ĐẶC điểm DỊCH tễ lâm SÀNG, cận lâm SÀNG và một số yếu tố LIÊN QUAN VIÊM PHỔI mắc PHẢI tại BỆNH VIỆN ở TRẺ sơ SINH đẻ NON tại BỆNH VIỆN TRẺ EM hải PHÒNG - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG

PHẠM VĂN HƯNG

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ MỘT
SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VIÊM PHỔI MẮC PHẢI TẠI BỆNH
VIỆN Ở TRẺ SƠ SINH ĐẺ NON TẠI BỆNH VIỆN TRẺ EM HẢI
PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

HẢI PHÒNG - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀOTẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG

PHẠM VĂN HƯNG

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ MỘT
SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VIÊM PHỔI MẮC PHẢI TẠI BỆNH
VIỆN Ở TRẺ SƠ SINH ĐẺ NON TẠI BỆNH VIỆN TRẺ EM HẢI
PHÒNG


chỉ bảo tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải
Dương, tập thể các Bác sĩ Khoa Y, Bộ môn Nhi Trường Đại học Kỹ thuật Y tế
Hải Dương đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập.
Tôi vô cùng biết ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp đã động viên, chia sẻ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Hải Phòng, ngày 20 tháng 10 năm 2016
Phạm Văn Hưng


CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BN

Bệnh nhân

BV

Bệnh viện

CDC

Center for disease control ( Trung tâm kiểm soát
bệnh tật của Hoa Kỳ)

CS

Cộng sự


Viêm phổi bệnh viện

WHO

World health Organization ( Tổ chức Y Tế Thế Giới)

MỤC LỤC
Trang


ĐẶT VẤN ĐỀ....................................................................................
Chương 1: TỔNG QUAN...................................................................
1.1. Đặc điểm trẻ sơ sinh thiếu tháng...............................................
1.2. Bệnh viêm phổi ở trẻ sơ sinh đẻ non.............................................
1.3. Viêm phổi mắc phải tại bệnh viện..............................................
1.4. Tình hình NKBV tại Việt Nam và trên Thế Giới..........................
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu...................................
2.2. Phương pháp nghiên cứu............................................................
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..............................................
3.1. Đặc điểm dịch tễ lâm sàng, cận lâm sàng bệnh viêm phổi mắc

1
3
3
8
13
19
22
22

lúc 31
sinh............................................................................
Bảng
3.6:
Thời
gian
khởi 32
bệnh.........................................................................


Bảng
3.7:
Triệu
chứng
toàn
thân......................................................................
Bảng 3.8: Triệu chứng hô hấp....................................................................
Bảng 3.9: Nhịp tim....................................................................................
Bảng 3.10: Phân loại viêm phổi theo mức độ............................................
Bảng
3.11:
Số
lượng
bạch
cầu
trong
máu
ngoại
vi.....................................
Bảng

của
P.aeruginosa............................
Bảng
3.19:
Mức
nhạy
cảm
kháng
sinh
của
S.aureus..................................
Bảng 3.20: Liên quan tuổi thai với mức độ nặng của viêm
phổi.....................
Bảng 3.21: Liên quan cân nặng lúc sinh với mức độ nặng viêm
phổi.............................................................................................................
......
Bảng 3.22: Liên quan giữa ngày xuất hiện viêm phổi với mức độ nặng
viêm
phổi........................................................................................................
Bảng 3.23: Liên quan giữa thở máy với mức độ nặng của viêm
phổi...........................................................................................................
Bảng 3.24: Liên quan giữa đặt catherer tĩnh mạch rốn với mức độ nặng
của
viêm
phổi..........................................................................................................

