HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ TRANG
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG
ĐẤT VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ ĐẤT CỦA MỘT
SỐ LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành:
Khoa học môi trường
Mã số:
60.44.03.01
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Hoàng Thái Đại
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được nêu rõ nguồn gốc.
Hà nội, ngày
tháng
năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Trang
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN...............................................................................................................I
LỜI CẢM ƠN...................................................................................................................II
MỤC LỤC.......................................................................................................................III
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.......................................................................................III
DANH MỤC BẢNG........................................................................................................V
DANH MỤC HÌNH........................................................................................................VI
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN.............................................................................................VII
THESİS ABSTRACT......................................................................................................IX
PHẦN 1. MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU..................................................................................3
PHẦN 3. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..........................................36
PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN.........................................................................41
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.........................................................................77
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................................79
PHỤ LỤC 1: THANG ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CHỈ TIÊU VẬT LÝ, HÓA HỌC ĐẤT. .82
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
KCN
Khu công nghiệp
KLN
Kim loại nặng
KHCN
Khoa học công nghệ
KT - XH
Kinh tế - Xã hội
iii
KHM
Kí hiệu mẫu
MN&TDBB
Miền núi và Trung du Bắc bộ
OM
Bảng 2.7. Sử dụng phân bón vô cơ ở nước ta qua các năm.........................................................
Bảng 2.8. Các tạp chất trong phân superphophat........................................................................
Bảng 2.9. Thời gian tồn lưu trong đất của một số nông dược.....................................................
Bảng 2.10. Tổng kết các công nghệ xử lý ô nhiễm đất..................................................................
Bảng 3.1. Tọa độ và vị trí lấy mẫu đất khu vực nghiên cứu..........................................................
Bảng 3.2. Giới hạn hàm lượng tổng số của một số kim loại nặng trong một số loại đất
QCVN 03 : 2015/BTNMT...............................................................................................
Bảng 4.1. Biến động về dân số, lao động qua các năm.................................................................
Bảng 4.2. Cơ cấu 3 loại đất chính..................................................................................................
Bảng 4.3. Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp năm 2015...............................................................
Bảng 4.4. Lượng phân bón và năng suất của các loại cây trồng chính.........................................
Bảng 4.5. Lượng phân bón theo loại hình sử dụng đất................................................................
Bảng 4.6. Mức độ sử dụng thuốc BVTV cho lúa trên đất Chuyên lúa..........................................
Bảng 4.7. Mức độ sử dụng thuốc BVTV cho các loại cây trồng trên đất 2 Lúa - Màu..................
Bảng 4.8. Mức độ sử dụng thuốc BVTV cho các loại cây trồng trên đất Chuyên màu................
Bảng 4.9. Một số tính chất hóa học đất Chuyên lúa.....................................................................
Bảng 4.10. Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất chuyên lúa.............................................
Bảng 4.11. Một số tính chất hóa học đất 2 Lúa - màu..................................................................
Bảng 4.12. Hàm lượng một số kim loai nặng trong đất 2 Lúa – Màu...........................................
Bảng 4.13. Một số tính chất hóa học đất Chuyên màu................................................................
Bảng 4.14. Hàm lượng một số kim loai nặng trong đất Chuyên màu..........................................
Bảng 4.15. Đặc tính hóa học của các loại hình sử dụng đất chính...............................................
v
DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1. Vị trí địa lý huyện Tiên Du...............................................................................................41
Hình 4.2. Sơ đồ biểu thị số liệu trung bình 5 năm (2010 - 2015) của Trạm Khí tượng Bắc Ninh. 44
độ sử dụng phân bón và thuốc BVTV trong loại hình 2 Lúa – màu là cao nhất, tuy
nhiên tình hình sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật tại địa phương hầu hết đều
đảm bảo.
Môi trường đất (đất phù sa) thuộc huyện Tiên Du còn tương đối tốt; hàm lượng
các chất dinh dưỡng mức trung bình: pHKCl (5,1 - 5,7), OM (1,7 - 3,1 %), P dễ tiêu (8 35 mg/100g), P% (0,5 – 1), N% ( 0,1 - 0,15), K% (0,86 - 2,25), K dễ tiêu (4,21 - 29,61
mg/100g), CEC (10,86 - 20,44 ldl/100g); có xu hướng cao hơn ở những loại hình sử
dụng đất chuyên màu.
