩm đông dược hỗ trợ điều trị tiểu đường tại các nước [15], [23]... Tại
Trung Quốc năm 2010, khi kiểm tra 30 mẫu thuốc cổ truyền và thực phẩm
chức năng trên thị trường đã phát hiện trong 14 mẫu có chứa các thuốc chống
đái tháo đường tổng hợp (gồm có: glibenclamid, metformin, rosiglitazon,
glimepirid, phenformin…) [23]. Trong một nghiên cứu khác tiến hành năm
2009 cũng tại nước này, trong số 20 mẫu thuốc thảo dược được kiểm tra, 5
thuốc được phát hiện có chứa glibenclamid, 3 thuốc chứa gliclazid, 3 thuốc
chứa phenformin, hai thuốc khác chứa glimepirid và metformin [28]. Tại Ả
Rập Saudi, trong nghiên cứu công bố năm 2006, khi tiến hành kiểm tra các
mẫu chế phẩm nguồn gốc dược liệu cũng đã phát hiện một số mẫu dương tính
với glibenclamid [15].
Từ các nghiên cứu ở các nước trên thế giới, nhận thấy glibenclamid và
metformin thường được trộn vào các chế phẩm đông dược hỗ trợ điều trị tiểu
đường, do đó đề tài này đã lựa chọn 2 hoạt chất này để tiến hành nghiên cứu.
học:
1–(4–(2–(5–cloro–2–methoxybenzamido)
ethyl)
benzensulfonyl)–3 – cyclohexylure [6].
Tính chất: Bột kết tinh trắng, không tan trong nước và ether, hơi tan trong
dicloromethan, khó tan trong methanol và ethanol 96%, tan trong các dung
dịch kiềm loãng. Nóng chảy ở 1690C đến 1740C [3], [6].
Liều dùng: Liều ban đầu từ 2,5 - 5 mg mỗi ngày. Liều duy trì từ 1,25 - 10
mg/ngày. Liều tối đa là 15 mg/ngày [5].
Tác dụng: kích thích trực tiếp tế bào beta đảo Langerhan của tuyến tuỵ
tăng sản xuất insulin làm giảm nồng độ glucose trong máu. Làm tăng số
lượng receptor của insulin ở các tế bào, đặc biệt là các tế bào mỡ, hồng cầu,
bạch cầu đơn nhân, do đó làm tăng tác dụng của insulin. Ức chế nhẹ tác dụng
7
của glucagon. Thuốc không có tác dụng khi cơ thể không còn khả năng tiết
insulin [4].
Tác dụng không mong muốn [5]: thường gặp là nôn, buồn nôn, hạ glucose
huyết, ban da, mày đay. Ít gặp hơn là mất bạch cầu hạt, giảm huyết cầu toàn
thể, giảm tiểu cầu; viêm mạch dị ứng, mẫn cảm với ánh sáng, vàng da do
viêm gan hoặc ứ mật, tổn thương thị giác tạm thời.
1.2.Tổng quan về phƣơng pháp nghiên cứu
1.2.1.Sắc ký lớp mỏng
Sắc ký lớp mỏng (TLC) trong kiểm nghiệm dược phẩm đã được phát
triển từ lâu. Lớp mỏng kết dính là pha tĩnh. Pha tĩnh của TLC là các hạt
phần trong thuốc nên thường dùng để đánh giá nhanh chất lượng của
thuốc; ngoài ra phương pháp cho phép cung cấp hình ảnh sắc ký đồ làm
dấu vân tay cho mỗi thuốc, do đó thích hợp cho việc kiểm tra độ tinh
khiết của thuốc và phát hiện thuốc giả [7].
1.2.2.Sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao
Sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao (HPTLC) là một hình thức tiên tiến
của TLC. HPTLC được điều khiển bởi phần mềm thích hợp đảm bảo tính
ứng dụng và độ tin cậy, độ lặp lại cao nhất các số liệu đưa ra. Trong đó,
các thông số của quá trình phân tích được ghi lại và kiểm soát chặt chẽ,
do đó có độ lặp lại cao. Các bước của quá trình phun mẫu, khai triển mẫu,
nhận diện vết được tiến hành bằng thiết bị tự động hoặc bán tự động, giảm
thiểu tối đa sai số có thể gặp trong quá trình phân tích. Quá trình phun
mẫu được tiến hành tự động hoặc bán tự động, đảm bảo chính xác thể tích
mẫu phun, đồng thời có sấy bằng khí nitơ do đó giảm sự oxy hóa đối với
chất phân tích dễ bị oxy hóa. Trong quá trình khai triển, điều kiện về nhiệt
độ, độ ẩm được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo độ lặp lại của kết quả khi
tiến hành giữa các lần phân tích khác nhau và tại các phòng thí nghiệm
khác nhau. Hệ thống đèn UV tích hợp máy ảnh và hệ thống phần mềm
giúp phân tích số liệu ứng dụng trong định tính và định lượng [14].
