a
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
======
BÀI TIỂU LUẬN
BIỆN PHÁP ẨN DỤ VỀ CON NGƯỜI
TRONG CA DAO VIỆT NAM
Giảng viên
Môn học
: Nguyễn Ngọc Kiên
: Ngôn ngữ và văn hóa
HANOI, 2017
1
MỤC LỤC
2
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1, Lí do chọn đề tài:
Ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ mật thiết, "biện chứng" và không
thể tách rời. Không phải ngẫu nhiên mà W. V. Humboldt nhận định rằng: Ngôn
ngữ là linh hồn dân tộc. Không có ngôn ngữ nào nằm ngoài văn hóa cũng như
không có văn hóa nào mà lại không được biểu thị thông qua ngôn ngữ. Do đó,
Trên cơ sở tìm hiểu những tài liệu liên quan đến đề tài cùng với vận dụng
các phương pháp: tổng hợp, phân tích, khảo sát, để tìm ra biện pháp ẩn dụ trong
ca dao Việt Nam.
4
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG
1, Khái niệm ca dao:
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu âm thanh đặc biệt, là phương tiện giao
tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người;
ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền
thống văn hóa – lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác. Từ định nghĩa trên,
chúng ta không chỉ nhận ra được tầm quan trọng của ngôn ngữ trong đời sống
của con người mà bên cạnh đó, chúng ta còn nhận ra được mối quan hệ mật thiết
giữa ngôn ngữ và văn hóa – một "mối quan hệ biện chứng lẫn nhau". Nghiên
cứu ngôn ngữ nói chung dưới góc độ văn hóa đã trở nên phổ biến trong giới
ngôn ngữ học hiện nay, hướng tiếp cận ngôn ngữ - văn hóa không chỉ có ý nghĩa
về mặt nghiên cứu, khoa học mà nó còn đem lại nhiều giá trị về mặt nhận thức,
thực tiễn.
Ca dao là một trong những thể loại tiêu biểu của văn học dân gian Việt
Nam. Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt, trước đây, người ta còn gọi ca dao
là phong dao bởi vì có nhiều bài ca dao đã phản ánh những phong tục, tập quán
của từng địa phương, của từng thời đại lịch sử. Có nhiều định nghĩa khác nhau
về ca dao nhưng tựu trung lại, chúng ta có thể định nghĩa ca dao như sau: Ca dao
là những bài văn vần do nhân dân sang tác tập thể, được lưu truyền bằng miệng
và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân.
Những bài ca dao với những vần điệu trữ tình, đằm thắm không biết tự
bao giờ đã đi vào đời sống văn hóa – tinh thần của người dân Việt Nam như một
hiện một cụm từ khác có cùng hoặc gần sắc thái nghĩa. Lối ẩn dụ này được sử
dụng thường xuyên trong văn học, đặc biệt là thơ - một bài viết có ít từ vựng,
nơi mà cảm xúc và những ý tứ trong nó lại được dùng để liên tưởng đến những
vật hay đặc tính trong bài khác. Nó so sánh hai sự vật mà không dùng những
cụm từ hoặc từ 'như', 'như là','giống như'. Khác với lối so sánh, lối ẩn dụ đạt tới
một mức độ cao hơn. Thay vì yêu cầu chùng ta mô tả một sự vật, sự kiện một
cách thông thường, lối ẩn dụ yêu cầu ta mô tả một sự vật, sự kiện mà lại lấy hình
ảnh của sự vật sự kiện khác.
Trong công trình “Phong cách học và các phong cách chức năng Tiếng
Việt”, tác giả Hữu Đạt đã định nghĩa "Ẩn dụ là kiểu so sánh không nói thẳng
6
ra...thực chất của phép ẩn dụ chính là việc dùng tên gọi này để biểu hiện sự vật
khác dựa trên cơ chế tư duy và ngôn ngữ dân tộc". Ở đây, tác giả nhấn mạnh
việc đặt ẩn dụ trong mối tương quan chặt chẽ giữa ngôn ngữ với bối cảnh văn
hóa, truyền thống dân tộc.
Ví dụ:
- Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.