33
34
35
36

Nhiễm khuẩn bệnh viện được xác định là nhiễm khuẩn phát triển trong
thời gian bệnh nhân điều trị tại bệnh viện sau 48 giờ không có sự biểu hiện và ủ
bệnh vào thời điểm bệnh nhân nhập viện [1].
Viêm phổi bệnh viện là loại nhiễm khuẩn bệnh viện thường gặp và là
nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong số các loại nhiễm khuẩn bệnh viện
(30- 70 %), kéo dài thời gian và chi phí nằm viện. Theo các nghiên cứu ở các
nước đã phát triển, viêm phổi bệnh viện chiếm 15% trong tổng số các loại nhiễm
khuẩn bệnh viện , chiếm 27% trong các nhiễm khuẩn bệnh viện ở khoa hồi sức
tích cực [3].
Tại Việt Nam, kết quả điều tra toàn quốc năm 2005 trên 19 bệnh viện cho
thấy viêm phổi bệnh viện chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các nhiễm khuẩn bệnh
viện khác (55,4%) [3]. Theo Lê Thanh Duyên, nghiên cứu xác định tỷ lệ nhiễm
khuẩn bệnh viện và một số yếu tố liên quan tại khoa hồi sức cấp cứu bệnh viện
Nhi Trung Ương năm 2008 cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện chung là 52%
[11]. Hà Mạnh Tuấn, Hoàng Trọng Kim nghiên cứu tần suất nhiễm khuẩn bệnh
viện tại khoa hồi sức cấp cứu Nhi bệnh viện Nhi Đồng 1 năm 2005 cho thấy tỷ
lệ nhiễm khuẩn bệnh viện là 22,9 % [9]. Theo Dương Văn Linh nghiên cứu tần
suất, vi khuẩn và một số yếu tố liên quan tới viêm phổi ở trẻ thở máy tại bệnh
viên Trẻ em Hải Phòng năm 2011 cho thấy tần suất mắc viêm phổi sau khi đặt


2

ống nội khí quản thở máy là 58,8% trong đó nhóm tuổi sơ sinh có tỷ lệ mắc
viêm phổi sau khi đặt ống nội khí quản thở máy cao nhất với 86,6% [4].
Viêm phổi mắc phải ở trẻ sơ sinh đẻ non là một nhiễm khuẩn thường gặp
tại khoa hồi sức sơ sinh và có tỷ lệ tử vong cao. Ở trẻ sơ sinh non tháng cấu trúc
của các cơ quan chưa trưởng thành để thích nghi với cuộc sống bên ngoài nên
trẻ non tháng có nguy cơ cao về bệnh tật và gặp nhiều biến chứng. Vì vậy những
trẻ đẻ non sau sinh thường phải nằm viện điều trị lâu dài, diễn biến bệnh thường

Chiều dài (cm)
Vòng đầu (cm)
Vòng ngực (cm)
1.1.2.
-

< 22
Sảy thai
500
25

Những đặc điểm đó chứng tỏ khả năng thích nghi kém với môi trường bên
ngoài tử cung của trẻ [8].
1.1.3.1. Hô hấp
- Trẻ thường khóc chậm sau đẻ, khóc yếu, thở không đều, kiểu thở Scheyne
– Stock, có cơn ngừng thở 7-10 giây, có rối loạn nhịp thở có thể kéo dài 23 tuần sau đẻ hoặc lâu hơn nữa tùy thuộc vào tuổi thai. Những rối loạn do
trung tâm hô hấp chưa hoàn chỉnh nên sau khi cắt rốn gây thiếu oxy máu
và CO2 quá tăng làm ức chế hô hấp.
- Phổi chưa trưởng thành, tế bào phế nang còn là tế bào trụ, tổ chức liên kết
phát triển, tổ chức đàn hồi lại ít, do đó làm phế nang khó giãn nở, cách
biệt với các mao mạch nên sự trao đổi oxy càng khó khăn. Phổi còn chứa
chất dịch như nước ối của thời kỳ bào thai, những chất này tiêu đi chậm.
Các mao mạch tăng tính thấm nên dễ sung huyết hoặc xuất huyết.
- Lồng ngực trẻ đẻ non hẹp, xương sườn mềm dễ biến dạng, cơ liên sườn
chưa phát triển nên giãn nở kém cũng làm hạn chế di động của lồng ngực.
- Tất cả những yếu tố trên đã làm cản trở hô hấp của trẻ đẻ non, phổi dễ bị
xẹp từng vùng hoặc sung huyết, xuất huyết do suy hô hấp [8], [23].
1.1.3.2. Tuần hoàn
- Tim to tròn, tỷ lệ tim ngực > 0,55 %. Thất phải lớn hơn thất trái do đó trên
điện tim có trục phải. Ống động mạch (ống Botal) và lỗ Botal đóng chậm
sau đẻ vài tuần, nếu có suy hô hấp, các shunt ở phổi tăng thì đóng càng
chậm, nhịp tim phụ thuộc hoàn toàn vào hô hấp.
- Mạch dao động từ 90 – 220 lần/phút vì trung tâm thần kinh chưa hoàn
chỉnh, các mao mạch nhỏ, số lượng ít hơn trẻ đủ tháng, tổ chức tế bào


