ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HƯỚNG ĐẾN HÀNH VI TIÊU DÙNG XANH CỦA NGƯỜI DÂN TẠI QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG


LÊ THỊ LAN ANH

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
HƯỚNG ĐẾN HÀNH VI TIÊU DÙNG XANH CỦA
NGƯỜI DÂN TẠI QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ
NỘI

HÀ NỘI, 2017
1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG


LÊ THỊ LAN ANH

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
HƯỚNG ĐẾN HÀNH VI TIÊU DÙNG XANH CỦA NGƯỜI
DÂN TẠI QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành
: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Mã ngành : 52850101




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản đồ án tốt nghiệp “Đánh giá thực trạng và đề xuất
giải pháp hướng đến hành vi tiêu dùng xanh của người dân tại quận Cầu Giấy,
thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực
hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, khảo sát tình hình thực tế và dưới dự
hướng dẫn khoa học của ThS. Phạm Thị Hồng Phương – giảng viên trường Đại học
Tài nguyên và Môi trường Hà Nội. Các số liệu được sử dụng trong đồ án là trung
thực, khách quan và chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Sinh viên thực hiện đồ án
Lê Thị Lan Anh

4


MỤC LỤC

5


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ST
T
1
2
3
4
5

Quyết định
Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi
Khí hậu
Uỷ ban các vấn đề Kinh tế - Xã hội
Liên Hợp Quốc
Uỷ ban Kinh tế - Xã hội Châu Á Thái
Bình Dương Liên Hợp Quốc

UNESCAP (Economic and Social
Commission for Asia and the
Pacific)
UNEP (United Nations
Environment Programme)
BTDX
TKD
TKN

6

Chương trình Môi trường Liên Hiệp
Quốc
Biết tiêu dùng xanh
Tiết kiệm điện
Tiết kiệm nước


DANH MỤC BẢNG BIỂU

7


tiêu của Chính phủ.
Qua đó, có thể thấy thay đổi phương thức tiêu dùng theo hướng xanh là chủ
đề được quan tâm rộng rãi hiện nay. Tiêu dùng xanh cùng với kinh tế xanh đã, đang
và sẽ trở thành vấn đề trung tâm trong các nỗ lực hướng tới phát triển bền vững của
nhân loại.

9


Cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đang đứng trước những thách
thức về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trước sự gia tăng dân số, kéo theo
đó là nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội. Vì vậy, việc triển khai và áp dụng
các chính sách tiêu dùng xanh, mua sắm xanh ở Việt Nam nhằm khuyến khích sản
xuất và tiêu dùng bền vững là một nhu cầu bức thiết hiện nay.
Quận Cầu Giấy nằm ở phía Tây nội thành Hà Nội, nơi tập trung nhiều các
trung tâm dịch vụ, du lịch, các khu vui chơi và nhiều danh lam thắng cảnh. Đây
cũng là một quận dân số đông và tập trung nhiều dân cư về sinh sống nên có nhu
cầu tiêu dùng lớn. Mặt khác, thành phần dân cư ở đây đa dạng nên sẽ có nhiều lối
sống và hành vi tiêu dùng khác nhau.
Với những lý do trên em xin lựa chọn đề tài “Đánh giá thực trạng và đề
xuất giải pháp hướng đến hành vi tiêu dùng xanh của người dân tại quận Cầu
Giấy, thành phố Hà Nội” với mong muốn đem lại cái nhìn tổng quát về nhận thức
và hành vi tiêu dùng bền vững của người dân cũng như đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao nhận thức và vận động người dân thực hiện tiêu dùng xanh.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được thực trạng hành vi tiêu dùng của người dân trên địa bàn
quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp cụ thể hướng đến hành vi tiêu dùng xanh của người
dân tại địa bàn nghiên cứu.
3. Nội dung nghiên cứu

lợi dụng lợi thế so sánh, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế thông
qua việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ tiên tiến, phát triển hệ thống cơ sở hạ
tầng hiện đại để sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà
kính, ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo động lực
thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế bền vững” [1].
(ii) Khái niệm tiêu dùng xanh
Khái niệm “tiêu dùng xanh”, “xanh hoá hành vi tiêu dùng” hay “tiêu dùng
bền vững” có thể được xem là tương đồng nhau và được định nghĩa là “việc sử
dụng hàng hoá và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu cơ bản và nâng cao chất lượng cuộc
sống với điều kiện sử dụng ít hơn tài nguyên thiên nhiên và các chất độc hại, đồng
thời giảm phát thải và các chất gây ô nhiễm trong chu trình sống của sản phẩm hay
11