7
CHƯƠNG 2: ẨN DỤ VỀ CON NGƯỜI TRONG CA DAO
Những mận, đào, lan, huệ, đào đông, liễu tây, cá nước, chim trời....là
những hình ảnh rất quen thuộc của làng quê Việt Nam, và ấy cũng chính là
những hình ảnh ẩn dụ - những biểu tượng - mộc mạc giản dị mà rất đỗi gần gũi,
bật lên một "vẻ đẹp lâu bền, khó phai" bên trong; điều này cũng tựa như tâm hồn
của những cô thôn nữ chốn làng quê Việt.
Càng thắm lại càng mau phai
Thoang thoảng hoa nhài mà lại thơm lâu.
Trong thế giới tự nhiên cũng như trong ca dao dân gian, hoa nhài không
phải là loài hoa chiếm ngôi vị "nữ hoàng", đó không phải là loài hoa hương sắc
nhất, càng không phải loài hoa kiêu sa, đài các như hoa hồng thế nhưng trong
cái ngôi bậc "khiêm nhường" ấy của mình, hoa nhài lại càng khẳng định cái
"duyên ngầm" đáng yêu của mình:
- Hoa lí là chị hoa lài
Hoa lí có tài, hoa lài có duyên.
- Anh đừng tham bông quế, bỏ phế cái bông lài
Mai sau quế rụng, bông lài thơm xa...
Vẻ đẹp bình dị, hiền hòa của hoa nhài còn được ví von với vẻ đẹp của đôi
lứa xứng đôi:
Đôi ta lấm tấm hoa nhài
Chồng đây vợ đấy kém ai trên đời
Như vậy, trong tư duy của người dân lao động thời xưa, hoa nhài/ hoa lài
là một loài hoa đẹp, cao quý, thanh tao. Qua ý nghĩa của hoa nhài, chúng ta thấy
được quan niệm thẩm mĩ, văn hóa và đạo đức của nhân dân lao động. Đó là
truyền thống tốt đẹp của người dân Việt Nam: quý trọng thủy chung, tình nghĩa
sắt son, thích "cái nết đánh chết cái đẹp", "tốt gỗ hơn tốt nước sơn"; quý cái tình,
cái duyên bên trong hơn là những vẻ đẹp hào nhoáng, sáo rỗng, vô hồn. Bên
cạnh biểu tượng hoa nhài/ hoa lài tiêu biểu trong ca dao, chúng ta còn bắt gặp
nhiều hình ảnh ẩn dụ "hoa" khác như hoa cúc, hoa sen, hoa lan, hoa huệ... về
người dân lao động, những hình ảnh vốn rất quen thuộc, bình dị của nông thôn,
làng quê nhưng không hề thiếu sự tinh tế, thể hiện những nét đẹp dân dã cùng
9
10
tâm tình với nhau của những người lao động chất phác, hiền lành. Trong con mắt
của người lao động thời xưa, con cò và những con chim đồng loại với nó như
con bồ nông, con hạc, con vạc có tình bạn thắm thiết với nhau, chúng túm tụm
sum họp với nhau đều có sự gần gũi với cảnh tình của người nông dân. Số phận
"con cò lặn lội bờ sông" cũng tựa như số phận những con người lao động ngày
đêm vất vả lao động để làm ra hạt thóc hạt gạo thế nhưng lại hẩm hiu, bèo bọt:
Con cò mày đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao,
-Ông ơi ông vớt tôi nao,
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong,
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.
Những câu cao dao trên đều rất kín đáo, ý nhị, tác giả dân gian không hề
đả động gì đến con người và cũng không nhắc đến giá trị lao động của học
nhưng chúng ta đều ngầm hiểu cái "thân cò" ấy chính là than phận người nông
dân sớm nắng chiều mưa, đầu tắt mặt tối. Hình ảnh "con cò" không gì khác ấy
chính là hình ảnh những người nông dân Việt Nam muôn đời, những con người
cần cù, chăm chỉ, chất phác, kiên cường, luôn bền bỉ nhẫn nại cả trong lao động
sản xuất lẫn trong đấu tranh chống những thế lực đàn áp mình.
Ai làm cho bể kia đầy,
Cho ao kia cạn, cho gầy cò con.
