1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Hiện nay phát triển nông thôn không còn là việc riêng của các nước
đang phát triển mà là sự quan tâm của cả cộng đồng thế giới. Việt Nam là
nước đông dân, với 80% dân số, 70% lao động nông nghiệp đang sinh sống ở
vùng nông thôn. Nông thôn chiếm vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển
đất nước. Thực trạng nông thôn Việt Nam hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập,
so sánh với thành thị, trình độ văn hóa, đời sống vật chất, văn hóa tinh thần và
khả năng tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật của người dân nông thôn thấp
hơn, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, kém hơn cả về số lượng và chất lượng. Tuy
nhiên, nông thôn có tiềm năng đất đai, tài nguyên khoáng sản phong phú,
nguồn nhân lực dồi dào, đây là điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển. Xây
dựng, quy hoạch phát triển nông thôn mới nhằm sử dụng hợp lý và hiệu quả
nguồn tài nguyên, nhanh chóng thay đổi bộ mặt nông thôn, phát triển nông
thôn toàn diện, bền vững là nhiệm vụ cần thiết của nước ta trong giai đoạn
mới. Xây dựng nông thôn mới là bước đầu tiên để tiến tới công nghiệp hóa và
hiện đại hóa. Hội nghị lần thứ 7 của ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X
đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về vấn đề nông nghiệp,
nông dân và nông thôn. Nghị quyết đã xác định mục tiêu xây dựng nông thôn
mới đến năm 2020. Ngày 16/4/2009 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định
số 491/QĐ-TTg ban hành bộ tiêu chí quốc gia (bao gồm 19 tiêu chí) về nông
thôn mới. Đây là cơ sở để chỉ đạo xây dựng mô hình nông thôn mới nhằm
thực hiện các mục tiêu quốc gia về nông thôn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước. Mục tiêu của việc xây dựng nông thôn mới ngoài việc
2
phát triển kinh tế nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng dân cư
thì việc bảo vệ môi trường sinh thái tại nơi người dân sinh sống rất quan
trọng. Trong bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới thì tiêu chí số 17 nói về vấn
các xã thuộc vùng nghiên cứu..
-
Xác định những thuận lợi, khó khăn trong thực hiện tiêu chí môi
trường tại các xã thuộc vùng nghiên cứu.
-
Đề xuất giải pháp thực hiện tiêu chí môi trường tại một số xã,
trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học:
+ Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho
công tác sau này.
+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu.
- Ý nghĩa trong thực tiễn:
+ Kết quả của đề tài sẽ góp phần nâng cao được sự quan tâm của người
dân về việc bảo vệ môi trường.
+ Làm căn cứ để cơ quan chức năng tăng cường công tác tuyên truyền
giáo dục nhận thức của người dân về môi trường.
+ Xác định thực trạng môi trường nông thôn tại một số xã trên địa bàn
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
+ Đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường cho địa phương nói riêng và
khu vực nông thôn thuộc tỉnh Tuyên Quang nói chung.
4
kinh tế - xã hội của từng vùng.
Ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ Tướng Chính phủ ban hành Quyết
định số 800/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây
dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020. Tại quyết định này, mục tiêu
chung của Chương trình được xác định là: “Xây dựng nông thôn mới có kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình
thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công
nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội
nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh
thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần
của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
(Thủ tướng Chính phủ, 2010[15]).
Như vậy, nông thôn mới là nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội dân
chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất, tinh thần được
nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững.
1.1.1.2. Khái niệm về môi trường nông thôn
6
Với tính chất là một thuật ngữ pháp lý, Môi trường được định nghĩa
trong Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam (thông qua 23/06/2014): “là hệ thống
các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát
triển của con người và sinh vật” .
Và môi trường được tạo thành từ các yếu tố bao gồm: “đất, nước, không
khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác”
Định nghĩa trên đưa ra mối quan hệ giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố vất
chất nhân tạo đó là “quan hệ mật thiết với nhau”.
Tóm lại yếu tố tự nhiên có mối quan hệ mật thiết với yếu tố vật chất
nhân tạo, giữa chúng có sự tác động qua lại với nhau, yếu tố này làm tiền đề
cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi
7
trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ
đa dạng sinh học. (Quốc hội, 2014 [13]).