5

thành mạch chưa phát triển, dễ vỡ, dễ thoát quản, dễ phù nhất là khi thiếu
oxy ở những vùng xung quanh não thất ít tổ chức đệm.
- Máu: Các tế bào máu và các yếu tố đông máu đều giảm hơn trẻ đủ tháng,

1.1.3.4. Chức năng tiêu hóa
- Hệ tiêu hóa của trẻ đẻ non kém phát triển, các men tiêu hóa nói chung ít,
phản xạ bú yếu hoặc chưa có ở những trẻ đẻ quá non (dưới 28 tuần), dạ
dày tròn nhỏ, nằm ngang và cao sát cơ hoành, dung tích 5-10 ml dễ giãn
nên trẻ dễ nôn trớ sau khi ăn. Nhu động ống tiêu hóa còn kém, thành bụng
mỏng, lớp mỡ dưới da rất ít do đó có thể nhìn thấy quai ruột nổi.
- Gan thùy phải không to hơn thùy trái, chức năng gan kém, hầu như không
có glycogen vì glucogen chỉ tích lũy gan từ tuần thứ 35 bào thai, gan
không sản xuất được một số men chuyển hóa như men carbonic


6

anhydrase, glucuronyl – transferase... do đó trẻ đẻ non thường có vàng da
đậm kéo dài, dễ hạ đường máu, dễ tan máu... nhất là khi thiếu oxy [8].
1.1.3.5. Chức năng thận
- Thận hoạt động kém, chức năng lọc và đào thải chưa hoàn chỉnh, những
ngày đầu sau đẻ thận giữ nước và muối nhiều nên dễ bị phù.
- Thận giữ các chất điện giải kể cả các chất độc, do đó những ngày đầu sau
sinh, lượng kali trong máu thường cao và khi điều trị thuốc cho trẻ không
nên dùng các kháng sinh nặng, liều cao [8].
1.1.3.6. Chức năng chuyển hóa các chất.
- Tỷ lệ nước của trẻ đẻ non cao hơn trẻ đủ tháng, nước ở gian bào nhiều
hơn do đó dễ bị phù cứng bì vì ứ nước và lạnh.
- Nhu cầu Na+, K+ của trẻ đẻ non như trẻ đủ tháng, nhưng thận lại thải kali
rất chậm vì vậy phải chú ý khi cần thiết bù kali tránh gây ứ đọng.
- Sắt: bình thường được mẹ cung cấp trong những tháng cuối của thai kì
nên trẻ càng non thì càng thiếu sắt.
- Các vitamin: nói chung trẻ đẻ non thiếu hầu hết các vitamin do đó cần cho
thêm ngay từ những ngày đầu sau đẻ đến hết thời kì sơ sinh hoặc lâu hơn