Hàm lượng các kim loại nặng của đất trên các loại hình sử dụng không có sự
biến động nhiều, không có quy luật rõ ràng và hàm lượng của chúng trên các loại hình
đều chưa vượt ngưỡng tối đa cho phép, theo QCVN 03: 2015, với chì tổng số có xu
vii
hướng tăng khi chuyển từ đất lúa sang trồng màu, cao nhất là 67,21 ppm (QCVN 03:
2015: 70 ppm). Tuy chưa đến mức báo động nhưng vẫn cần có một số biện pháp kĩ
thuật để nâng cao chất lượng đất huyện Tiên Du: quản lý sử dụng phân bón, bón phân
cân đối, giảm lượng phân hóa học, tăng phân chuồng kết hợp bón vôi tăng pH đất, sử
dụng thuốc BVTV: Đúng thuốc, Đúng lúc, Đúng liều lượng và đúng nồng độ. Cần có
nghiên cứu bổ sung về hàm lượng kim loại nặng dễ tiêu, và mở rộng phạm vi để xác
định nguồn gây ô nhiễm.
viii
THESİS ABSTRACT
Master student: Nguyen Thi Trang
Thesis title: Evaluate the current state of soil environment and recommend solutions for
soil protection in some agricultural land use typein Tien Du district, Bac Ninh province.
Major: Environmental science
ix
The heavy metal contentsin soil are quite similar, comparing between the two
LUTs and all are under threshold, cited from TCVN 03:2015. But lead (Pb) contentin
rice soilis higher thanin the vegetable soil, with the highest content of 67.21 ppm
(comparing with the threshold of 70 ppm givenin TCVN 03:2015). Though, there are
still demands of some technical solution applications aim atimproving the soil quality of
the district, such as: manage the fertilizers application, balanced application of
fertilizers, reduce the chemical fertilizers applied,increase the manure amendmentin
corporation with lime toincrease soil pH, apply pesticide with 4 R rules: right pesticides,
right time, right rate and right amount.itis also needed to further study on soluble metals
and enlarge the study area to recognize the source of pollution.
x
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là tài sản vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia và là tư liệu sản
xuất đặc biệt hàng đầu không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp. Nó còn
là bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường sống, đất không chỉ là tài
nguyên thiên nhiên quý giá mà còn là nền tảng để định canh định cư, tổ chức
các hoạt động kinh tế, xã hội.
Mặc dù giữ vai trò quan trọng, nhưng đất đai lại là nguồn tài nguyên có
hạn và không thể tái tạo được. Trong khi đó sự tác động của thiên nhiên và quá
trình sử dụng đất của con người có thể làm cho đất đai bị biến động cả về mặt
bằng lẫn độ phì nhiêu theo hai chiều hướng: “tốt” hoặc “xấu”.
Do áp lực về thị trường tiêu thụ nông sản mà tình trạng độc canh trên cùng
một diện tích đất diễn ra ngày càng nhiều, hoặc hệ thống thâm canh cũng nghèo
nghiên cứu hiện tại có thực sự bị ô nhiễm (suy giảm độ phì và tồn dư kim loại
nặng), có hay không sự khác nhau giữa các loại hình sử dụng đất. Việc sử dụng
phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất gây có gây những ảnh hưởng xấu
đến chất lượng đất khu vực nghiên cứu?. Trên cơ sở những phân tích tính chất
đất, hàm lượng một số kim loại nặng chính trong đất có thể chứng minh và giải
đáp câu hỏi này. Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp bảo vệ đất cho khu vực.
1.3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp của 3 loại hình
sử dụng đất chính của huyện Tiên Du (Chuyên lúa, 2 Lúa - màu, Chuyên màu).
- Đề xuất một số giải pháp chính bảo vệ môi trường đất sản xuất
nông nghiệp.
1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Phạm vi không gian: các khu vực đất (đất phù sa với diện tích đất
4.823,05 ha chiếm 87,06 % DTTN) dưới 3 loại hình sử dụng đất chính (Chuyên
lúa, Lúa – Màu, Chuyên màu) trên địa bàn huyện Tiên Du – Tỉnh Bắc Ninh.
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 6/2015 đến tháng 6/2016.