“Nâng cao chất lượng môi trường là mục đích chủ yếu của công tác
BVMT. Chất lượng môi trường phản ánh mức độ phù hợp của môi trường đối
với sự tồn tại, phồn vinh cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của nhân loại. ở
những năm 60 cùng với sự xuất hiện vấn đề chất lượng môi trường cũng ngày
càng được quan tâm. Người ta dần dần dùng mức độ tốt xấu của môi trường,
để biểu thị mức độ môi trường bị ô nhiễm” (Lê Văn Khoa, Trần Thiên Cường,
Trần Khắc Hiệp, Trịnh Thị Hải Yến, 2003 [12]).
1.1.1.3. Các khái niệm thuật ngữ khác
-
Khái niệm tài nguyên nước:
Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là một phần thiết yếu của sự
sống và môi trường. Nước không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của thế
giới sinh vật và nhân loại trên trái đất. Nước quyết định sự tồn tại và phát triển
bền vững của đất nước; mặt khác nước cũng có thể gây ra tai họa cho con
người và môi trường. Tài nguyên nước vừa là nguồn tài nguyên hữu hạn và vô
hạn. Nước là một tài nguyên vô hạn. Nước trên Trái đất có số lượng rất lớn,
với trữ lượng nước là 1,45 tỷ km 3 bao phủ 71% diện tích trên Trái đất tương
đương với một lớp nước dày 2700m khi trải ra trên toàn bộ bề mặt trái đất.
Tổng sản lượng nước trên Trái đất gồm 97,5% nước biển và chỉ có 2,5% nước
ngọt. Trong 2,5% nước ngọt đó, có: 0,4% nước mặt gồm sông ngòi (1,6%), ao
hồ (67,4%), và hơi nước trong không khí (9,5%); 30,1% nước ngầm; phần còn
lại là những tảng băng trải rộng ở Bắc và Nam cực. Hiện nay, sự suy thoái của
những vấn đề liên quan tới tài nguyên và môi trường, trong đó có tài nguyên
nước. Ở Cấp tỉnh có sở tài nguyên và môi trường là cơ quan chuyên môn giúp
UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước. Ở
huyện có phòng tài nguyên và môi trường. Ở cấp xã có cán bộ phụ trách vấn
đề tài nguyên môi trường trên địa bàn xã.
-
Cơ sở sản xuất kinh doanh:
9
Cơ sở sản xuất kinh doanh bao gồm: Các cơ sở sản xuất (trồng trọt,
chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, tiểu thủ công nghiệp), các cơ sở chế biến
nông, lâm, thuỷ sản của hộ cá thể, tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc các doanh
nghiệp đóng trên địa bàn.
-
Không có các hoạt động gây ô nhiễm môi trường và có các hoạt
động phát triển môi trường xanh - sạch - đẹp:
Không có các hoạt động gây ô nhiễm môi trường và có các hoạt động
phát triển môi trường xanh - sạch - đẹp trên địa bàn xã gồm các nội dung:
+ Không có cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động gây ô nhiễm môi trường.
+ Trong mỗi thôn (bản, buôn, ấp) đều có tổ dọn vệ sinh, khai thông
cống rãnh, phát quang dọn cỏ ở đường thu gom về nơi quy định để xử lý.
+ Định kỳ tổ chức tổng vệ sinh với sự tham gia của mọi người dân.
+ Tổ chức trồng cây xanh ở nơi công cộng, đường giao thông và các
trục giao thông chính nội đồng.
+ Tôn tạo các hồ nước tạo cảnh quan đẹp và điều hoà sinh thái.
+ Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch. (Bộ Nông nghiệp và
-
Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
-
Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
-
Giảm nghèo và an sinh xã hội
-
Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có
hiệu quả ở nông thôn
-
Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn
-
Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn
Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông
nông thôn cấp
nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
-
Nhóm V: Hệ thống chính trị (có 02 tiêu chí)
1.1.4. Nội dung xây dựng tiêu chí môi trường
Tiêu chí môi trường là một trong 19 tiêu chí nông thôn mới theo Quyết
định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành
Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới.
1.1.4.1. Mục tiêu
Mục tiêu chung của tiêu chí này là: Bảo vệ môi trường, sinh thái, cải
thiện, nâng cao chất lượng môi trường khu vực nông thôn thông qua các hoạt
động tuyên truyền, nâng cao nhận thức, ý thức và đi đến hành động cụ thể của
các cấp, các ngành và cả cộng đồng nhân dân.
Mục tiêu cụ thể: Đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia
nông thôn mới; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho
12
dân cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực
hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã.
Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn.