khiến trẻ đẻ non phải nằm viện điều trị lâu dài, diễn biến bệnh thường nặng,
phức tạp và cũng là điều kiện thuận lợi của các NKBV, đặc biệt hay gặp là viêm
phổi bệnh viện.
1.2. Viêm phổi ở trẻ sơ sinh đẻ non.
1.2.1. Triệu chứng lâm sàng.
1.2.1.1. Triệu chứng toàn thân.
Đặc điểm lâm sàng viêm phổi sơ sinh thường không đặc hiệu khó phân biệt với
các bệnh nhiễm khuẩn sơ sinh khác, bệnh thường nặng, diễn biến nhanh và có tỷ
lệ tử vong cao. Triệu chứng toàn thân thường gặp là:
- Dấu hiệu tím: đó là dấu hiệu của thiếu oxy máu trầm trọng. do ở trẻ nhỏ
độ bão hòa oxy trong máu cao nên khi có giảm nồng độ oxy máu nếu ở
mức vừa phải vẫn chưa có dấu hiệu tím tái trên lâm sàng. Nên khi có biểu
hiện tím tái bệnh đã rất nặng. Theo Khu Thị Khánh Dung dấu hiệu tím
trong viêm phổi sơ sinh chiếm tới 2/3 (64,9%) và tỷ lệ ở trẻ đẻ non lớn
hơn trẻ đủ tháng [10].
- Bỏ bú, bú kém: mặc dù không phải là dấu hiệu đặc trưng của viêm phổi
nhưng là dấu hiệu lâm sàng quan trọng để tiên lượng bệnh. Khi đứa trẻ đã
bú kém hay bỏ bú nghĩa là đứa trẻ đang trong tình trạng nguy kịch không
còn đủ sức để duy trì phản xạ sinh tồn. Bỏ bú, bú kém chiếm 23,5% ở


8

viêm phổi sơ sinh mắc phải [19]. Và đặc biệt viêm phổi sơ sinh ở nhóm
trẻ non tháng thấp cân tỷ lệ bỏ bú rất cao 85,2% [17].
- Dấu hiệu li bì: là dấu hiệu không đặc hiệu của bệnh viêm phổi, nhưng nó
thể tiện tình trạng nặng của bệnh viêm phổi, vì lúc đó đứa trẻ rơi vào tình
trạng kiệt sức, trạng thái thần kinh bị ức chế. Dấu hiệu li bì trong viêm
phổi chiếm tới 63,2% ở nhóm trẻ sơ sinh đẻ non, 29,9% ở nhóm trẻ sơ
sinh đủ tháng [10].

- Rút lõm lồng ngực: do nhu mô phổi bị tổn thương viêm, đông đặc gây hạn
chế thở làm cho các cơ hô hấp phải tăng cường hoạt động tạo nên dấu
hiệu RLLN. Dấu hiệu RLLN là biểu hiện bệnh viêm phổi nặng. Riêng đối
với trẻ dưới 2 tháng tuổi RLLN mạnh mới có giá trị vì lúc này lồng ngực
còn mềm. Theo nghiên cứu của Đào Minh Tuấn đã kết luận RLLN là dấu
hiệu có giá trị tiên lượng mức độ nặng của viêm phế quản phổi [7].
- Cơn ngừng thở: Ở trẻ em, đặc biệt trẻ sơ sinh trung tâm hô hấp chưa hoàn
chỉnh nên khả năng điều hòa nhịp thở kém, đáp ứng với tình trạng thiếu
oxy bằng cách tăng nhịp thở chỉ trong thời gian ngắn và sau đó dẫn đến
cơn ngừng thở. Khi có cơn ngừng thở được gọi là dấu hiệu bệnh nặng
trong viêm phổi. Cơn ngừng thở hay gặp hơn ở nhóm trẻ đẻ non [10].
- Ran ẩm nhỏ hạt: là dấu hiệu đặc trưng cho viêm phổi, xong có độ nhạy và
độ đặc hiệu không cao như đối với viêm phổi sơ sinh đẻ non. Theo kết
quả nghiên cứu của Nguyễn Thành Trung và cộng sự ran ẩm chỉ gặp
42,9% trong viêm phổi sơ sinh đẻ non [17].
- Để đánh giá được các triệu chứng lâm sàng khách quan nhất cần phải
khám khi trẻ nằm yên, không khóc, không bú...
- Triệu chứng viêm phổi ở trẻ sơ sinh không điển hình đặc biệt là trẻ sơ sinh
đẻ non, các tổn thương tại phổi gặp dưới 50%, chủ yếu là dấu hiệu toàn
thân như hạ nhiệt độ 42%, nhiễm trùng nhiễm độc nặng 64,3% và triệu
chứng tiêu hóa như bỏ bú 85,2% [17].
- Vì vậy để chẩn đoán được viêm phổi sơ sinh chúng ta cần phải khám xét
một cách tỷ mỉ và toàn diện.
1.2.2. Cận lâm sàng.
1.2.2.1. Xét nghiệm máu.
- Bạch cầu: Là những tế bào có khả năng vận động. Chúng được tạo ra một
phần trong tủy xương và một phần trong các mô bạch huyết. Sau khi được


