Vận dụng kiến thức về cơ quan sinh sản vào việc sử dụng các biện pháp tránh thai cho học sinh
khối 9
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Chữ viết tắt
GV
HS
SGK
GP
SKKN
THCS
TB
NST
PHT
TTKC
GDGT
VTN
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ........................................................................................4
1.1 Đặc điểm tâm lý của lứa tuổi vị thành niên................................................................5
1.2. Nhận thức của học sinh trường THCS Đại Hùng về GDGT...................................7
1.3. Tìm hiểu về cơ quan sinh sản.......................................................................................7
1.4 Các biện pháp tránh thai.............................................................................................13
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ................................................................................................18
2.1. Thuận lợi.......................................................................................................................18
2.2. Khó khăn.......................................................................................................................18
3.1. Tích hợp các bài dạy có nội dung liên quan.............................................................20
3.2. Tổ chức trò chơi tìm hiểu về các biện pháp tránh thai vào các giờ học...............21
3.3. Một số ví dụ về thiết kế bài giảng có nội dung vận dụng kiến thức sinh sản vào
việc sử dụng các biện pháp tránh thai.............................................................................22
PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................30
1. KẾT LUẬN.......................................................................................................................30
2. KIẾN NGHỊ......................................................................................................................30
Vận dụng kiến thức về cơ quan sinh sản vào việc sử dụng các biện pháp tránh thai cho học sinh khối 9
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Hiện nay, tỷ lệ giáo dục giới tính trong trường học tại Việt Nam rất thấp (chỉ
có khoảng 0.3% trường Trung học phổ thông có đưa giáo dục giới tính vào giảng
dạy cho học sinh, còn ở THCS tỷ lệ này còn thấp hơn nhiều). Thiếu hụt kiến thức
về giới tính và kỹ năng sống là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến số lượng mang thai ở
tuổi vị thành niên ngày càng tăng cao. Điều này ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe
và khả năng học tập của thanh thiếu niên.
Theo Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, bình quân mỗi năm có khoảng
300.000 ca nạo phá thai ở độ tuổi 15-19 trong đó 80-90% là học sinh, sinh viên cao
nhất so với các nước Đông Nam Á và thứ 5 thế giới, và tỷ lệ vị thành niên có thai
những cái chết thương tâm bởi bản thân vướng vào con đường tình yêu, tình dục
quá sớm… không còn xa lạ. Đó là hệ quả tất yếu từ việc “xem nhẹ” chương trình
giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản trong trường học hiện nay. Chương trình
giáo dục giới tính hay bị bố mẹ né tránh cho rằng giáo dục giới tính là việc của nhà
trường. Nhưng thực tế hiện nay ở trường học, việc giáo dục giới tính chưa được
thực hiện đến nơi đến chốn nên học trò đang phải tiếp cận kiến thức một cách “nửa
vời”. Nếu như ở cấp tiểu học học sinh học về giới tính ở lớp 5 thì lên cấp Trung học
cơ sở, phải đợi tới lớp 8, giáo dục giới tính mới trở lại, chủ yếu nằm ở môn sinh
học như cơ quan sinh dục nam/nữ, thụ tinh/thụ thai và phát triển thụ thai, cơ sở
khoa học của các biện pháp tránh thai.
Tuy nhiên, đúng là cách tiếp cận vấn đề giới tính hiện chưa hấp dẫn và vẫn
mang nặng kiến thức khoa học nhiều hơn là tâm lý. Vì thế, học sinh càng học thì
càng tò mò. Chẳng hạn sau khi cô giáo dạy “quá trình tinh trùng kết hợp với trứng
được gọi là sự thụ tinh. Trứng đã được thụ tinh gọi là hợp tử", đa phần các em thắc
mắc tiếp… “làm thế nào để tinh trùng gặp được trứng?”.
Từ tất cả những lí do trên tôi mạnh dạn đưa ra đề tài: “ Vận dụng kiến thức về
cơ quan sinh sản vào việc sử dụng các biện pháp tránh thai cho học sinh khối 9”
II. Ý NGHĨA THỰC TIỄN
Kết quả nghiên cứu giúp học sinh THCS có nhận thức sâu sắc về cơ quan sinh
dục cũng như trang bị kĩ lưỡng cho các em hành trang các biện pháp tránh thai.