1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Ý nghĩa khoa học
- Cơ sở khoa học cho việc thực hiện tốt chiến lược quy hoạch phát triển
nông nghiệp bền vững tỉnh Bắc Ninh đến 2025, định hướng đến năm 2030.
Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá về chất lượng đất sản xuất nông nghiệp tại thời điểm hiện tại,
tìm ra nguyên nhân, cung cấp những thông tin từ kết quả nghiên cứu để định
hướng áp dụng các biện pháp cụ thể để bảo vệ đất nếu môi trường đất bị ô nhiễm.
2
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT TRÊN
nên tình trạng thiếu đói của hàng triệu người ở các nước đang phát triển.
3
Thông thường hàm lượng kim loại hình thành trong đá macma lớn hơn
trong đá trầm tích. Hàm lượng KLN trong đất được tích luỹ ngoài quá trình
phong hoá tại chỗ của các khoáng vật và đá mẹ, còn do các hoạt động sản suất
của con người mang lại, mà nguyên nhân này là chủ yếu. Vì vậy, năm 1982
Galloway và Freedmas đã tiến hành nghiên cứu sự phát thải toàn cầu của một số
nguyên tố KLN do tự nhiên và do nhân tạo (dẫn theo Lê Văn Khoa, 1999).
Ô nhiễm đất nói chung và ô nhiễm đất do kim loại nặng nói riêng đã và
đang là mối quan ngại của tất cả các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Sự phát
triển của các ngành công nghiệp, nông nghiệp...kéo theo những nguy cơ ô nhiễm
ngày càng lớn. Tân Hoa Xã dẫn lời ông Chu Sinh Hiền, Giám đốc cơ quan bảo vệ
môi trường quốc gia Trung Quốc cho biết mỗi năm Trung Quốc có tới 12 triệu
tấn lúa bị nhiễm bẩn vì kim loại nặng ngấm vào đất trồng (Kỳ Thư, 2006).
Theo Thomas (1986), các nguyên tố KLN như: Cu, Zn, Cd, Hg, Cr, As,
… thường chứa trong phế thải của các nhà máy luyện kim màu, sản suất ô tô.
Cũng theo Thomas khi nước thải chứa 13 mg Cu/l, 10 mg Pb/l, 1 mg Zn/l sẽ
gây ô nhiễm đất nghiêm trọng. Ở một số nước như Đan Mạch, Nhật Bản, Anh,
Ailen hàm lượng Pb cao hơn 100 mg/kg đã phản ánh tình trạng ô nhiễm Pb
nghiêm trọng.
Ở nước Anh, kết quả điều tra môi trường đất của 53 thành phố, thị xã về
các KLN đặc biệt là các KLN như Pb, Zn, Cu, Ni cho thấy: các KLN trên thường
có nhiều ở khu vực khai thác mỏ, và có hàm lượng Pb tổng số vượt trên 200 ppm,
ở nhiều vùng công nghiệp đã vượt quá 500 ppm (Lê Đức, 2006).
Các chất thải từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, khai khoáng…đã
làm ô nhiễm không chỉ môi trường đất mà còn làm ô nhiễm môi trường nước ở
các con sông, biển. Nếu hàng năm có 20 tấn bùn được đổ ra trên 1 ha đất và sau
100
100
125
50
50
Zn
300
400
300
250
150
300
Pd
100
200
nguồn sông Jinsu, hàm lượng Cd trong lúa được trồng ở vùng này cao hơn gấp 10
lần so với lúa trồng ở khu vực khác nên chúng đã bị cấm gieo trồng. Nguyên
nhân là môi trường đất vùng này bị nhiễm độc bởi nước thải của mỏ khoáng
Shinkhongu (tinh luyện kẽm). Cho tới năm 1992 mới giải độc được khoảng 36%
diện tích ruộng đất bị ô nhiễm, chi phí làm sạch đất và chi phí bồi thường tổn thất
nông nghiệp lên tới 19 triệu USD/năm (Besnard và cs., 1996).
Theo Havisto tại Phần Lan, hầu hết ô nhiễm kim loại nặng trong đất là do
5
nước thải từ chế biến thực vật, nhà máy cưa, chế biến gỗ, khu vực săn bắn, gara ô
tô và kho phế liệu. Trong năm 2001, 20.000 vùng đất đã bị nhiễm bẩn kim loại.
38% những khu vực này bị đóng cửa để xử lý, trong đó nhiễm bẩn kim loại là
mối quan tâm lớn nhất (Havisto, 2002).