10



11

+ Theo nghiên cứu đặc điểm viêm phổi trẻ sơ sinh bệnh viện Nhi Đồng 2
năm 2007, số lượng tiểu cầu ≥ 150 G/l (82,8%), tiểu cầu 10
mg/l chiếm 23,2% [10].
1.2.2.2. X quang phổi.
- Chụp X quang phổi là xét nghiệm đơn giản, dễ làm, giúp ích nhiều cho
chẩn đoán xác định viêm phổi. Kết quả có thể thấy tổn thương lan tỏa
hoặc có khi kết hợp với tràn dịch, tràn khí, có 51% hình ảnh nốt mờ rải
rác ở phế nang [10].
1.2.2.3. Xét nghiệm vi khuẩn.
- Bệnh nhân được lấy dịch nội khí quản để soi, nuôi cấy xác định vi khuẩn
gây viêm phổi. Tuy nhiên tỷ lệ tìm thấy vi khuẩn là không cao.
- Cấy máu lúc sốt cao, triệu chứng nhiễm trùng rõ, xét nghiệm: bạch cầu ≤
4G/L hoặc ≥ 15 G/L, Tiểu cầu <100G/l, CRP > 10 mg/l. Theo nghiên cứu
BV nhi Đồng 2 năm 2007 kết quả dương tính là 8,7% [5].
1.3. Viêm phổi mắc phải tại bệnh viện.
1.3.1. Định nghĩa.
- Viêm phổi mắc phải bệnh viện là viêm phổi mắc phải trong thời gian nằm
viện, thường sau khi nhập viện 48 giờ, tại thời điểm nhập viện BN không
mắc viêm phổi cũng như trong giai đoạn ủ bệnh [1], [2], [48], [46], [49].

- Ngừng thở, thở nhanh, phập phồng cánh mũi cùng với co kéo thành ngực


hoặc thở rên
Khò khè, ran ẩm/nổ hoặc ran ngáy.
Ho
Nhịp tim chậm (<100 lần/phút) hoặc nhanh (>170 lần/phút).
Tiêu chuẩn x quang [49]: BN có 2 lần chụp x quang tim phổi trở lên
(nếu BN không mắc các bệnh cơ bản là tim hoặc phổi thì có thể chấp nhận



1 lần chụp) và có ít nhất 1 trong các tiêu chuẩn sau:
Hình ảnh thâm nhiễm mới hoặc tiến triển và tồn tại dai dẳng
Hình ảnh đông đặc
Hang
Hình ảnh tràn khí (ở trẻ ≤ 1 tuổi)
Tiêu chuẩn nuôi cấy vi sinh [49]: Có ít nhất một trong các tiêu chuẩn

sau:
- Cấy máu dương tính mà không liên quan đến nguồn nhiễm trùng khác
- Cấy dịch màng phổi dương tính với vi khuẩn.


