TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
*****
PHẠM DUY ANH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH SINH KẾ CHO HỘ NÔNG
DÂN VÙNG VEN BIỂN THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHI HẬU
TẠI THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
Hà Nội, 2017
ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
*****
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH SINH KẾ CHO HỘ NÔNG
DÂN
VÙNG VEN BIỂN THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHI HẬU
TẠI THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành : Quản lý biển
Mã ngành
: D850199
tháng
năm 2017.
Sinh viên
Phạm Duy Anh
i
LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình học tập, nghiên cứu tại trường Đại học Tài nguyên và
Môi trường Hà Nội, em đã tích lũy được cho mình khá nhiều kiến thức và
kinh nghiệm quý báu cho tương lai của mình.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đên TS. Nguyễn Thị Quỳnh
Anh – Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, người đã giúp đỡ
em nhiệt tình trong quá trình thực hiện đồ án. Em xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Khoa học biển và hải đảo đã
truyền dạy cho em kiến thức trong suốt 4 năm học đã qua để em có những
kiến thức nhất định để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này.
Mặc dù đã rất cố gắng hoàn thiện đồ án bẳng cả nỗ lực của mình,
song do thời gian và khả năng hạn chế nên đồ án chắc chắn không thể tránh
khỏi thiếu sót. Vậy kính mong quý thầy cô đọc và đưa ra những nhận xét quý
báu để đồ án được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng
v
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất đối với
nhân loại trong thế kỷ 21, đã và đang gây ra những biến đổi mạnh mẽ thông
qua các hiện tượng khí hậu cực đoan như nhiệt độ tăng, bão mạnh, mưa lớn,
lũ lụt, hạn hán và nước biển dâng cao; trong đó đáng chú ý là những tác động
của BĐKH ngày một đáng kể và gia tăng gây ảnh hưởng không nhỏ đến nền
kinh tế quốc dân, thậm chí còn tác động mạnh hơn đến sinh kế của những
nhóm dân cư nghèo nhất sinh sống ở khu vực nông thôn. Việt Nam là một
trong số những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất với những biểu hiện ngày
càng gia tăng của những hiện tượng này. Bên cạnh những chính sách do
Chính phủ Việt Nam ban hành nhằm thích ứng với BĐKH và giảm phát thải
khí nhà kính, cộng đồng quốc tế cũng đã và đang tích cực hỗ trợ Chính phủ
Việt Nam trong các hoạt động ứng phó với BĐKH, hướng tới phát triển bền
vững ở các địa phương, đặc biệt là những khu vực kém phát triển và nghèo
khó.
Với điều kiện địa lý phức tạp, vùng Đông Bắc Việt Nam, trong đó đáng
chú ý nhất là Đông Bắc Bắc Bộ, là một trong những nơi chịu ảnh hưởng nhiều
nhất từ thiên tai. Thực tiễn cho thấy đây là tỉnh ven biển thuộc khu vực nhạy
cảm về biến đổi khí hậu và có tính dễ bị tổn thương cao đối với nước biển
dâng, bão và áp thấp nhiệt đới. Đặc biệt trong năm 2015, trên địa bàn tỉnh ước
tính tổng thiệt hại khoảng gần 2.200 tỷ đồng (trong đó ngành Than khoảng
gần 1.200 tỷ đồng). Đợt lũ lụt lịch sử này khiến 104 nhà bị đổ sập hoàn toàn,
8.934 ngập lụt, gây thiệt hại khoảng 3.863 ha lúa, hoa màu, khiến cho hàng
nghìn người phải sơ tán.
Rõ ràng, BĐKH có thể tác động xấu đến một số bộ phận của các cộng
đồng trong tương lai, và biện pháp thích ứng dài hạn tốt nhất cho những cộng
Phân tích ảnh hưởng của BĐKH tới sinh kế hộ nông dân ven biển thị
xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Xây dựng mô hình sinh kế thích ứng với BĐKH cho hộ nông dân trên
2
địa bàn nghiên cứu.