Không chỉ các nước châu Âu, một số nước khu vực Trung đông cũng được
cảnh báo nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng. Theo Zahra Varasteh Khanlari và cộng
sự, hàm lượng kim loại nặng trong các mẫu đất nông nghiệp tại tỉnh Hamadan,
phía tâyiran diễn biến phức tạp, nhiều mẫu thu được có nồng độ cao hơn ngưỡng
cho phép của nhiều nước trên thế giới (Zahra Varasteh Khanlari và Mohsen
Jalali, 2008).
2.1.2. Hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam
Theo thống kê năm 2013, tổng diện tích đất nông nghiệp ở nước ta là
262,805 km2 (chiếm tới 79,4%) bao gồm đất sản xuất nông nghiệp là 101,511
km2, đất lâm nghiệp là 153,731 km2, đất nuôi trồng thủy sản là 7,120 km2).
Việt Nam có 8 vùng đất nông nghiệp gồm: Đồng bằng sông Hồng, Đông
Bắc bộ, Tây Bắc bộ, Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên,
Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Mỗi vùng đều có đặc trưng cây
trồng rất đa dạng. Trong đó, Đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu là lúa, Tây
Nguyên là cà phê, rau, hoa, trà; miền Đông Nam bộ là cao su, mía, điều,...
tích và mức độ. Dưới đây là một số nghiên cứu cho thấy tình trạng trên.
Năm 1998, Trần Kông Tấu và Trần Công Khánh khi nghiên cứu KLN dạng
tổng số và di động ở tầng mặt 0 - 20 cm trên một số loại đất đã chỉ ra 7 độc tố
(Co, Cr, Fe, Mn, Ni, Pb, Zn) tập trung chủ yếu ở đất phù sa sông Hồng và sông
Cửu Long.
7
Bảng 2.3. Hàm lượng kim loại nặng trong tầng đất mặt
ở một số loại đất tại Việt Nam
Đơn vị: mg/kg
Loại đất
Dạng
Đất Feralit phát triển trên
đá bazan
TS
59,5 257,6 125091 1192 227,1
DĐ
0,46
43,2
42280
227
34,9
37,1
86,7
DĐ
0,24
30,8
9,9
Fe
Mn
1,45
Ni
Pb
Zn
9,0
81
0,09
Hà Nội
Phù sa
Lúa - rau
24
24
159
0,09
Hà Giang
Phù sa
Lúa
22
21
57
0,05
Đá vôi
Mía
106
33
153
0,02
Nghệ An
Đá Bazan
Cao su
47
24
159
0,02
Đắc Lắc
Đá Bazan
16 lần, Cr gấp 60 lần, Zn gấp 90 lần, Pb gấp 700 lần mức cho phép.
Khi nghiên cứu đất ở làng nghề đúc nhôm, đồng tại Văn Môn - Yên Phong Bắc Ninh, tác giả Phạm Quang Hà và cộng sự đã nhận thấy hàm lượng kim loại
nặng trong đất nông nghiệp của làng nghề này khá cao: trung bình hàm lượng Cd
là 1 mg/kg (dao động từ 0,3 – 3,1mg/kg); Cu là 41,4 mg/kg (dao động từ 20 –
216,7 mg/kg); Pb là 39,7 mg/kg (dao động từ 20,1 – 143,1 mg/kg ) và Zn là
100,3 mg/kg (dao động từ 33,7 – 887,4 mg/kg ) (Phạm Quang Hà và cs., 2000).
Tác giả Phạm Quang Hà đã cảnh báo ô nhiễm đất do tích luỹ kim loại nặng
tại khu công nghiệp huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội như sau: Đất đã có xu
hướng tích luỹ Cu, Pb, Zn và Cd, hàm lượng các kim loại này trong đất tương
ứng đạt xấp xỉ 40, 30 – 43, 108 – 137 và 0,93 – 2,31 mg/kg. Càng gần các khu
công nghiệp hoặc địa hình càng trũng đất có xu hướng tích luỹ kim loại nặng
càng cao (Phạm Quang Hà và cs., 2001).