13

- Cấy định lượng dương tính vi khuẩn từ những bệnh phẩm nhiễm khuẩn
tối thiểu của đường hô hấp dưới (ví dụ như phương pháp chải rửa phế
nang BAL, phương pháp bàn chải phế quản có bảo vệ).
- Có ≥ 5% lượng tế bào với phương pháp chải phế nang chứa vi khuẩn qua

14

1.3.3. Các yếu tố nguy cơ.
Yếu tố nguy cơ VPBV thường được phân thành những nhóm sau:
1.3.3.1. Các yếu tố thuộc về người bệnh
- Trẻ sơ sinh, người già trên 65 tuổi, người béo phì, người bệnh phẫu thuật
bụng, ngực, đầu và cổ, người bệnh có bệnh lý nặng kèm theo như có rối
loạn chức năng phổi như bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, bất thường lồng
ngực, chức năng phổi bất thường, suy giảm miễn dịch, mất phản xạ ho
nuốt.
- Người bệnh hôn mê, khó nuốt do bệnh lý hệ thần kinh hoặc thực quản làm
tăng nguy cơ viêm phổi hít
- Các yếu tố làm gia tăng sự xâm nhập và định cư của vi khuẩn: Ở người
khoẻ mạnh, tế bào biểu mô niêm mạc miệng được phủ một lớp
fibronectin ngăn chặn sự bám dính của vi khuẩn gram âm, lớp bảo vệ này
bị mất đi trong những trường hợp bệnh nặng làm cho vi khuẩn gram âm
bám dính vào biểu mô vùng hầu họng nhiều hơn. Do đó vi khuẩn thường
trú ở vùng hầu họng ở người lớn khỏe mạnh là vi khuẩn yếm khí và liên
cầu tan máu  (Streptococi -hemolytic), ngược lại vùng hầu họng của
các người bệnh nhập viện thường bị các vi khuẩn Gram âm hiếu khí
đường ruột cư trú, điều này giải thích tỷ lệ vi khuẩn gram âm thường
nhiều hơn vi khuẩn gram dương trong các trường hợp VPBV [3].
1.3.3.2. Các yếu tố do can thiệp y tế
- Đặt nội khí quản hoặc mở khí quản.
- Đặt ống thông mũi dạ dày: ống thông làm gia tăng vi sinh vật ký sinh ở
vùng mũi, hầu, gây trào ngược dịch dạ dày, vi khuẩn từ dạ dày theo đường
ống đến đường hô hấp trên.
- Các điều kiện tạo thuận lợi cho quá trình trào ngược hoặc viêm phổi do
hít sặc: như đặt nội khí quản, đặt ống thông dạ dày, tư thế nằm ngửa.
Nghiên cứu cho thấy lòng ống nội khí quản nhanh chóng bị phủ một lớp

- Nuôi ăn qua đường tiêu hóa có thể gây lây chéo vi khuẩn thông qua quá
trình chuẩn bị dung dịch nuôi ăn và làm cho PH dạ dày tăng lên, ngoài ra
sự trào ngược và viêm phổi hít dễ xảy ra khi dạ dày gia tăng về thể tích và
áp lực [3].
1.3.3.3. Các yếu tố môi trường, dụng cụ.