Nhận thức được hậu quả của việc sinh con ngoài mong muốn sẽ giúp các em
có nhận thức đúng đắn về lối sống không lành mạnh và tìm cách tránh xa .
III. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Mục đích của đề tài
- Trang bị kiến thức đầy đủ về cơ quan sinh sản ở nam và nữ. Cung cấp đầy đủ
chi tiết các biện pháp tránh thai cả về kiến thức và cách sử dụng.
3.2. Nhiệm vụ của đề tài:
- Phải làm cho học sinh nhận thức tốt và rõ ràng hơn về việc giáo dục giới tính
ở lứa tuổi vị thành niên. Bởi vì khi các em càng hiểu rõ về việc giáo dục giới tính
thì việc giáo dục giới tính mới mang tính hiệu quả thiết thực và xóa bỏ những suy
SKKN.
3/34
Vận dụng kiến thức về cơ quan sinh sản vào việc sử dụng các biện pháp tránh thai cho học sinh khối 9
PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ.
Hiểu một cách đầy đủ, vấn đề giáo dục giới tính bao gồm rất nhiều nội dung,
như sức khỏe sinh sản, các mối quan hệ cá nhân, sự phát triển giới tính, tình cảm...
Để có được những kết quả khả quan, các chương trình giáo dục giới tính phải được
nghiên cứu kỹ lưỡng, diễn ra trong quá trình lâu dài và đây vẫn là vấn đề rất nhạy
cảm, tồn tại những quan điểm khác nhau.
Một số ý kiến cho rằng, nếu cung cấp cho học sinh những thông tin và giúp
chúng phòng ngừa thai cũng như các bệnh lây truyền qua đường tình dục sẽ đẩy các
học sinh này vào hoạt động tình dục sớm và bừa bãi. Nhiều ý kiến khác "tẩy chay"
việc đưa giáo dục giới tính vào trường học, coi giáo dục giới tính là "con dao hai
lưỡi".
Trong sự phát triển mạnh mẽ của xã hội hiện nay thì sự hiểu biết cơ bản về
giới tính của mỗi người có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là kiến thức không thể thiếu
để mỗi người tự bảo vệ sức khỏe của mình và của cộng đồng; biết quan hệ, ứng xử
với người khác phù hợp với chuẩn mực giới tính và đạo đức xã hội, đồng thời biết
bảo vệ hạnh phúc gia đình, duy trì nòi giống, phòng chống các bệnh xã hội…
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), tuổi vị thành niên là giai đoạn từ 10 – 19
tuổi, nằm trong khoảng thời gian từ lúc dậy thì đến lúc trưởng thành. Ở nước ta có
50% dân số dưới 20 tuổi, trong đó 20% có độ tuổi từ 10-19, tức là khoảng 15 triệu
người thuộc lứa tuổi vị thành niên. (Giáo dục dân số – sức khỏe sinh sản vị thành
niên – Bộ giáo dục và đào tạo – ủy ban dân số, gia đình và trẻ em – Hà Nội – 2005,
tr.37)
(UNICEF)và Quỹ Dân số liên hợp quốc (UNIFRA) đã thống nhất phân loại nam nữ
còn trẻ thành 3 loại như sau:
- Vị thành niên (Adolescent): 10 tuổi – 19 tuổi.
- Thanh niên (Youth): 15 tuổi – 24 tuổi.
- Người trẻ (yong people): 10 tuổi – 24 tuổi.
Với định nghĩa trên, VTN chiếm 20% dân số thế giới. Trong khi khái niệm
thanh niên khác nhau theo từng nền văn hóa thì toàn thế giới ngày càng nhất trí
rằng tuổi VTN là một giai đoạn khác biệt và quan trọng trong cuộc sống con người.
Trong nghiên cứu này thì chủ yếu chú yếu đến VTN ở lứa tuổi từ 11-14 tuổi
(đang học THCS). Đây là lứa tuổi đang và đã ở giai đoạn dậy thì, là giai đoạn thay
đổi một cách toàn diện về tâm sinh lý và tình cảm ở mỗi cá nhân.