Giải pháp thực hiện việc xây dựng mô hình sinh kế cho các hộ nông
dân vùng ven biển thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Sinh kế hiện tại của các hộ nông dân ven biển tại thị xa Quảng Yên,
tỉnh Quảng Ninh như thế nào?
Đã có mô hình sinh kế nào được xây dựng để thích ứng với biến đổi
khí hậu chưa?
Có thực sự cần thiết có sự chuyển đổi sinh kế cho người dân tại thị xã
Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh?
Những ảnh hưởng của BĐKH tác động đến các hộ nông dân ven biển
thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh như thế nào?
4. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn; Đánh giá thức trạng của
mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu của hộ nông dân ven biển thị
xã Quảng Yên. Từ đó phân tích yếu tố ảnh hưởng đến các mô hình sinh kế
ven biển và đề xuất một số giải pháp.
3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Lý luận về sinh kế
1.1.1 Khái niệm sinh kế
đến các mục tiêu và ước nguyên (tham vọng) của họ.
Nguồn lực
Và
khả năng
Nguồn lực sinh kế
Kiếm sống
Các
Quyết định
Các
Hoạt động
Chiến lược sinh kế
Mục tiêu và
kỳ vọng khác
Mục tiêu sinh kế
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ hóa khái niệm sinh kế
Khái niệm sinh kế thường được bao gồm sinh kế thay thế, sinh kế bổ
sung và sinh kế bền vững. Trong nhiều cách dùng thuật ngữ, sinh kế chủ yếu
nhằm vào lĩnh vực kinh tế, tuy nhiên nó có thể được xem xét vượt quá các
hoạt động kinh tế và bao gồm chất lượng các tiêu chuẩn của cuộc sống, các
chuẩn thức ăn, nơi cư trú, sức khỏe và sự toại nguyện.
1.1.2 Khái niệm sinh kế của ngư dân
Để hiểu được khái niệm sinh kế của ngư dân trước tiên ta cần phải
hiểu thế nào là ngư dân. Theo Bách khoa toàn thư, Ngư dân hay dân chài hay
những đối tượng có cùng hình dạng nhưng được thu nhỏ để làm mô phỏng,
cấu tạo và hoạt động của một vật khác để tiện trình bày, nghiên cứu. Như vậy,
có thể hiểu mô hình sinh kế là một hình thức diễn đạt ngắn gọn các đặc trưng
chủ yếu của một hệ thống sinh kế theo các đối tượng của nó để nghiên cứu
đối tượng đó. Mô hình sinh kế là một hệ thống sinh kế mà ở đó con người là
chủ thể tác động lên các nguồn lực sinh kế để hình thành nên các hoạt động
sinh kế nhằm thực hiện chiến lược sinh kế tạo ra kết quả sinh kế.
1.1.4 Khái niệm nguồn lực sinh kế
Nguồn lực sinh kế là toàn bộ những yếu tố trong và ngoài đã, đang
và sẽ tham gia vao hoạt động sinh kế nhằm thúc đẩy, phát triển , cải biên kết
quả sinh kế của hộ gia đình (Hoàng Phê, 2011). Nói cách khác, các nguồn lực
sinh kế là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất mà con người có thể sử
6
dụng duy trì hay phát triển sinh kế của họ. Hiện nay, việc phân loại nguồn lực
sinh kế vẫn chưa có căn cứ cụ thể, vì vậy, có thể dựa vào đặc trưng của từng
nhóm nguồn lực để làm căn cứ phân loại. Theo đó, nguồn lực sinh kế của hộ
bao gồm nguồn lực con người, nguồn lực vật chất, nguồn lực xã hội, nguồn
lực tài chính và nguồn lực tự nhiên.