dịch vụ và không làm tổn hại tới việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau “
(Norwegian Ministry of the Environment, 1994)[5].
Một cách hiểu khác về tiêu dùng xanh đó là: “Hành vi tiêu dùng xanh là các
hành động tìm kiếm, mua và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của cá nhân, nhóm với
mục đích giảm thiểu các chất thải gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm an toàn cho sức
khoẻ cộng đồng được thể hiện qua nhận thức, thái độ và hành động của họ”. Điều
này có nghĩa là tiêu dùng xanh bao gồm cả mua sắm lẫn tiêu thụ sản phẩm theo
hướng thân thiện với môi trường [4].
(iii) Khái niệm người tiêu dùng xanhError: Reference source not found
Người tiêu dùng xanh được hiểu là người tiêu dùng thân thiện với môi
trường. Các nguyên tắc của người tiêu dùng xanh bao gồm:
- Giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế (reuce, reuse, recycle). Giảm thiểu: tránh
mua những gì không cần thiết. Nếu khả năng tài chính cho phép, khi mua đồ điện
gia dụng mới, hãy chọn loại tiết kiệm năng lượng (điện, nước, nguyên vật liệu). Tái
sử dụng: mua vật dụng đã dùng rồi, và tận dụng hết tính năng của những món đồ
đó. Tái chế: tận dụng phế thải.

tiêu dùng dẫn đến sự thay đổi đáng kể trong quyết định tiêu dùng.
Hiện nay tiêu dùng xanh càng ngày càng đóng một vai trò quan trọng đối với
môi trường và xã hội. Các chuyên gia môi trường xem tiêu dùng xanh như một biện
pháp “giải cứu trái đất” trước những chuyển biến xấu của môi trường sống trên toàn
cầu. Hành vi mua sắm xanh, tiêu dùng xanh có những lợi ích như nâng cao độ an
toàn và sức khỏe cho người dân và cộng đồng; Giảm thiểu sử dụng năng lượng và
tài nguyên thiên nhiên; Phát triển các sản phẩm mới, thân thiện với môi trường hơn.
Mua sắm xanh thúc đẩy quá trình tái chế các chất thải, từ việc thu gom, phân loại
cho tới sản xuất và phát triển thị trường sử dụng các sản phẩm tái chế, vì thế không
chỉ làm người tiêu dùng tiết kiệm được kinh phí mà còn góp phần bảo vệ môi
trường. Đồng thời, phát triển mua sắm xanh sẽ kích thích tăng số lượng và chất
lượng các sản phẩm và dịch vụ thân thiện môi trường [12].
1.1.3. Tiêu dùng xanh ở một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam
(i) Tiêu dùng xanh ở một số quốc gia trên thế giới
Hiện nay, tiêu dùng xanh khá phổ biến ở các nước phát triển và đã có những
bước tiến ban đầu ở các nước đang phát triển. Nhiều quốc gia đã có những chính
sách, chương trình thúc đẩy tiêu dùng xanh và đem lại hiệu quả to lớn.
Các nước Liên minh Châu Âu (EU): Tại EU, Ủy ban Châu Âu đã có nhiều
nỗ lực và hoạt động nhằm thúc đẩy việc thực hiện mua sắm công xanh (Green
13


Public Procurement - GPP) trong các nước thành viên, bao gồm việc triển khai các
nghiên cứu/dự án, ban hành các chính sách và xây dựng các tiêu chuẩn. Mặc dù
GPP vẫn là hệ thống tự nguyện, tuy nhiên hiện nay nhiều nước thành viên đã và
đang xây dựng kế hoạch hành động quốc gia và các hướng dẫn về mua sắm xanh.
Ngoài ra, tháng 7/2008, EU đã triển khai kế hoạch hành động về tiêu thụ bền vững
(trong đó bao gồm nội dung tiêu dùng xanh) và sản xuất (SCP), chính sách công
nghiệp bền vững (SIP). Trong kế hoạch SCP, Ủy ban EU khởi xướng các công cụ
như gắn nhãn sinh thái, hiệu quả năng lượng EU với mục đích thông báo cho người