1.1.1 Về thể chất
Thời kí dậy thì ở tuổi VTN trong giai đoạn này diễn ra sự thay đổi mạnh mẽ về
thể chất như: sự thay đổi của cơ thể, phát triển và hoàn thiện về chiều cao, cân
nặng… Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ công bố trên tạp trí Nhi khoa
của Mỹ cho biết tuổi dậy thì của trẻ em gái ngày càng đến sớm hơn. Tuy nhiên ở
nước ta độ tuổi dậy thì của các em thường chậm hơn 1-3 năm so với thế giới. Các
em gái thường dậy thì vào khoảng 8-13 tuổi, bé trai khoảng 9 -14 tuổi (theo
http://bacsynhikhoa.weebly.com).
5/34
Vận dụng kiến thức về cơ quan sinh sản vào việc sử dụng các biện pháp tránh thai cho học sinh khối 9
* Dậy thì ở bé gái
• Quá trình này thường bắt đầu khi các bé được 10,5 tuổi.
• Dấu hiệu đầu tiên là ngực phát triển. Ngực nhú lên thành những cục nhỏ
dưới núm vú, ở một hoặc cả hai bên. Những cục này có thể cứng và có kích thước
khác nhau. Thời điểm này trẻ thường bắt đầu cao nhanh.
• Sau khoảng 6 tháng, lông mu xuất hiện (mặc dù ở một số trẻ, mọc lông mu
Vận dụng kiến thức về cơ quan sinh sản vào việc sử dụng các biện pháp tránh thai cho học sinh khối 9
1.1.2. Về tâm lý
Cùng với sự phát triển về sinh lý, thể chất của tuổi dậy thì, sự biến đổi về tâm
lí cũng diễn ra hết sức đa dạng và phức tạp. Xuất hiện nhiều cảm xúc về giới tính
được bộc lộ ra mà trước đây chỉ ở dạng tiềm năng. Xuất hiện nhiều những thắc
mắc, lo lắng băn khoăn trước sự biến đổi của cơ thể.
Trong thời kì này, do hệ thống tuần hoàn máu nảy sinh hiện tượng mâu thuẫn
tạm thời, cụ thể là tim của các em phát triển mạnh nhưng mạch phát triển chậm hơn
gây trở ngại khiến cho tim hoạt động không đều. Hậu quả làm cho các em gái trở
nên đa cảm, hay căng thẳng mệt mỏi đôi lúc hoa mắt chóng mặt; dễ trở nên cáu gắt,
cảm xúc tiêu cực….
Tính cách đặc trưng ở lứa tuổi VTN là tính trẻ con và tính người lớn pha trộnmột người lớn chưa đủ chin chắn, thích bắt chước người lớn nhưng lại không có
trách nhiệm của người lớn, chuẩn bị làm người lớn nhưng chống đối và bỡn cợt cả
người lớn. Chính vì tính cách đó mà VTN luôn muốn thử sức, luôn muốn tự khẳng
định, thích mạo hiểm nhưng một khi gặp khó khăn, đau buồn hay thất bại lại chưa
đủ bản lĩnh để lí giải, chống chọi và vượt qua, cho nên nhiều khi rơi vào trạng thái
khủng hoảng tâm lí, mất cân bằng, không làm chủ được bản thân…
Những nét cơ bản về tâm sinh lí tuổi VTN sẽ giúp chúng ta nhận biết rõ hơn
về những thay đổi của VTN nói chung và học sinh THCS nói riêng. Đặc biệt, đối
với đề tài nghiên cứu này, việc hiểu biết rõ ràng và khoa học là một điều quan trọng
và cần thiết cho việc phân tích các kết quả nghiên cứu sau này.
1.2. Nhận thức của học sinh trường THCS Đại Hùng về GDGT
Khi hỏi 197 học sinh trường THCS Đại Hùng có biết về GDGT không thì
98,4% (195/197) học sinh trả lời là có. Đây là điều có thể lí giải được vì chương
trình GDGT đã được lồng ghép vào môn Sinh học và Giáo dục công dân trong nhà
trường THCS. Nhà trường thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên truyền về
giáo dục giới tính. Mặc dù nội dung lồng ghép khá ít nhưng học sinh đã biết, đã
nghe và đã được học về GDGT. Ngoài ra, hiện nay cụm từ GDGT đã được đề cập
Vận dụng kiến thức về cơ quan sinh sản vào việc sử dụng các biện pháp tránh thai cho học sinh khối 9
da chùng và nhăn nheo, được treo ở gốc dương vật gọi là bìu (hay bao tinh hoàn).