9
Hiện nay để tăng cường độ tin cậy của kết quả phân tích, người ta sử
dụng bản mỏng hiệu năng cao (high performance plates). Bản này được
tráng lớp pha tĩnh mỏng hơn TLC (dày khoảng 100µm) với bột mịn có
kích thước hạt 5µm độ đồng đều cao hơn. Khi dùng bản mỏng này, hiệu
quả cao hơn do kích thước hạt mịn hơn, độ nhạy và độ phân giải được
tăng cường vì vết sắc ký nhỏ, thời gian sắc ký ngắn hơn và lượng dung
môi ít hơn so với TLC [14].
Ưu điểm của HPTLC:
photon với năng lượng E=hv0. Nếu phân tử nhận năng lượng hv từ photon tới
thì năng lượng của photon tán xạ sẽ giảm còn h(v0-v), và tần số của photon tán
xạ khi đó là (v0-v). Ngược lại, khi photon tới nhận năng lượng hv từ phân tử,
các năng lượng của các photon tán xạ tăng lên thành h(v0+v) và tần số của
photon tán xạ là (v0+v) [9], [11].
Tần số của các vạch Stokes (v0+v) và đối Stokes (v0-v) phụ thuộc vào bản
chất của chất tán xạ và tần số vo của bức xạ kích thích nhưng hiệu số Δv=v chỉ
phụ thuộc vào bản chất của chất tán xạ (mẫu đo). Vì vậy phổ Raman ghi theo
v (cm-1) đặc trưng cho cấu tạo của các hợp chất hoá học [11].
Hình 1.1. Các thành phần tán xạ thu được sau khi cho ánh sáng kích thích
đến mẫu
Hình 1.1 và 1.2 minh họa tán xạ Stokes và đối Stokes. Tán xạ Stokes xảy
ra khi một photon tương tác với một phân tử ở trạng thái năng lượng cơ bản,
còn tán xạ đối Stokes xảy ra khi photon tương tác với một phân tử ở trạng thái
năng lượng kích thích. Ở điều kiện thường, hầu hết các phân tử đều ở trạng
11
thái năng lượng cơ bản, nên tán xạ Stokes dễ xảy ra hơn và chiếm đa số. Vì
vậy, trong các phép đo phổ Raman, người ta thường đo tán xạ Stokes [9].
Hình 1.2. Tán xạ Raman Stokes và đối Stokes, m, n, r: các mức năng lượng
1.2.3.2. Đại lượng đặc trưng
Một đại lượng quan trọng trong quang phổ Raman là Raman shift.
Raman shift đặc trưng cho sự thay đổi tần số trong hiệu ứng Raman tạm gọi là
« dịch chuyển Raman ». Đối với một chất, cường độ của những bức xạ tương
ứng trên Raman shift là khác nhau, các dải phổ hấp thụ là hẹp và nhọn, chúng
tạo nên phổ Raman đặc trưng và duy nhất cho chất đó, đồng thời mỗi nhóm
Bên cạnh đó, Du và cộng sự đã sử dụng các hạt nano Au hoặc Ag để thiết lập
một tương quan tuyến tính giữa phát hiện SERS và nồng độ aminopyrin. Giới
hạn phát hiện (LOD) là 2.50 × 10-7 M trong dung dịch nước [34]. Những
phương pháp này có thể giúp người dùng xác định sự hiện diện của các thành
phần bất hợp pháp trong các chế phẩm thuốc cổ truyền.
Ngoài ra, SERS còn được sử dụng trong phân tích các dược liệu để xác
định các thông tin sinh hoá của nước sắc dược liệu hay các thành phần hoá
học của các thảo dược [19].