Hàm lượng Cadimi trong một số loại đất Việt Nam gồm đất phù sa, đất đỏ
và đất xám đã được Phạm Quang Hà (2002) chỉ ra như sau: hàm lượng Cd của
các loại đất biến thiên từ 0,01 đến 1,55 mg/kg. So với tiêu chuẩn (QCVN
03:2008/BTNMT) thì đều chưa vượt giới hạn. Tuy nhiên, hàm lượng Cd trong
đất đỏ khá cao cũng cần được lưu ý. Một số mẫu đất mặc dù mức Cd chưa vượt
ngưỡng nhưng chứng tỏ có sự tích lũy rõ rệt (đất thuộc vùng trũng Đầm Sét Yên Sở). Đặc biệt, hàm lượng Cd trong các mẫu bùn sông Tô đoạn cuối Thịnh
Liệt rất cao, gấp gần 5 lần so với mẫu nền của lớp đất nông nghiệp tầng mặt vùng
lân cận (4,19 mg/kg đất).
9
Khảo sát của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội, Hà Nội có
108/478 vùng rau với diện tích 932 ha chiếm 35,3% diện tích canh tác không đủ
các điều kiện về đất, nước để sản xuất rau an toàn, 77 vùng có chỉ tiêu KLN trong
nước tưới vượt quy định cho phép, bao gồm 16 vùng tưới bằng nước ngầm và 61
vùng tưới bằng nước mặt, 36 vùng có chỉ tiêu về hàm lượng KLN trong đất vượt
quy định cho phép (chủ yếu là Cd, Cu và Zn).
- pH: hầu hết môi trường đất tại các vị trí quan trắc đều có giá trị từ 3,8 –
7,6; do đó đất ở đây là đất vừa có tính acid vừa có tính kiềm. Giá trị pH ở đây
chủ yếu bị ảnh hưởng của việc sử dụng phân bón trong nông nghiệp.
- Thành phần cơ giới của đất: hầu hết các thành phần cơ giới đất trên địa
bàn tỉnh là đất sét có tỉ lệ phần trăm khá cao. Các thành phần còn gồm: 19,5 –
35,4% (hạt sét), 10,9 – 21,9% (hạt bụi), 3,3 – 19,4% (hạt cát) và 0 – 8,6% (hạt
sạn sỏi).
- Tỷ trọng: Tại vị trí quan trắc như khu vực đồng bằng huyện Cát Tiên có tỷ
trọng cao nhất trung bình 2,7g/cm 3 . Những vị trí quan trắc đất còn lại là những
khu vực đất dốc đồi núi có giá trị tỉ trọng thấp chủ yếu là đất trong KCN và các
vị trí quan trắc thuộc khu trồng cây công nghiệp như chè, cà phê.
- Thông số EC: giá trị EC dao động từ 6 – 170 µS/cm. Điều này chứng tỏ tỉ
lệ muối tan trong đất tại các vị trí quan trắc cao, đặc biệt là vị trí quan trắc đất
huyện Lạc Dương có giá trị EC cao nhất từ 158 – 170 µS/cm.
- Hàm lượng dinh dưỡng và hữu cơ trong đất: Đất ở hầu hết các điểm quan
trắc có hàm lượng dinh dưỡng và hữu cơ trong đất tương đối thấp, cụ thể:
+ Hàm lượng P2O5 tổng dao động từ 0,11 – 0,47%. Tuy nhiên tại các khu
vực sản xuất nông nghiệp thì cao hơn các loại đất khác đặc biệt là các khu vực
trồng cây công nghiệp như chè, cà phê.
+ Hàm lượng K2O tổng số dao động từ 0,008 – 0,14%. 3 vị trí có hàm lượng
K2O cao 0,14% chủ yếu là tại các khu vực trồng lúa, hoa màu, KCN công nghệ
cao.
+ Hàm lượng Nitơ tổng số dao động từ 0,01 – 0,24%.
+ Hàm lượng hữu cơ trong đất dao động từ 0,5 – 11,9%. Một mẫu quan trắc
tại khu vực mỏ Bôxit Bảo Lộc có hàm lượng hữu cơ thấp hơn 0,5 %, đất ở đây
tương đối nghèo hữu cơ.