1.1.4.2. Nội dung tiêu chí 17 (môi trường)
-
Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn
Quốc gia:
+ Nước sạch theo quy chuẩn quốc gia là nước đáp ứng các chỉ tiêu theo
quy định của Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt:
QCVN02:2009/BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 17/6/2009. (Bộ Y tế, 2009
Cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm môi trường: bị các cơ
quan chức năng như: Cảnh sát môi trường, cán bộ phòng tài nguyên môi
trường,….lập biên bản vi phạm, cảnh cáo, phạt đối với hành vi gây ô nhiễm
môi trường của các cơ sở kinh doanh.
-
Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch:
+ Nghĩa trang nhân dân được xây dựng phục vụ cho việc chôn cất của
nhân dân trong xã hoặc cụm xã theo qui hoạch được UBND huyện, thị xã phê
duyệt.
+ Mỗi xã chỉ nên bố trí một nghĩa trang nhân dân với các hình thức mai
táng khác nhau. Đối với các xã có nhu cầu khác nhau theo từng dân tộc, tôn
giáo thì nên bố trí thành các khu táng riêng biệt.
(Chú thích : Đối với các điểm dân cư- nông thôn của 2- 3 xã gần nhau
(trong bán kính 3 km) thì quy hoạch một nghĩa trang nhân dân chung cho các
xã đó.)
+ Khoảng cách an toàn vệ sinh môi trường tối thiểu từ nghĩa trang đến
đường bao khu dân cư, trường học, bệnh viện, công sở, được qui định như
sau:
Bảng 1.1: Khoảng cách ly vệ sinh của nghĩa trang đến
các công trình khác
Đối tượng cần cách ly
Từ hàng rào của hộ dân gần nhất
Công trình khai thác nước sinh
hoạt tập trung
Khoảng cách tới nghĩa trang
Nghĩa trang
Tỷ lệ tử vong tự nhiên;
Diện tích đất xây dựng cho một mộ phần.
+ Diện tích đất xây dựng cho mộ chôn cất 1 lần tối đa không quá 5 m2
(đối với mộ hung táng) và không quá 3 m2 /mộ (đối với mộ cát táng).
+ Mộ phải đặt theo hàng, xây dựng đúng diện tích, khoảng cách và
chiều cao quy định. Nghĩa trang phải có tường rào bao quanh.
- Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định:
+ Hộ gia đình có hệ thống tiêu thoát nước thải, chất thải sinh hoạt đảm
bảo vệ sinh, không gây ô nhiễm không khí và nguồn nước xung quanh;
+ Mỗi khu dân cư tập trung của thôn, xã phải có hệ thống tiêu thoát
nước thải thông thoáng;
+ Thôn, xã có tổ dịch vụ thu gom rác thải và xử lý tại bãi rác tập trung.
+ Cơ sở phải thực hiện thu gom, xử lý chất thải, nước thải theo quy
định.
+ Các cơ sở phải thực hiện thu gom, phân loại chất thải rắn thông
thường tại nguồn bằng các dụng cụ hợp vệ sinh theo hướng dẫn của tổ chức
thu gom, vận chuyển; phải kí hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý
chất thải rắn.
15
1.1.4.3. Mục tiêu thực hiện tiêu chí môi trường trên toàn quốc
-
Nước sinh hoạt: Tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch
hợp vệ sinh đã tăng từ 30% năm 1990 lên 83% năm 2010. Phấn đấu đến năm
2015 có 100% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó
60% dân số được sử dụng nước sạch. Tiếp tục đầu tư xây dựng công trình cấp
nước tập trung ở 81 xã có khó khăn về nguồn nước, nâng cấp cải tạo 12 trạm
16
Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã,
thôn theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát
nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã;
chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong
khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng….
* Nhiệm vụ cụ thể:
-
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý
thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường cho mọi người.
-
Giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ các hoạt động sản xuất
nông
nghiệp, chăn nuôi gia súc gia cầm.
-
Triển khai thực hiện tốt phân loại chất thải rắn tại nguồn
kết hợp với việc cải tiến toàn bộ hệ thống thu gom - vận chuyển - xử lý
chất thải rắn.
Phát triển các hệ thống cung cấp nước sạch và cải thiện
điều kiện vệ
sinh môi trường nông thôn.