Các nghiên cứu về Raman ở Việt Nam hiện nay đang là xu hướng mới. Đã
có một số nghiên cứu bước đầu sử dụng quang phổ Raman trong sàng lọc
nhanh thuốc giả [8], [10]…Có thể thu phổ Raman trực tiếp trên bề mặt mẫu
qua đầu đo nhanh, đo mẫu bên trong các bao bì lớn thông qua các đầu dò
quang học, đo mẫu lỏng bằng curvet, đo mẫu rắn (như mẫu viên) bằng thiết bị
13
giữ mẫu…Đối với TLC-SERS, sau khi rửa giải, tấm TLC được để làm khô tự
nhiên, các điểm phân tách được quan sát và đánh dấu trên một máy quét TLC
ở bước sóng 254 nm. Hỗn dịch keo bạc được nhỏ trực tiếp tới mỗi điểm được
đánh dấu trên tấm TLC. Phổ SERS cho mỗi điểm phân tách được ghi lại bằng
máy quang phổ Raman khi những điểm này vẫn còn ướt. Hiện nay, các hỗn
dịch keo bạc vẫn chưa được thương mại hoá mà thường được tạo ra trước khi
tiến hành nghiên cứu. Hoạt tính của chất nền SERS này phụ thuộc vào kích
thước và hình thái của các hạt keo.
1.3.Một số nghiên cứu định tính, định lƣợng nhóm thuốc giảm glucose
máu trộn trong các chế phẩm từ dƣợc liệu
Ning Li [23] sử dụng phương pháp UPLC-MS/MS để phát hiện và định
lượng 14 loại thuốc chống đái tháo đường tổng hợp bổ sung bất hợp pháp
trong thuốc cổ truyền và thực phẩm chức năng của Trung Quốc. Các mẫu ở
các dạng: viên nén, viên nang, thuốc viên, thuốc hạt được chuyển về dạng bột
Kenichi Kumasaka [21] đã sàng lọc và định lượng cho 6 sulfonylure
chữa tiểu đường: tolbutamid, acetohexamid, chlorpropamid, gliclazid,
glibenclamid, và glimepirid pha trộn trong thực phẩm chức năng. Các
sulfonylure được chiết với aceton, sau đó dịch chiết đem tiến hành TLC và
HPLC. Trong phân tích TLC, các chất tách tốt với pha động gồm n-butyl
acetat có chứa 0,4% acid formic. Quan sát vết ở UV 254nm. Thuốc thử phát
hiện: Dragendoff, acid phosphomolybdic 10%/methanol, acid sulfuric
30%/methanol. Giá trị Rf tương ứng của tolbutamid, acetohexamid,
chlorpropamid, gliclazid, glibenclamid và glimepiridtrong các mẫu là 0,78;
0,58; 0,69; 0,48; 0,40 và 0,35. Với phương pháp HPLC sử dụng cột Cadenza
CD-C18, pha động: acetonitril-đệm amoni acetat theo gradient, tốc độ dòng
1,0 ml/phút, thể tích tiêm 10 µl, bước sóng phát hiện: 230 nm, 247 nm.
Mei Cui [16] sử dụng sắc ký lỏng cặp ion pha đảo (RP-IPC) kết hợp
với DAD để xác định đồng thời 14 loại thuốc chống đái tháo đường tổng hợp
trong các thuốc cổ truyền của Trung Quốc. Các mẫu ở các dạng: viên nén,
15
viên nang, thuốc viên và thuốc hạt được nghiền thành bột đồng nhất. Lượng
bột tương đương 1 liều dùng được cho vào bình định mức 50ml, thêm 40ml
methanol, chiết siêu âm trong 20 phút, pha loãng đến vạch bằng methanol.
Việc tách được thực hiện trên cột C18 với pha động gồm acetonitril và dung
dịch chứa 1,0mmol natri dodecyl sulfat và triethylamin 0,1% (sử dụng acid
phosphoric điều chỉnh tới pH 3,75), tốc độ dòng 0,8 ml/phút rửa giải theo
gradient, thể tích tiêm 20µl, phát hiện ở UV 220nm. Kết quả, có 7 loại thuốc
chống đái tháo đường tổng hợp (glibenclamid-phổ biến nhất, metformin,
phenformin, rosiglitazon, gliclazid, glimepirid và mitiglinid) được tìm thấy từ
9 trong số 26 mẫu thuốc cổ truyền thu thập được. Hàm lượng glibenclamid
được trộn lẫn thay đổi từ 0,58 mg/viên đến 3,25 mg/viên, tính theo liều dùng
là 3,34 mg/ngày đến 13,8 mg/ngày; hàm lượng metformin được trộn thay đổi