1.1.5 Khái niệm mô hình sinh kế vùng ven biển thích ứng biến đổi khí hậu
Theo Viện Chính sách và chiến lược phát triển Nông nghiệp – Nông
thôn – IPSARD (2012), mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu là hệ
thống sinh kế có khả năng đối phó, giảm nhẹ và phục hồi trước các tác động
của thiên tai, thời tiết bất thuận (hạn hán, nắng nóng kéo dài, ngập úng,…)
đảm bảo duy trì hoặc tăng năng suất, sản lượng một các ổn định, đồng thời
phù hợp với khả năng và điều kiện kinh tế xã hội của địa phương, giảm nhẹ
phát thải nhà kính ra môi trường.
Mô hình sinh kế nhằm giảm nhẹ biến đổi khí hậu là hệ thống sinh kế
có
một các ổn định, đồng thời phù hợp với khả năng và điều kiện kinh tế xã hội
của vùng ven biển, giảm nhẹ phát thải nhà kính ra môi trường (Hoàng Phê,
2011).
Đặc thù của mô hình sinh kế ven biển là sự lựa chọn các chiến lược
sinh kế của hộ gia đình thường phụ thuộc vào nguồn lực sinh kế mà hộ gia
đình đó nắm giữ cùng các yếu tố bên ngoài như mùa vụ, thời tiết và nguồn lợi
thủy sản. Với xu hướng tiếp tục dựa vào việc khai thác các nguồn lực sẵn có ở
địa phương để thực hiện các hoạt động sinh kế, nhìn chung, sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của các cộng đồng ven biển diễn ra một cách chậm chạp (MARD,
2008).
Như vậy, có thể thấy rằng, mô hình sinh kế chính tại các cộng đồng
ven
biển là hệ thống sinh kế của người dân vùng ven biển có khả năng thích ứng
trước các tác động của thiên tai và điều kiện bất thuận của thời tiết. Từ đó, mô
hình đảm bảo duy trì hoặc tăng năng suất, sản lượng một cách ổn định các sản
phẩm sinh kế, giảm nhẹ sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới môi trường.
1.2 Lý luận về biến đổi khí hậu
1.2.1 Khái niệm biến đổi khí hậu
Theo Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu
(1992), “Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”,
là những biến đổi trong môi trượng vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh
hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của
các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ
thống kinh tế - xa hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”
Theo công ước khí hậu thì BĐKH (Climate Change) là
sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp hay gián tiếp là do
hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí
8
khô hạn. Lượng mưa trong khoảng thời gian dài đáng kể thấp hơn rõ rệt mức
trung bình nhiều năm cùng kỳ. Tình trạng này có thể xảy ra trên hầu khắp các
vùng, kể cả vùng mưa nhiều. Trong bối cảnh mưa không ít lắm, nhưng trong
một thời gian nhất định trước đó không mưa hoặc mưa chỉ đáp ứng nhu cầu
tối thiểu của sản xuất và môi trường xung quanh. Đây là tình trạng phổ biến
trên các vùng khí hậu gió mùa, có sự khác biệt rõ rệt về mưa giữa mùa mưa
và mùa khô. Bản chất và tác động của hạn hán gắn liền với định loại về hạn
hán.
Nước biển dâng là biểu hiện thứ ba của BĐKH. Theo Viện nghiên
cứu biến đổi khí hậu (2008), tác động lớn nhất của biến đổi khí hậu là làm
thay đổi và tan chảy của băng trên toàn thế giới, các dòng sông băng và các
khối băng có trữ lượng nước rất lớn. Sự tan chảy từ từ của các khối băng có
thể khiến lượng nước tăng lên che phủ 10% diện tích đất liền trên toàn thế
giới. Trong hơn một thế kỷ vừa qua, các ngọn núi băng và khối băng ở Nam
cực và Bắc Cực đã biến mất một cách nhanh chóng. Việc tan chảy các khối
băng diễn ra nhanh hơn so với tốc độ tái tạo chúng qua các năm cho thấy biến
đổi khí hậu đã làm mất cân bằng của các dòng sông băng và khối băng trên
toàn thế giới. Nhiều nghiên cứu cho thấy, khi nhiệt độ tăng lên được duy trì
trong một khoảng thời gian dài, các dòng sông băng và núi băng có thể biến
mất vĩnh viễn.