-
Chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang.
hằng ngày, hoặc nguồn nước bị ô nhiễm. Ðiều tra, thống kê của Liên Hợp
Quốc (LHQ) cho thấy tình hình khan hiếm nước đang diễn ra ở nhiều vùng
thuộc các châu lục khác nhau trên thế giới. Ở các nước đang phát triển,
khoảng 70 - 75% dân cư đô thị được sử dụng nước sạch, còn ở nông thôn chỉ
đạt khoảng 25 - 30%; tình trạng người dân rửa rau, vo gạo, cùng tắm giặt
trong ao hồ, sông ngòi rất phổ biến. Hiện nay có khoảng 2,6 tỷ người trên thế
giới không được tiếp cận nhà vệ sinh sạch sẽ ổ chức từ thiện Anh WaterAid đã
lập danh sách các nước có trên 10 triệu người không được sử dụng nhà vệ sinh
đúng tiêu chuẩn là Nga, Romania, Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico, Brazil, Ai Cập,
Morocco và nhiều nước khác, trong đó Ấn Độ có 700 triệu người không được
18
tiếp cận với nhà vệ sinh có hệ thống nước thải đúng quy cách (Tuấn Anh,
2012 [17]).
1.2.2. Ở Việt Nam
Ngay sau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc (1954), Đảng và Chính phủ
đã quan tâm đến vấn đề sức khỏe và môi trường sống của nhân dân nói chung
và ở nông thôn nói riêng. Từ năm 1960 ngành Y tế đã tuyên truyền vận động
mạnh mẽ nhân dân xây dựng 3 công trình Giếng nước - Nhà tắm - hố xí.
Phong trào này nhanh chóng được triển khai trên phạm vi toàn quốc vào sau
ngày đất nước hoàn toàn thống nhất (1975) và đạt được nhiều kết quả to lớn.
Hưởng ứng “Thập kỷ Quốc tế cấp nước và vệ sinh môi trường của Liên
Hợp Quốc 1981, 1990, Chương trình cung cấp nước sạch và VSMT nông thôn
được bắt đầu triển khai ở Việt Nam với sự trợ giúp mạnh mẽ của Quỹ nhi
đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), Chương trình được thực thi ban đầu ở 03
tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long và mở rộng nhanh chóng trên phạm vi
toàn quốc vào năm 1993. Mặc dù Chương trình đã thực hiện 18 năm trên diện
rộng nhưng kết quả đạt được còn rất khiêm tốn vì những hạn chế nguồn vốn
(trung bình 75 tỷ hàng năm không tính phần đóng góp của người sử dụng).
chưa được chú trọng. Những yếu kém này là nguyên nhân góp phần làm cho
môi trường nước ta tiếp tục bị suy thoái, đặt ra nhiều thách thức cho đời sống
nhân dân. Tại 63 tỉnh thành trong cả nước cũng đã triển khai xây dựng NTM
do các tỉnh chỉ đạo. Các tỉnh thành đã thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh và bước
đầu phê duyệt đề cương, dự án của các xã điểm và triển khai một số nội dung
như: xây dựng cơ sở hạ tầng, tổ chức các lớp tập huấn khuyến
20
nông, khuyến lâm.
Hiện nay nước ta vẫn còn trên 60% dân số nông thôn chưa có nước sạch
để dùng. Nước mặt ở các sông, hồ, suối, ao đã nhiễm bẩn, nhiễm mặn. Tình
hình khô hạn, thiếu nước sản xuất đang diễn ra gay gắt. Theo tin của Ban Chỉ
đạo quốc gia về Chương trình Nước sạch và vệ sinh môi trường cho thấy cả
nước có khoảng 43.729 hộ (215.720 người) thiếu nước sinh hoạt. Trong đó
Đắk Lắk 12.580 hộ (126.610 người), Gia Lai 6.752 hộ (33.760 người), Ninh
Thuận 11.720 hộ (58.600 người). Tại các vùng núi, vùng thưa dân, tỷ lệ hộ sử
dụng nước sạch chỉ đạt con số rất thấp. Bắc Kạn năm 1997 mới chỉ có 11%
dân số được hưởng nước sạch, con số này mới chỉ tăng lên đến 24% vào năm
2002. Tại các tỉnh Đồng Tháp, Tây Ninh, con số này cũng chỉ dừng ở mức
25% và 28%. Trong toàn quốc có trên 60% hộ gia đình chưa có hố xí hợp vệ
sinh, phóng uế tự do và dùng phân tươi bón cây, nuôi cá Theo Liên Hợp Quốc
hơn 80% hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam tức là khoảng gần 50 triệu người,
trong đó có 18 triệu trẻ em ở không được sử dụng nhà vệ sinh đạt tiêu
chuẩn.mặc dù 73% số trường học có nhà vệ sinh, song chỉ có 12% trường ở
nông thôn có nhà vệ sinh đạt chuẩn của Bộ Y tế. Theo Tổ chức Y tế thế giới, ở
Việt Nam có 20.000 người bị tử vong hàng năm do nước không an toàn và vệ
sinh kém gây ra, trong đó phần lớn là trẻ em. Nước không an toàn và vệ sinh
yếu kém cũng liên quan đến tỉ lệ suy dinh dưỡng cao ở trẻ em dưới 5 tuổi ở
Việt Nam. Chỉ có 18% người dân ở nông thôn Việt Nam nhận thức được rằng
ngành triển khai thực hiện. Cấp ủy huyện, xã đã cụ thể hóa bằng các nghị
22
quyết, chương trình hành động về xây dựng NTM phù hợp với thực tiễn của
địa phương.