Cái cò là cái cò con,
Mẹ đi xúc tép, để con ở nhà,
Mẹ đi một quãng đồng xa,
Mẹ sà chân xuống, phải mà con lươn,
Ông kia có chiếc thuyền nan,
Chở vào ao rậm, xem lươn bắt cò..
Đêm qua nguyệt lặn về tây
Sự tình kẻ đấy, người đây còn dài...
Trúc với mai, mai về, trúc nhớ
Trúc trở về, mai nhớ trúc không?
Bây giờ kẻ Bắc người Đông
Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư!
Như vậy, hình ảnh trúc, mai trong ca dao Việt Nam thường được dùng để
ví với đôi bạn trẻ, cho tình yêu lứa đôi. Mượn hình ảnh trúc, mai, người dân xưa
13
đã khéo léo nói lên tâm trạng của chính mình một cách tinh tế, ý nhị. Bên cạnh
hình ảnh cây trúc, cây mai, trong ca dao, ông bà ta còn lấy hình ảnh các loại cây,
trái, quả khác để tượng trưng cho người dân lao động như: quế, hương, mận,
đào, cây đa, cây tùng, cây xoan đào, cây liễu, chanh, cam, lê lựu, gừng, bòng,
cau trầu....
- Già thời bế cháu đỡ con,
Già đâu lại ước cau non trái mùa.
- Già nay ước những của chua
Cau non trái mùa già vẫn muốn ăn
Quý chi một nải chuối xanh
Nam bảy người giành cho mủ dính tay.
- Bao giờ cho chuối có cành,
Cho sung có nụ cho cành có hoa.
2, Một số hình ảnh ẩn dụ khác trong ca dao Việt Nam:
Trong ca dao, chúng ta còn bắt gặp rất nhiều hình ảnh quen thuộc của làng
quê Việt Nam được các tác giả dân gian sử dụng rất khéo và tinh tế để tượng
trưng cho người dân lao động, để gửi gắm những tâm tư, tình cảm thầm kín của
họ vào những câu ca dao mượt mà, đằm thắm, trữ tình. Đó có khi là hình ảnh
thuyền bến, bờ sông
mộc mạc mà rất đỗi ân tình. Ẩn dụ này trong ca dao Việt Nam cũng gắn liền với
những đặc trưng tiêu biểu của nền văn minh lúa nước. Những hình ảnh rất đỗi
quen thuộc và dung dị của làng quê Việt: những thuyền, bến, những cây đa, mái
đình, giếng nước;những con cò, cái bống, con trâu, con nghé, con cá, con tằm;
những hoa sen, hoa cúc, hoa hồi; những con ong, cánh bướm... đã bước ra từ
làng quê mộc mạc, đơn sơ đi vào những câu ca dao đằm thắm và trở thành
những hình ảnh ẩn dụ tinh tế - những biểu tượng trữ tình, gợi cảm – cho những
con người lao động chất phác, hiền lành mà chan chứa thương yêu, ân tình sâu
sắc. Họ đã mượn những hình ảnh gần gũi, quen thuộc để giãi bày, để tâm sự, để
gửi gắm và sẻ chia những tâm sự thầm kín trong lòng; tất cả những tình cảm ấy
đậm đà qua từng vần ca dao, nó da diết mà vẫn kín đáo, ý nhị; thể hiện rõ nét
văn hóa tinh tế trong đời sống tinh thần của người dân Việt.
16
PHẦN 4: TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Mạnh Nhị (chủ biên), Văn học Việt Nam văn học dân gian những
tác phẩm chọn lọc (Tái bản lần thứ tư), NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2004.
2. Bùi Mạnh Nhị (chủ biên), Văn học Việt Nam văn học dân gian những
công trình nghiên cứu (Tái bản lần thứ tư), NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2003.
3. Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Phong cách học tiếng Việt (Tái bản lần thứ
sáu), NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2006.
4. Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (Tái bản lần thứ mười
lăm có sửa chữa và bổ sung), NXB. Văn học, Hà Nội, 2007.
5. Hoàng Kim Ngọc ( chủ biên), So sánh & ẩn dụ trong ca dao trữ tình
(dưới góc nhìn ngôn ngữ - văn hóa học), NXB. Lao động (2011).
17