Network) được thành lập bởi Bộ Môi trường, mục đích nhằm thúc đẩy mua sắm
xanh ở Nhật Bản thông qua việc cung cấp thông tin và hướng dẫn trong việc thực
hành mua sắm xanh. Tính đến nay, mạng lưới đã đưa ra rất nhiều hoạt động như:
hội thảo, triển lãm xanh, giải thưởng “Mua sắm xanh”, dữ liệu thông tin sản
phẩm… và đạt được những thành công nhất định [10].
Trung Quốc: Trung Quốc có khởi đầu tương đối muộn về tiêu dùng xanh
song đã có những bước tiến đáng kể. Trong những năm gần đây, sự quan tâm của
người dân đối với môi trường đã được cải thiện. Chính phủ đã đầu tư không ít trong
việc bảo vệ, cải thiện môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Năm 1993,
Trung Quốc lần đầu tiên thành lập chương trình gắn nhãn sinh thái cho các sản
phẩm. Đến nay, trong hệ thống chứng nhận sản phẩm xanh ở Trung Quốc đã có
hàng chục chủng loại, như thực phẩm, đồ uống, hàng dệt may, vật liệu xây dựng, đồ
gia dụng, đèn chiếu sáng, ô tô và nhiều mặt hàng khác. Đến năm 2005, Chính phủ
đã tiến hành cải cách các chương trình ghi nhãn sinh thái, cải thiện phần nào tình
hình tiêu dùng xanh ở quốc gia này, như chương trình “China Energy Label” [10].
Hàn Quốc: Hàn Quốc là quốc gia thực hiện và áp dụng các chính sách về
mua sắm xanh từ rất sớm. Điểm khởi đầu chính thức của chính sách về sản phẩm
xanh tại Hàn Quốc là chương trình dán nhãn môi trường được triển khai từ năm
1992. Năm 2005, Bộ Môi trường thông qua bộ luật khuyến khích mua các sản phẩm
và dịch vụ xanh. Chính phủ Hàn Quốc cũng đã hợp tác với các công ty thẻ tín dụng
để đưa ra một hệ thống khuyến khích những người có ý thức tiêu dùng xanh: Thẻ
tín dụng xanh (The Green Credit Card). Ngoài ra, Hàn Quốc cũng đã thi hành nhiều
chính sách khác như: Dán nhãn sinh thái, Gắn nhãn “dấu chân Carbon” (Carbon
Footprint), Chứng nhận công trình xanh, Chứng nhận cửa hàng xanh…Cùng với
các chính sách trên, Chính phủ đang nỗ lực giúp người tiêu dùng nói chung hiểu rõ
hơn các khái niệm về cuộc sống xanh và quảng bá sản phẩm xanh bằng cách nâng
cao nhận thức cộng đồng. Hiện nay, bốn “Trung tâm cộng tác tiêu dùng xanh” đã
15



Hà Nội: Đã ra mắt chương trình Mạng lưới điểm đến xanh hướng đến mục tiêu
16


nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và người tiêu dùng về việc sử dụng các sản
phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường; đồng thời thúc đẩy việc sản xuất những sản
phẩm, dịch vụ thân thiện với môi trường. Chương trình là cầu nối hai chiều giữa
doanh nghiệp và người tiêu dùng, hứa hẹn trở thành một mạng lưới xanh đáng tin
cậy của cộng đồng có trách nhiệm với môi trường.
Năm 2010, Saigon Co.op (Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại Thành phố Hồ
Chí Minh) trở thành đơn vị bán lẻ tiên phong tham gia thực hiện chiến dịch “Tiêu
dùng xanh”, với mong muốn đóng góp nhiều hơn cho lợi ích cộng đồng thông qua
vai trò là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối. Nhìn chung, dù bắt
nhịp khá chậm nhưng cho đến nay, xu hướng tiêu dùng xanh đang lan tỏa và nhận
được sự hưởng ứng khá tích cực từ phía người dân và các nhà sản xuất với dự án
“Tôi yêu sản phẩm xanh và khu phố xanh” [10].
1.1.4. Cơ sở pháp lý về tiêu dùng xanh
Việt Nam đã xác định tăng trưởng xanh là một nội dung quan trọng của phát
triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững và góp phần
quan trọng thực hiện chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu.
Ở Việt Nam dù chưa có những quy định riêng về tiêu dùng xanh. Tuy nhiên
nhiều nội dung liên quan đến tiêu dùng xanh, tiêu dùng bền vững đã sớm được đưa
vào nhiều chính sách, được lồng ghép, quy định trong nhiều văn bản của Đảng và
Nhà nước.
Ngày 12/04/2012,Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 432/QĐTTg về việc “Phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 –
2020”, trong đó có định hướng:
“ - Thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững
Đẩy mạnh áp dụng rộng rãi sản xuất sạch hơn để nâng cao hiệu quả sử dụng
tài nguyên thiên nhiên, nguyên vật liệu, năng lượng, nước, đồng thời giảm thiểu
phát thải và hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, bảo vệ chất lượng môi trường, sức

cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên và năng lượng; tăng cường sử dụng các
nguyên vật liệu, năng lượng tái tạo, sản phẩm thân thiện môi trường; giảm thiểu, tái
sử dụng và tái chế chất thải; duy trì tính bền vững của hệ sinh thái tại tất cả các
khâu trong vòng đời sản phẩm từ khai thác, cung ứng nguyên liệu đến sản xuất chế
biến, phân phối, tiêu dùng và thải bỏ sản phẩm.”

18


Như vậy, chuyển đổi mô hình tiêu dùng theo hướng xanh và bền vững, đã trở
thành đường lối, quan điểm, chính sách xuyên suốt của Đảng và Nhà nước và là một
nội dung căn bản của mục tiêu phát triển ở Việt Nam hiện nay.
1.1.5. Các chỉ tiêu đo lường hành vi tiêu dùng hướng đến tăng trưởng xanh
(i) Các chỉ tiêu đo lường về hành vi tiêu dùng của hộ gia đình theo nghiên
cứu của OECD
Đo lường hành vi tiêu dùng xanh của hộ gia đình hướng đến tăng trưởng
xanh đã được thực hiện ở các nước OECD từ năm 2008 và trải qua hai cuộc điều tra
năm 2008 và 2011, tập trung vào năm lĩnh vưc: năng lượng, chất thải sinh hoạt, giao
thông, tiêu dùng thực phẩm, sử dụng nước thải sinh hoạt.
Bảng 1.1: Tổng hợp các chỉ tiêu đo lường về hành vi tiêu dùng của hộ gia đình
theo nghiên cứu của OECD
Hành vi tiêu dùng
Chỉ tiêu đo lường
Năng lượng
- Các nguồn năng lượng sử dụng
- Chi trả cho lượng điện tiêu thụ
- Sử dụng năng lượng tái tạo
- Sử dụng thiết bị đo điện thông minh
- Sở hữu các thiết bị điện trong gia đình
- Hành vi tiết kiệm điện

Trong bối cảnh Việt Nam, trong Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam
năm 2012 của Tổng cục thống kê cũng đã có một số chỉ tiêu khảo sát về hành vi tiêu
dùng của hộ gia đình ở các khía cạnh sử dụng năng lượng, nước sinh hoạt, và xử lý
chất thải sinh hoạt trong mục “ Nhà ở, điện nước, phương tiện vệ sinh và
internet”và mục “ Chi tiêu”. Các chỉ tiêu được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1.2: Một số chỉ tiêu đo lường về hành vi tiêu dùng của hộ gia đình
theo TCTK
Hành vi tiêu dùng
Chỉ tiêu đo lường
- Nguồn nước ăn uống chính
Nước
- Số tiền nước phải trả
- Nguồn năng lượng thắp sáng chính
Năng lượng
- Số tiền điện phải trả
- Hình thức xử lý chất thải sinh hoạt
Chất thải sinh hoạt
- Loại hố xí đang sử dụng
- Số tiền cho trả cho dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt
(Nguồn : Tổng hợp dựa theo TCTK ( 2012)
(iii) Các chỉ tiêu đo hường hành vi tiêu dùng hướng đến tăng trưởng
xanh đúc kết cho quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Dựa vào các chỉ tiêu đo lường hành vi tiêu dùng của hộ gia đình hướng đến
tăng trưởng xanh trong các nghiên cứu của OECD và Khảo sát mức sống hộ gia
đình Việt Nam (TCTK 2012), nghiên cứu xây dựng các chỉ tiêu đo lường hướng đến
tăng trưởng xanh trong hoạt động tiêu dùng của hộ gia đình ở khu vực quận Cầu
Giấy, thành phố Hà Nội. Các chỉ tiêu này bao gồm 4 nhóm chính: nhận thức về môi
trường và hành vi tiêu dùng xanh, sử dụng năng lượng, sử dụng nước và xử lý chất
thải sinh hoạt.
Bảng 1.3: Các chỉ tiêu đo hường hành vi tiêu dùng hướng đến tăng trưởng

năng lượng
- Yếu tố tiết kiệm nước khi mua thiết bị
- Hành vi tiết kiệm nước của hộ gia đình
- Cảm nhận mức độ quan trọng của các giải pháp của
chính phủ trong việc khuyến khích người dân tiết kiệm
nước
- Cách xử lý rác thải sinh hoạt
- Hành vi nhằm giảm lượng rác thải
- Cảm nhận mức độ quan trọng của các giải pháp của
chính phủ trong việc khuyến khích người dân giảm phát
thải rác sinh hoạt

1.2. Tổng quan về Quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
1.2.1. Tổng quan về vị trí địa lý quận Cầu Giấy
Quận Cầu Giấy nằm ở phía Tây nội thành Hà Nội, đây là một cửa ngõ quan
trọng của Hà nội. Quận nằm trên quốc lộ 32A nối Hà Nội – Sơn Tây, đường vành
đai 3 từ Hà Nội đi sân bay quốc tế Nội Bài, cách trung tâm thành phố khoảng 6 km,
là một trong những khu phát triển đầu của Thành phố.

21


Hình 1.1: Vị trí địa lý Quận Cầu Giấy
(Nguồn: Cổng thông tin điện tử quận Cầu Giấy)
- Về địa giới:
+ Phía Bắc giáp quận Tây Hồ và Bắc Từ Liêm
+ Phía Nam giáp quận Thanh Xuân;
+ Phía Đông giáp quận Ba Đình, Đống Đa và Tây Hồ
+ Phía Tây giáp quận Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm
- Về hành chính:

tỷ trọng nghành nông, lâm, ngư nghiệp bằng 0% trong cơ cấu kinh tế quận do Nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp phục vụ công cuộc xây dựng đô thị [6].

Hình 1.2: Cơ cấu kinh tế quận Cầu Giấy năm 2015
(Nguồn: Uỷ ban nhân dân quận Cầu Giấy)

23


(ii) Đặc điểm dân số
Dân số quận Cầu Giấy toàn bộ là dân số đô thị. Từ năm 2012 đến 2016 có sự
biến đổi như sau:
Bảng 1.4: Phân bố dân số trên địa bàn quận Cầu Giấy giai đoạn 2012- 2016

Người
Người
Người
Người
Người
Người
Người

2012
34.628
32.721
30.135
23.920
22.152
29.456
14.283

199.863 208.080 215.987 224.411 226.384

Chỉ tiêu

Đơn vị

Phường Quan Hoa
Phường Nghĩa Tân
Phường Nghĩa Đô
Phường Yên Hoà
Phường Trung Hoà
Phường Mai Dịch
Phường Dịch Vọng
Phường Dịch Vọng
Hậu
Tổng
Tỷ lệ tăng dân số tự
nhiên

%

0,88

0,86

0,87

2015
38.880
36.740


CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : hành vi tiêu dùng của người dân đang sinh sống và
làm việc tại khu vực quận Cầu Giấy – thành phố Hà Nội ( bao gồm 4 lĩnh vực:
nhận thức môi trường và tiêu dùng xanh, sử dụng năng lượng, sử dụng nước và xử
lý chất thải rắn sinh hoạt).
Phạm vi nghiên cứu: do thời gian và khả năng hạn chế nên đề tài tập trung
nghiên cứu tại 5 phường (5/8 phường) bao gồm Trung Hoà, Yên Hoà, Dịch Vọng,
Dịch Vọng Hậu, Mai Dịch.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Tiến hành thu thập tài liệu có liên quan đến tiêu dùng xanh: tài liệu, đề tài
nghiên cứu về tăng trưởng xanh, các hành vi về tiêu dùng xanh trên thế giới và Việt
Nam
- Tiến hành thu thập các dữ liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
hội của người dân ở Quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
2.2.2. Phương pháp điều tra xã hội học
- Mục đích: thu thập các thông tin về thực trạng hành vi tiêu dùng của người
dân trên địa bàn nghiên cứu.
- Phương thức tiến hành: Phỏng vấn trực tiếp người dân và phỏng vấn qua
bảng hỏi
Đề tài xây dựng 2 mẫu phiếu cho 2 đối tượng:
+ 01 mẫu phiếu cho người dân
Quá trình khảo sát được thực hiện qua hai bước chính là khảo sát thử nghiệm
và khảo sát chính thức. Bước khảo sát thử nghiệm nhằm mục đích tạo cơ sở để điều
chỉnh phiếu khảo sát cho phù hợp với nội dung và đối tượng điều tra (số lượng
phiếu khảo sát thử là 10 phiếu). Mẫu phiếu khảo sát thử nghiệm được trình bày ở
Phụ lục 1.
Sau bước khảo sát thử nghiệm, đề tài điều chỉnh phiếu khảo sát và tiến hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status