Sa mạc hóa là biểu hiện thứ tư của BĐKH. Những năm gần đây, thời
tiết bất thường xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới khiến nhiệt độ toàn cầu tăng
cao. Mùa đông không còn quá lạnh nhưng kèm theo nhiều hiện tượng như
sương muối, các đợt rét đậm rét hại. Mùa hè thì trở nên oi ả với nền nhiệt cao
hơn nhiều so với những năm trước, bão lũ thường đến sớm và có cường độ
mạnh hơn trong mùa mưa. Tuy nhiên, tình hình đất nông nghiệp bị hạn hán, bị
mưa lũ khiến đất bị xói mòn hoặc khô hạn hoang mạc lại là vấn đề phức tạp
nhất ở nhiều quốc gia hiện nay.
địa
lý
Vù
Đối
Tác động của
biến đổi khí hậu
- Mực nước
ng ven biển dâng
Ngành chịu tác động của biến tượng
đổi khí hậu
bị
dễ
tổn
thương
- Nông nghiệp và an ninh
lương thực
11
Nông dân
-
ng
du
- Xây dựng, hạ tầng, phát triển
đô thị/nông thôn
-
Môi
trường/tài
nguyên
nước/đa dạng sinh học
- Y tế, sức khỏe cộng đồng
- Kinh doanh dịch vụ, thương
và ngư dân
ven biển
Người già,
trẻ
em,
phụ nữ
lương thực
- Thủy sản
- Giao thông vận tải
- Giao thông vận tải
mại và du lịch
- Nông nghiệp và an ninh
- Mực nước
bằng
- Thủy sản
-Gia
hiện tượng
- Giao thông vận tải
tăng
- Dân
cư
miền
- Môi trường (nguồn nước, đa núi,
thời dạng sinh học)
tiết cực đoan
-Nhiệt
- Công nghiệp
vùng Tây Nguyên,
Người già,
vùng núi Bắc Bộ
phụ nữ, trẻ
và Trung Bộ)
em
- Mực nước
biển dâng
-
Gia
tăng
Vù bão và áp thấp
ng
đô nhiệt đới
thị
- Gia tăng lũ
lụt và ngập úng
tăng
những áp lực làm gia tăng khả năng bị tổn thương của những sinh kế dựa vào
các nguồn tài nguyên thiên nhiên của các cộng đồng ven biển. Nhìn chung,
biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng đến sinh kế của người dân nông thôn nói
chung và vùng ven biển nói riêng trên một số sinh kế chính như sản xuất nông
nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản – những sinh kế mà người nghèo chủ
yếu dựa vào các nguồn lực tự nhiên để thực hiện các chiến lược sinh kế (Trần
Thọ Đạt, 2012).
Những ảnh hưởng cụ thể đối với sản xuất nông nghiệp bao gồm: Mất
13
diện tích đất nông nghiệp do nước biển dâng, mặn hóa các vùng đất canh tác
do sự xâm nhập của nước biển, tăng cường lũ lụt và hạn hán, gia tăng dịch
bệnh do sự thay đổi của nhiệt độ và lượng mưa, từ đó ảnh hưởng đến năng
suất và sản lượng nông nghiệp, làm giảm cơ hội việc làm, đẩy giá lương thực
lên cao và đe dọa đến vấn đề an ninh lương thực. Đối với hoạt động đánh bắt
và nuôi trồng thủy sản, mực nước biển dâng, nhiệt độ tăng, bão lũ, sóng lớn,
triều cường và các hiện tượng thời tiết cực đoan... sẽ ảnh hưởng trực tiếp và
gián tiếp đến các hệ sinh thái quan trọng và nghề cá ven bờ (như hệ sinh thái
rừng ngập mặn, đất ngập nước, hệ sinh thái san hô), từ đó làm thu hẹp và hủy
hoại chất lượng môi trường sống của các loài thủy hải sản, làm giảm chất
lượng và trữ lượng thủy sản nuôi trồng và đánh bắt ven bờ (Nguyễn Mậu
Dũng, 2010). Tất cả những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên sinh kế ven
biển được tổng hợp ở bảng 1.2 dưới đây.