Tập trung cao, quyết liệt cho công tác tuyên truyền, với sự vào cuộc của
hệ thống tuyên giáo, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể, các sở ban
ngành, các cơ quan thông tin đại chúng... bằng nhiều hình thức phong phú, đa
dạng. Trong 5 năm, đã có hàng vạn tin, bài, phát hành hàng ngàn đĩa CD, hàng
chục ngàn tờ rơi, sổ tay xây dựng nông thôn mới, xây dựng trang thông tin
điện tử với hàng triệu lượt người truy cập; tổ chức hàng trăm cuộc đối thoại,
hội thảo, hội thi, sân khấu hóa… về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây
dựng nông thôn mới. Xây dựng Bộ Giáo trình và tổ chức đào tạo cho đội ngũ
cán bộ các cấp về chuyên môn, kỹ năng thực hiện Chương trình.
Sớm thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình ở các cấp với đầy
đủ các thành phần trong hệ thống chính trị; BCĐ cấp tỉnh, huyện do đồng chí
Chủ tịch UBND làm Trưởng ban, cấp xã do đồng chí Bí thư làm Trưởng ban.
Cấp ủy các cấp đều thành lập các đoàn công tác chỉ đạo, giám sát tại các địa
phương; các sở, ban, ngành thành lập tổ công tác tham mưu, chỉ đạo thực hiện
các tiêu chí thuộc ngành phụ trách. Thành lập Văn phòng Điều phối cấp tỉnh,
huyện hoạt động chuyên trách, chuyên nghiệp; Ban Quản lý Chương trình cấp
xã do Chủ tịch UBND làm Trưởng ban, Ban giám sát cộng đồng do Trưởng
ban MTTQ làm Trưởng ban, 4 Tiểu ban (Tuyên truyền, Phát triển sản xuất,
Xây dựng hạ tầng, Văn hoá - xã hội), bố trí cán bộ chuyên trách cấp xã, thành
lập các Ban phát triển thôn. Trong 5 năm, Thường trực Ban Chỉ đạo tỉnh đã tổ
chức 186 cuộc làm việc, cấp huyện đã tổ chức 12.850
cuộc làm việc với các xã.
nhân dân Tuyên Quang chung sức xây dựng nông thôn mới.
Bằng các hoạt động thiết thực và huy động các nguồn lực như: huy
động nhân dân đóng góp trên 660 tỷ đồng và tự nguyện hiến hơn 41.800 m2
đất để chung tay xây dựng nông thôn mới từ các tổ chức, các nhân trên địa
bàn tỉnh, đến nay, tỉnh Tuyên Quang có 3 xã đạt chuẩn quốc gia về xây dựng
nông thôn mới (Tân Trào, huyện Sơn Dương; Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn; xã
An Khang, thành phố Tuyên Quang); 8 xã đạt từ 15-18 tiêu chí, 26 xã đạt từ
10-14 tiêu chí. (Chi Cục Phát triển nông thôn, 2014 [10]).
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
25
2.1. Nội dung nghiên cứu
-
Nghiên cứu đánh giá các đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã
hội
thuộc vùng nghiên cứu.
-
Đánh giá kết quả hiện trạng thực hiện các các chỉ tiêu trong tiêu
chí môi trường, gồm:
+ Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc
gia.
+ Các cơ sở SX-KD đạt tiêu chuẩn về môi trường.
+ Không có các hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động
phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp.