ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN QUANG BẰNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ
GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TRÊN ĐẤT NƯƠNG RẪY
TẠI HUYỆN HOÀNG SU PHÌ, TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - 2016
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN QUANG BẰNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ
GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TRÊN ĐẤT NƯƠNG RẪY
TẠI HUYỆN HOÀNG SU PHÌ, TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 62 62 01 10
nhân và cơ quan nghiên cứu. Trước hết, tác giả xin trân trọng cảm ơn
TS. Dương Trung Dũng, với cương vị người Thầy hướng dẫn khoa học, đã
có nhiều đóng góp trong nghiên cứu và hoàn thành luận văn. Tác giả trân thành
cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo Thường trực Huyện uỷ, Thường trực
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện Hoàng Su Phì. Cám ơn Phòng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện, Chi Cục Thống kê, Trung tâm dự
báo khí tượng thuỷ văn huyện Hoàng Su Phì, Uỷ ban nhân dân xã Chiến Phố
trong việc cung cấp tài liệu và thông tin liên quan đến đề tài, bố trí thí nghiệm
đồng ruộng và hợp tác triển khai xây dựng mô hình trồng đậu tương có sự tham
gia của nông dân. Trong quá trình hoàn thành luận án được sự giúp đỡ của các
Thầy giáo, Cô giáo khoa Nông học, Viện khoa học sự sống, Phòng quản lý đào
tạo sau đại học trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên. Nhân dịp này, tác giả
xin trân thành cảm ơn các cơ quan trên.
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 10 năm 2016
Tác giả
Trần Quang Bằng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .............................................................. vi
2.3. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi. ......................................... 29
2.3.1. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của 8 giống đậu
tương tham gia thí nghiệm............................................................................ 29
2.3.2. Xây dựng mô hình trình diễn một số giống đậu tương có triển
vọng tại huyện Hoàng Su Phì ...................................................................... 30
2.4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 30
2.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm.......................................................... 30
2.4.2. Quy trình kỹ thuật ............................................................................. 30
2.4.3. Phương pháp theo dõi ....................................................................... 32
2.4.4. Xây dựng mô hình trình diễn giống ưu tú ......................................... 35
2.4.5. Xác định một số chỉ tiêu hóa sinh để đánh giá chất lượng ............... 36
2.4.6. Phương pháp xử lý số liệu................................................................. 36
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 37
3.1. Kết quả nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển các giống thí
nghiệm vụ Hè Thu năm 2015 và vụ Xuân năm 2016 tại huyện Hoàng Su
Phì, tỉnh Hà Giang ........................................................................................... 37
3.1.1. Thời gian sinh trưởng của các giống................................................. 37
3.1.2. Một số đặc điểm hình thái của các giống đậu tương thí nghiệm ...... 41
3.2. Một số chỉ tiêu sinh lý của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm ........ 45
3.2.1. Chỉ số diện tích lá (CSDTL) ............................................................. 45
3.2.2. Sự hình thành nốt sần của các giống đậu tương thí nghiệm ............. 46
3.3. Tình hình nhiễm sâu hại của các giống đậu tương thí nghiệm ................ 49
3.4. Khả năng chống đổ, chống tách vỏ quả của các giống đậu tương
thí nghiệm ....................................................................................................... 51
3.4.1. Khả năng chống đổ............................................................................ 51
3.4.2. Khả năng chống tách vỏ quả ............................................................. 52
3.5. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống đậu
tương thí nghiệm ............................................................................................. 53
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
:
Trung tâm nghiên cứu và phát triển Rau
màu châu Á
cs
:
Cộng sự
CSDTL
:
Chỉ số diện tích lá
ĐVT
:
Đơn vị tính
HAT
:
Viện nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới
NSLT
:
Năng suất lý thuyết
NSTT
:
Năng suất thực thu
PPCCMAC
:
Chương trình hợp tác nghiên cứu thực
phẩm ở các nước Trung Mỹ
SEARCA
:
Trung tâm đào tạo và nghiên cứu nông
nghiệp cho vùng Đông Nam châu Á
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống thí
nghiệm vụ Hè Thu năm 2015 và vụ Xuân năm 2016 ................. 38
Bảng 3.2.
Đặc điểm hình thái của các giống thí nghiệm vụ Hè Thu
năm 2015 và vụ Xuân năm 2016 ................................................ 42
Bảng 3.3.
Chỉ số diện tích lá của các giống đậu tương thí nghiệm vụ
Hè Thu năm 2015 và vụ Xuân năm 2016 ................................... 45
Bảng 3.4.
Số lượng nốt sần hữu hiệu của các giống đậu tương. ................. 47
Bảng 3.5.
Một số sâu hại chính của các giống đậu tương thí nghiệm ........ 50
Bảng 3.6.
Tỷ lệ đổ của các giống đậu tương thí nghiệm vụ Hè Thu
năm 2015 và vụ Xuân năm 2016 ................................................ 52
Bảng 3.7.
Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống
đậu tương tham gia thí nghiệm vụ Hè Thu năm 2015, vụ
năm 2016 ..................................................................................... 56
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây đậu tương (Glycine max (L) Merrill) là cây công nghiệp ngắn ngày
có tác dụng rất nhiều mặt và là cây có giá trị kinh tế cao. Hạt đậu tương dùng
làm thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công
nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Ngoài ra, đậu tương là
cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong thực hiện công thức luân canh, xen
canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây cải tạo đất rất tốt.
Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao: hàm lượng protein trung
bình khoảng từ 35,5 - 40 %, lipit từ 15 - 20% gồm cả 2 loại axit béo no và
không no, hidratcacbon 15 - 16% và nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan
trọng cho sự sống.
Trong hạt đậu tương có chứa đầy đủ và cân đối các loại axit amin, đặc
biệt là các axit amin không thể thay thế cần thiết cho cơ thể con người như:
triptophan, leuxin, valin, lizin, methiomin. Ngoài ra còn có các muối khoáng
như: Ca, Fe, Mg, Na, P, K… các vitamin B1, B2, D, K, E…
Từ hạt đậu tương có thể chế biến được trên 600 loại thực phẩm khác
nhau, làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến sơn, cao su nhân tạo, mực in,
xà phòng, chất dẻo, tơ nhân tạo, dầu bôi trơn trong ngành hàng không. Trong
y học, đậu tương được dùng làm vị thuốc chữa bệnh giúp tránh hiện tượng
suy dinh dưỡng ở trẻ em, người già và có tác dụng hạn chế bệnh loãng xương
ha. Cơ cấu giống chủ yếu là giống DT 84 và giống địa phương chiếm khoảng
15% chủ yếu là giống đậu tương hạt vàng và hạt xanh. Năng suất đậu tương
của huyện bình quân đạt 15,2 tạ/ha, sản lượng hàng năm đạt trên 8.000 tấn.
Theo số liệu thống kê hàng năm thì thu nhập từ cây đậu tương chiếm từ 16 18% trong tổng thu nhập kinh tế hộ gia đình.
Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân về sản xuất nhất là việc đầu tư thâm
canh, áp dụng khoa học kỹ thuật chưa hợp lý, công tác giống chưa được trú
trọng, số hộ sử dụng giống địa phương đã bị thoái hoá còn chiếm tỷ lệ lớn. Việc
quản lý và cung cấp giống còn nhiều bất cập dẫn đến chất lượng giống bị pha
tạp, vì vậy chất lượng thương phẩm kém, năng suất bình quân thấp. Mặc dù là
huyện có diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương lớn nhất toàn tỉnh và cây đậu
tương đã được Cấp ủy - Chính quyền huyện xác định là cây trồng phù hợp, có
thế mạnh nhưng trong thời gian qua vẫn chưa thực sự trở thành cây trồng chủ lực
giúp người nông dân phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo và làm giàu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
3
Từ thực tế đó chúng tôi thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu khả năng sinh
trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương
rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang”.
2. Mục tiêu của đề tài
Lựa chọn được giống đậu tương có khả năng sinh trưởng phát triển tốt,
phù hợp với điều kiện sinh thái giới thiệu cho sản xuất.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghiã khoa học
- Đề tài là công trình nghiên cứu tuyển chọn một số giống đậu tương phù
hợp với điều kiện sản xuất tại huyện Hoàng Su Phì, kết quả nghiên cứu góp phần
bổ sung cơ sở lý luận cho việc phát triển đậu tương tại huyện Hoàng Su Phì.
* Yêu cầu nhiệt độ
Trong quá trình sinh trưởng của đậu tương, nếu nhiệt độ biến động trên
hoặc dưới mức thích hợp quá nhiều, có thể gây thiệt hại đối với cây trồng.
Khả năng bị thiệt hại do nhiệt độ tuỳ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cây.
Nhiệt độ thấp ảnh hưởng đến nảy mầm và sinh trưởng của cây con,
sương mù xuất hiện ảnh hưởng phát triển quả, trong đó nhiệt độ cao cũng ảnh
hưởng nghiêm trọng đến quá trình sinh lý cây. Nhiệt độ cao thường kèm với
khô hạn và bốc hơi nhiều.
Khi nghiên cứu sự nẩy mầm của hạt đậu tương thấy rằng biên độ nhiệt
độ để có thể nẩy mầm là 50C - 400C, nhiệt độ tối ưu cho hạt nẩy mầm là
300C. Giống đậu tương ngắn ngày có tổng tích ôn 1.700 - 2.2000C, trong khi
đối với những giống dài ngày là 3.200 - 3.8800C tương đương 140 - 160
ngày, đậu tương có khả năng chịu đựng được nhiệt độ từ 35 - 37 0C, mặc dầu
vậy thì nhiệt độ tối thích để cây đậu tương phát triển tốt trong mọi pha sinh
trưởng là 20 - 250C.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
5
Theo Bùi Huy Đáp, (1961)[7], ở pha đầu (thời kỳ cây con) nhiệt độ có
ảnh hưởng đáng kể đến nhóm đậu tương chín sớm, ít mẫn cảm với quang chu
kỳ nhưng ít ảnh hưởng đến nhóm chín muộn. Chiều cao của cây đậu tương
tăng trưởng thuận lợi ở nhiệt độ 17 - 230C, nhưng sự phát triển của rễ thuận
lợi ở nhiệt độ 27,2 - 32,20C.
Nhìn chung người ta chú ý ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự ra hoa, làm
quả, phát triển hạt hơn so với ảnh hưởng của quang chu kỳ. Tuy nhiên, nhiều
nghiên cứu cho thấy tầm quang trọng của sự tương tác giữa hai yếu tố tới quá
trình ra hoa và làm quả. Thí nghiệm trên giống Ransom, trồng ở nhiệt độ
tính quang hợp (PAR) bị ảnh hưởng bởi mật độ bức xạ trên tán cây và sự
phân bổ của nó trong tán cây. Ở điều kiện ngoài đồng ruộng, hầu hết bức xạ
được tiếp nhận bởi những lá nằm ở bề mặt ngoài của tán cây (Ngô Thế Dân
và cộng sự, 1999) [5]
Đậu tương là cây ngày ngắn điển hình, có phản ứng chặt chẽ với độ dài
ngày, cây sẽ ra hoa khi độ dài ngày ngắn hơn trị số giới hạn của giống. Các
giống khác nhau phản ứng với độ dài ngày khác nhau, giống chín muộn phản
ứng chặt chẽ với độ dài chiếu sáng hơn giống chín sớm.
Khi nghiên cứu phản ứng quang chu kỳ của cây đậu tương biểu hiện trong
thời gian sinh trưởng sinh dưỡng, nếu đậu tương gặp điều kiện ngày ngắn thì sẽ
rút ngắn thời gian từ mọc đến ra hoa và thời gian phân hoá mầm hoa, dẫn tới làm
giảm tích luỹ chất khô và giảm số lượng hoa. Sau khi ra hoa, nếu đậu tương gặp
điều kiện ngày ngắn thời gian sinh trưởng không bị ảnh hưởng nhưng khối lượng
chất khô toàn cây giảm (Nguyễn Văn Luật, 1979)[17].
Theo Đoàn Thị Thanh Nhàn và cộng sự (1996) [18], các giống đậu
tương ở Việt Nam được chia làm 3 nhóm chính: Nhóm chín sớm, nhóm chín
trung bình và nhóm chín muộn, nhóm chín sớm ít phản ứng với độ dài ngày
nên ra hoa và chín gần như nhau ở cả 3 thời vụ xuân, hè và vụ đông. Sự chênh
lệch về thời gian ra hoa và chín của các giống chín muộn rất rõ rệt giữa các
vùng trồng, do đó nó phản ứng khá chặt với độ dài chiếu sáng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
7
1.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất đậu tương trên thế giới
1.2.1. Tình hình nghiên cứu đậu tương trên thế giới
Hiện nay nguồn gen đậu tương trên thế giới được lưu giữ chủ yếu ở các
nước Australia, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Mỹ, Cannada
giống ở Mỹ là hướng mục tiêu vào việc chọn ra những giống có khả năng
thâm canh cao, phản ứng yếu với quang chu kỳ, chống chịu tốt với các điều
kiện bất lợi, hàm lượng Protein cao, dễ bảo quản và chế biến (Johnson H. W.
And Bernard, R.L 1976) [32].
Brazin, từ năm 1976 đến nay, tuyển chọn được 1.500 dòng đậu tương.
Tạo ra các giống Doko, Numbaira, IAC - 8, Cristalina là những giống thích hợp
cho vùng đất thấp ở trung tâm Brazin năng suất cao nhất là giống Cristalina đạt
3,8 tấn/ha. Hướng nghiên cứu trong thời gian tới từ trồng đến ra hoa là 40 - 50
ngày, đến chín là 107 - 120 ngày, có năng suất cao, chất lượng hạt tốt và kháng
sâu bệnh như BR79 - 1098, BR - 10 (Deloyche J. C. (1983) [29].
Ở châu Á, Trung Quốc là quốc gia có nhiều thành tựu trong việc chọn
tạo giống và sản xuất đậu tương. Những năm gần đây, Trung Quốc đã thu
nhập được từ nhiều quốc gia, các vùng sinh thái khác nhau về nguồn vật liệu
di truyền, đồng thời không ngừng ứng dụng các công nghệ, các tiến bộ khoa
học kỹ thuật để cải tiến các giống cũ. Do đó đã chọn tạo ra các giống mới có
năng suất, chất lượng, chống chịu tốt dịch hại, thích hợp với điều kiện sinh
thái. Các giống điền hình là CN001, CN002,... đều cho năng suất trung bình
34 - 43 tạ/ha trên nhiều vùng sản xuất.
Ấn Độ, từ năm 1963 đã bắt đầu khảo nghiệm các giống đậu tương và
nhập nội, tại trường Đại học Tổng hợp Pathaga. Năm 1967, Ấn Độ thành lập tổ
chức AICRPS (The all India Convidinated Resarch Project on Soybean) và
NRCS (National Research Centre for Soybean), tập trung nghiên cứu về
genotype và phát hiện ra 50 tính trạng phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới,
đồng thời phát triển giống mới có triển vọng như Birsasoil, ĐS74 - 24 - 2. Năm
1985, hai tác giả là Gingh và Chaudhary đã xác định được 6 giống trong 32
giống đậu tương triển vọng có năng suất cao và ổn định như HM93, PK73 - 92.
Trung tâm phát triển rau màu Châu Á (AVRDC - Đài Loan) bằng
phương pháp lai hữu tính và gây đột biến, từ năm 1961 đã bắt đầu chương
trình chọn tạo giống và đưa vào sản xuất các giống Kaohsiung 3, Tainung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
khác nhau với điều kiện môi trường khác nhau.
- Thu thập các vật liệu di truyền sau đó tiến hành lai tạo, chon lọc,
tuyển chọn các giống phù hợp với các tiêu chuẩn của một giống tốt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
10
- Tạo biến dị bằng lai hữu tính và các tác nhân gây đột biến tạo ra giống
mới có nhiều đặc tính quý.
- Xác định các biện pháp kỹ thuật tiên tiến thâm canh đậu tương đạt
năng suất cao, chất lượng tốt.
- Khảo nghiệm các giống đậu tương ở các vùng sinh thái khác nhau để
tìm khả năng thích ứng cao cho mỗi vùng sinh thái.
- Xác định vùng sinh thái địa lý và thời vụ trồng đậu tương thích hợp để
đạt năng suất cao.
1.2.2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và các châu lục
Đậu tương là cây lấy hạt, cây có dầu quan trọng bậc nhất của thế giới,
đứng hàng thứ 4 sau cây lúa mì, lúa nước và ngô. Mặc dù cây đậu tương có
nguồn gốc từ Viễn Đông nhưng do khả năng thích ứng khá rộng nên nó đã được
trồng ở khắp các châu lục trên thế giới nhưng tập trung nhiều nhất là châu Mỹ
73,03%; tiếp đến là châu Á 23,15%... Hàng năm trên thế giới trồng khoảng 54 56 triệu ha đậu tương (thời gian 1990 - 1992) với sản lượng khoảng 103 - 114
triệu tấn (FAO 1992). Các nước trồng diện tích nhiều là Mỹ 23,6 triệu ha, với
sản lượng 59,8 triệu tấn. Braxin có 9,4 triệu ha với sản lượng 19,2 triệu tấn.
Trung Quốc có 7,2 triệu ha với sản lượng là 9,7 triệu tấn. Achentina 4,9 triệu ha
với sản lượng là 11,3 triệu tấn. Thời kỳ từ năm 1990 - 1992 so với thời kỳ năm
1979 - 1981 sản lượng đậu tương đã tăng lên 26,1% còn diện tích chỉ tăng 8,8%.
Năng suất đậu tương thế giới bình quân trong những năm 1990 - 1992 là 1.974
kg/ha, tăng so với thời kỳ 1979 - 1981 là 15,9%. Những nước có năng suất đậu
2005
92,43
23,18
214,25
2006
94,93
23,43
222,42
2007
94,90
22,78
216,18
96,45
99,32
102,61
103,60
104,99
111,27
tích trồng đậu tương tăng 25,3 triệu ha, tăng 27,2% so với năm 2005. Năm
2014 diện tích trồng đậu tương của Thế giới đạt cao nhất là 117,72 triệu ha.
- Năng suất: Năng suất đậu tương trên Thế giới những năm gần đây
tương đối ổn định dao động từ 23,18 tạ/ha đến 26,20 tạ/ha. Năm 2014, năng
suất đậu tương đạt cao nhất là 26,20 tạ/ha.
- Sản lượng: Sản lượng trồng đậu tương trong những năm gần đây
tương đối phát triển ổn định có sự biến động theo hướng tăng dần. Trong
vòng 10 năm từ năm 2005 - 2014 sản lượng đậu tương tăng 94,14 triệu tấn,
tương đương với 43%. Năm 2014, sản lượng đậu tương đạt lớn nhất 308,44
triệu tấn. Sở dĩ trong những năm gần đây sản lượng trồng đậu tương tăng
nhanh đến như vậy là do diện tích trồng đậu tương trong những năm gần đây
cũng tăng lên và do người trồng đậu tương đã ứng dụng các tiến bộ khoa học
kĩ thuật tiên tiến để phục vụ sản xuất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
12
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương
của một số nước trên thế giới
Năm 2013
Tên nước
Năng
Diện tích
suất
(triệu ha)
(tạ/ha)
108,01
Brazil
24,86
29,32
81,69
30,27
28,66
86,76
Achentina
19,42
25,39
49,31
19,25
27,74
53,39
thứ 3 sau Mỹ và Brazil nhưng từ năm 2000 trở lại đây Achentina đã vượt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
13
Trung Quốc cả về diện tích, năng suất cũng như sản lượng. Năm 2014 diện
tích đậu tương của Achentina là 19,25 triệu ha, trong khi đó Trung Quốc là
6,73 triệu ha. Năng suất đậu tương của Achentina đạt 27,74 tạ/ha cao hơn
Trung Quốc 9,61 tạ/ha.
Trong sản xuất nông nghiệp, giống luôn giữ một vai trò quan trọng,
chọn tạo giống đậu tương có năng suất cao, ổn định, thích hợp với các vùng
sinh thái và mùa vụ khác nhau là một trong những hướng chính trong chương
trình chọn tạo giống đậu tương. Trên thế giới công tác chọn giống đang tập
trung vào một số vấn đề sau:
- Nhập nội giống sau đó bồi dưỡng cho thích nghi với từng vùng sinh thái.
- Thu thập nguồn vật liệu, sau đó lai tạo, chọn lọc ra những giống tốt
phục vụ cho sản xuất.
- Khảo nghiệm các giống ở các vùng sinh thái khác nhau để tìm ra khả
năng thích ứng của các giống với từng vùng sinh thái.
- Dùng các tác nhân vật lý, hoá học gây đột biến, tạo ra các giống mới
có nhiều đặc tính tốt.
Năm 1982 thí nghiệm quốc tế đánh giá giống đậu tương tiến hành gồm
108 bộ giống được chia làm 3 nhóm. Căn cứ vào thời gian sinh trưởng: giống
chín muộn, thời gian sinh trưởng dài, được bố trí ở các vùng nhiệt đới và á
nhiệt đới. Giống có thời gian sinh trưởng ngắn được bố trí ở vùng ôn đới. Kết
quả thu được là:
Nhóm A: Gồm các giống trồng ở vùng nhiệt đới Siata, đạt năng suất
bình quân cao nhất ở các điểm thí nghiệm, năng suất đạt 20,4 tạ/ha. Giống
Mục đích của công tác chọn giống ở Indonexia là phát triển những
giống có triển vọng, tức là tạo ra giống có thể sản xuất tốt trên đất thấp sau
khi trồng lúa. Không phải làm đất, thời gian sinh trưởng ngắn (70 - 80 ngày),
chống bệnh rỉ sắt, hạt có sức sống tốt như Willis. Tổng diện tích đất ướt ở
Inđonexia là 8 triệu ha, trong đó đậu tương chiếm 7,3 triệu ha.
Chương trình chọn tạo giống đậu tương ở Châu á trú trọng hai hướng là:
đậu tương ăn hạt và làm rau (quả xanh đóng hộp). Năm 1992, AVRDC đã khảo
nghiệm 328 mẫu giống đậu tương ăn hạt ở 23 nước và 477 mẫu giống đậu
tương làm rau ở 20 nước. Giống AGS 129 đã được đánh giá cao ở II AT trong
cả 2 vụ Hè và Thu (AVRDC 1993) (Phạm Văn Biên và cộng sự, 1995).[2]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
15
1.3. Tình hình nghiên cứu và sản xuất đậu tương ở Việt Nam
1.3.1. Tình hình nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam
Ở Việt Nam, theo Trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm đậu đỗ (Viện
Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam) thì cây đậu tương được trồng ở
hầu khắp các tỉnh trong cả nước với diện tích hàng năm là từ 150 - 200
ngàn ha, năng suất trung bình là 13-14 tạ/ha. Có 3 vùng trồng đậu tương lớn
nhất là miền núi và Trung du Bắc bộ, Đồng bằng Sông Hồng và vùng Đông
Nam bộ, chiếm 72,2% tổng diện tích trồng cả nước. Các tỉnh trồng nhiều đậu
tương như: Cao Bằng, Sơn La, Đồng Nai, Đồng Tháp... Nhu cầu về sản phẩm
đậu tương của các ngành thương mại, chăn nuôi, công nghiệp thực phẩm ngày
càng phát triển nên cây đậu tương ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò
quan trọng trong ngành nông nghiệp nước ta. Xuất phát từ vấn đề trên trong
những năm gần đây, cây đậu tương đã được các Viện, trường Đại học đầu tư
nghiên cứu và tuyển chọn ra nhiều giống cho năng suất cao, chất lượng tốt,