16

- Lây truyền các vi khuẩn gây VPBV như trực khuẩn Gram âm và tụ cầu
qua bàn tay của nhân viên y tế bị nhiễm bẩn thông qua các thao tác như
hút đờm, cầm vào dây máy thở, vào ống nội khí quản. Vì thế nhân viên y
tế phải tuyệt đối chú ý đến vấn đề rửa tay, mang găng khi chăm sóc người
bệnh, đặc biệt tại các khoa/đơn vị hồi sức tích cực.
- Lây truyền các vi sinh vật gây VPBV qua dụng cụ không được khử tịệt
khuẩn đúng quy cách
- Lây truyền các vi sinh vật gây VPBV qua môi trường không khí, qua bề
mặt bị nhiễm [3].
1.3.4. Tác nhân gây viêm phổi bệnh viện:
Theo hướng dẫn phòng ngừa viêm phổi bệnh trong các cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh (Bộ Y Tế năm 2012) [3].
- Tác nhân gây viêm phổi bệnh viện có thể khác nhau giữa các bệnh viện,
địa lý do nguồn bệnh và phương pháp chẩn đoán khác nhau. Tác nhân gây
VPBV do nhiều loại vi khuẩn, thường là vi khuẩn Gram âm hiếu khí (83%
theo số liệu của Estes RJ 1995) như Pseudomonas aerginosa,
Acinetobacter spp, Enterobacter spp, E coli, Providencia spp, vi khuẩn
Gram dương như Staphylococcus aureus và Streptococus pneumonia cũng
chiếm tỷ lệ cao (27%, 14% theo thứ tự). Những vi khuẩn này thường đa
kháng thuốc nên gây khó khăn cho điều trị. Các nghiên cứu tại Việt Nam
cũng cho thấy vi khuẩn gây bệnh thường gặp tương tự.

- Tại Ấn Độ, theo nghiên cứu ở Mumbai cho thấy tỷ lệ NKBV trong các
đơn vị điều trị tích cực Nhi là 27,3% trong đó viêm phổi chiếm 28% [27].
- Tại Mỹ, nghiên cứu với số liệu tổng hợp từ 61 đơn vị điều trị tích cực
Nhi trong thời gian từ năm 1992 đến năm 1997 cho thấy tỷ lệ NKBV là
5,68%, trong đó nhiễm khuẩn máu chiếm 28%, là nhiễm khuẩn phổ biến
nhất, viêm phổi chiếm 21%, nhiễm khuẩn tiết niệu 21%. Trong đó hơn
70% xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi và hầu hết (39%) xảy ra ở trẻ dưới 2 tháng
tuổi [44].
- Tại Thổ Nhĩ Kì, qua khảo sát 56 đơn vị điều trị tích cực, tỷ lệ NKBV
hiện mắc là 48,7%. Viêm phổi và nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới chiếm
28%, nhiễm khuẩn máu 23,3%, nhiễm khuẩn đường tiểu 15,7% [42].
1.4.2. Tình hình NKBV tại Việt Nam.
- Việt Nam là quốc gia có nét đặc thù riêng về khí hậu, kinh tế còn nghèo,
nền y học còn nhiều hạn chế so với các quốc gia khác trên thế giới. Qua
các công trình nghiên cứu về tình hình NKBV của nhiều tác giả trong


18

nước đã cho thấy rằng NKBV đang gia tăng ở hầu hết các bệnh viện với
những chủng vi khuẩn đa kháng thuốc đã gây khó khăn trong công tác
điều trị, tốn kém kinh phí cho nhà nước.
- Qua điều tra tình hình NKBV tại một số bệnh viện thuộc sở Y tế thành
phố Hà Nội tỷ lệ NKBV là 10%. Nhiễm khuẩn hô hấp, nhiễm khuẩn vết
mổ và nhiễm khuẩn tiêu hóa là ba loại nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất
theo trình tự là 36,5%, 29,9% và 19,6%. Tỷ lệ NKBV cao nhất ở khoa
HSCC (25,8%) cao hơn những khu vực khác [21].
- Theo Đặng Văn Quý, Nguyễn Thị Hạnh Lê, Võ Công Đồng nghiên cứu
đặc điểm NKBV tại khoa HSCC bệnh viện Nhi Đồng 2 năm 2001 cho
thấy: tỷ lệ NKBV là 23,1%, ở trẻ sơ sinh nhiễm trùng huyết cao nhất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status