+ Hàm lượng P2O5 dao động từ 2,27 – 127 mg/100g. Các khu vực có hàm
lượng P2O5 cao chủ yếu là khu vực trồng chè và cà phê. Việc sử dụng phân bón
trong việc chăm sóc cây trồng góp phần làm gia tăng hàm lượng P2O5 trong đất.
mặn hoá, axit hoá, nhiễm phèn, lầy úng... Đất bị thoái hoá sẽ làm cho tính
chất vật lý, hoá học, sinh học của đất trở nên xấu, tính năng sản xuất của đất
bị giảm dẫn đến làm tăng diện tích đất trống đồi núi trọc, gây nguy hiểm cho
hệ sinh thái và môi trường.
Các loại thoái hóa đất:
Chua hóa, nghèo kiệt dinh dưỡng trong đất.
Bạc màu hóa.
Kết von đá ong hóa.
Xói mòn, rửa trôi.
12
Quá trình sa mạc hóa.
Quá trình mặn hóa.
Mức độ ô nhiễm đất bởi các chất thải gây độc.
(1) Chua hóa, nghèo kiệt dinh dưỡng trong đất
Phần lớn đất ở nước ta kể cả ở vùng đồi núi và vùng đồng bằng đều bị
chua với pH đất từ 4,0 đến 5,5. Thực tiễn sản xuất cho thấy, thường sau 3 đến 4
năm canh tác trồng các loại cây ngắn ngày, pH của đất giảm trung bình 0,5 đơn
vị. Trong tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của nước ta, có đến 6 triệu ha,
chiếm 84% diện tích là đất chua.
Độ chua của đất ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng và năng suất cây
trồng với đa số các loại cây trồng thích hợp với đất ít chua đến trung tính.
Đất bị chua cũng ảnh hưởng đến sự hoạt động vi sinh vật đất, đến chất lượng
chất hữu cơ đất và sự tích lũy và chuyển hóa các chất dinh dưỡng từ đất đến
cây trồng.
Sự thoái hóa đất thể hiện rất rõ ở các chỉ tiêu: đất ngày càng chua hơn,
các cation kiềm, độ no bazơ, dung tích hấp thu giảm, hàm lượng mùn, các
chất dinh dưỡng tổng số và dễ tiêu, đa lượng, trung lượng và vi lượng trong
chất hữu cơ và các chất dinh dưỡng khác. Quá trình này thường xảy ra ở các vùng
đất phù sa hình thành trên phù sa cổ hoặc phù sa cũ và các vùng đồi thấp bị khai
phá sử dụng lâu đời mà đất không được bảo vệ, bồi dưỡng, thảm thực vật và cây
trồng phát triển kém, tạo sinh khối kém. Đất thoái hóa do bị bạc màu hóa thường
phổ biến ở các vùng ven rìa đồng bằng sông Hồng thuộc các bậc thềm phù sa cổ và
cũ, không còn chịu ảnh hưởng bồi đắp phù sa sông và có một quá trình lâu đời
canh tác lúa nước và hoa màu lạc hậu: cấy chay, bừa chùi, thiếu nước.
(5) Quá trình sa mạc hóa
Khô hạn, sa mạc hóa được coi là sự thoái hóa đất trong điều kiện khô hạn,
bán khô hạn hay vùng thiếu ẩm do các nguyên nhân khác nhau hoặc do sự thay
đổi về khí hậu, hoặc do hoạt động của con người. Chỉ tiêu quan trọng để xác
định mức độ sa mạc hóa là tỷ lệ lượng mưa hàng năm so với lượng bốc thoát
hơi tiềm năng trong giới hạn từ 0,05 đến 0,65 (theo Công ước của Liên Hiệp
Quốc về Chống Sa mạc hóa). Do biến đổi lớn về khí hậu trong tỉnh và khu vực
và môi trường trong những năm gần đây, hạn hán nghiêm trọng đã xảy ra ở
nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đã thúc đẩy sự thoái hóa đất theo
xu hướng sa mạc hóa. Hiện tượng sa mạc hóa thể hiện rõ nhất trên đất trống đồi
núi trọc (ĐTĐNT) không còn lớp phủ thực vật và địa hình dốc, chia cắt, nơi có
lượng mưa thấp: 700 - 800 mm, 1.500 mm/năm, lượng bốc thoát hơi tiềm năng
đạt 1.000 - 1.800 mm/năm.
(6) Quá trình mặn hóa
Nhìn chung đất bị mặn hóa sẽ không thể sản xuất nông nghiệp với các loại
hình sử dụng đất trồng các loại cây lương thực, thực phẩm hoặc cây ăn quả như
14