Bảng 1.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến mô hình sinh kế ven biển
Các
tác động
của
BĐKH
bị nhiễm mặn
- Sản lượng
thu hoạch giảm
- Thu nhập giảm
- Sản lượng
thu
các hoạt đồng trồng hoạch
giảm
trọt trên đất nhiễm mặn - Thu nhập giảm
Độ mặn của nước
Hoạt động đánh
- Năng suất
thay đổi, ảnh hưởng bắt và nuôi trồng bị đánh bắt và nuôi
đến sinh trưởng của ảnh
trồng
các loài thủy sản
- Thu nhập giảm
hưởng
14
giảm
Hoạt động trồng
- Năng suất
Đất canh tác bị
khô
Năng
trọt bị ảnh hưởng do cây trồng giảm
hạn
thiếu nước tưới
- Thu nhập giảm
Hoạt động đánh
Tăng độ mặn của
- Năng suất
bắt và nuôi trồng bị
nguồn nước và nhiệt
giảm
ảnh
độ
- Thu nhập giảm
hưởng
Năng
lụt
Đất bị ngập úng
Hoạt động trồng
giảm
bị ảnh hưởng
- Thu nhập giảm
Hoạt động nông
Năng
Phá vỡ cơ sở hạ
tầng
nghiệp, du lịch, đánh suất/sản
15
lượng
nông
nghiệp, thủy sản
hiện tại (đê điều, thủy bắt thủy sản bị ảnh giảm;
lợi, đường xá)
hưởng
doanh
thu từ du lịch
giảm
giảm
- Thu nhập giảm
Năng
suất/sản
lượng
giảm
- Thu nhập giảm
(Nguồn: Viện KHKTTV & MT, 2011)
Bảng 1.2 cho thấy sự biến đổi khí hậu tác động đến từng yếu tố cấu
thành nên khung sinh kế bền vững vùng ven biển. Hiện tượng nước biển
dâng, hạn hán, lũ lụt, bão và triều cường là 4 loại hình chủ yếu có tác động
mạnh mẽ đến nguồn lực sinh kế của người dân kéo theo sự thay đổi của quyết
định chiến lược sinh kế của nông hộ. Theo đó, đối với hộ nông dân vùng ven
biển, dưới tác động của các loại hình thời tiết cực đoan này, chiến lược sinh
kế chủ yếu là các hoạt động liên quan tới nguồn lực tự nhiên như đánh bắt hải
sản, nuôi trồng thủy sản và trồng trọt bị ảnh hưởng. Từ đó dẫn tới hệ quả về
năng suất, sản lượng giảm kéo theo thu nhập của hộ nông dân bị giảm sút.
Điều đó cho thấy, BĐKH, về bản chất, đã làm giảm kết quả sinh kế hộ nông
dân ven biển do ảnh hưởng tiêu cực của nó tới nguồn lực tự nhiên hộ gia đình.
Như vậy, BĐKH có tác động rất lớn tới sinh kế ven biển. Hiện tượng
này gây ra ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn tài nguyên thiên nhiên ven biển, từ
đó dẫn tới hệ quả về sự giảm sút nguồn lực kinh tế và vật chất, gây ảnh hưởng
nghiêm trọng tới chất lượng cuộc sống của các hộ nông dân.
16
17