Bìu có tính co giãn, để duy trì nhiệt độ thích hợp với tinh hoàn, nếu gặp nhiệt độ
nóng thì bìu hạ xuống xa cơ thể cho mát và khi lạnh thì co lên cho ấm.
Cũng giống như dương vật, tinh hoàn của mỗi người mỗi khác, có thể lớn hay
nhỏ hơn kích thước trung bình một chút hoặc có thể ở người này thì sa xuống thấp
còn của người kia lại dâng lên cao. Thường thì hai bên tinh hoàn không đều nhau,
bên cao bên thấp hoặc bên lớn bên nhỏ hơn một chút. Điều này hoàn toàn bình
thường, không ảnh hưởng gì đến chức năng của hai tinh hoàn cả.
Trong mỗi tinh hoàn được chia thành nhiều thuỳ bằng các vách xơ, trong mỗi
thuỳ lại có nhiều ống nhỏ ngoằn nghèo được gọi là ống sinh tinh. Mỗi tinh hoàn có
khoảng 900 ống sinh tinh, mỗi ống dài 5m, tiếp nối với ống sinh tinh là ống mào
tinh hoàn. Ống này có chiều dài 6m và được tiếp nối bởi ống dấn tinh.
Tinh hoàn được coi là "nhà máy" sản xuất ra tinh trùng. Mỗi ngày, hai tinh
hoàn của một người đàn ông trẻ tuổi có khả năng sản sinh khoảng 120 triệu tinh
trùng. Một lượng nhỏ được dự trữ trong mào tinh hoàn nhưng phần lớn tinh trùng
được dự trữ ở ống dẫn tinh. Tại nơi dự trữ chúng có thể duy trì khả năng thụ tinh
trong khoảng thời gian tối thiểu là một tháng.
Bên cạnh đó, tinh hoàn còn có một chức năng quan trọng khác là bài tiết
hormon sinh dục nam (chủ yếu là Testosteron), quyết định các đặc tính của giới
nam và điều khiển hoạt động của hệ sinh dục.
1.3.2. Đặc điểm, cấu tạo bộ máy sinh dục Nữ.
+ Cấu tạo bên ngoài bao gồm:
* Âm hộ
Còn gọi là cửa mình, là phần ngoài của bộ phận sinh dục nữ gầm có âm vật và
đôi nếp gấp của da gọi là âm môi (gồm môi lớn và môi nhỏ). Âm hộ nằm ngay dưới
xương mu, được bao phủ bằng lông ở phía trên và xung quanh.
* Âm vật:
Là một phần của âm hộ nằm ngay dưới xương mu, phía trong các nếp môi.
Âm đạo là một phần của cơ quan sinh dục nữ, có hình ống cấu tạo bằng cơ,
nơi nối cổ tử cung với bộ phận sinh dục ngoài. Âm đạo dài từ 7 đến 10 cm, thành
sau hơi dài hơn thành trước cừng vài cm, bình thường nó là một ống hơi dẹp, bề
mặt trong thành cơ có nhiều nếp gấp và nhiều mạch máu. Các thành cơ thường áp
vào nhau trừ lúc giao hợp và sinh con, khi đó thành âm đạo có thể giãn nở rộng để
đứa bé có thể đi qua. Âm đạo chị ảnh hưởng của các nội tiết tố nữ nên thường ẩm,
do các chất dịch tiết ra từ cổ tử cung và buồng tử cung. Nó còn là nơi chứa dương
vật khi giao hợp và dẫn máu kinh nguyệt ra ngoài khi hành kinh.
Cửa vào âm đạo ở phía dưới lỗ niệu đạo ( tức đường bài tiết của nước tiểu, nó
trực tiếp thông với bọng đái) khoảng chừng 2 cm, được che chắn bởi màng trinh.
* Cổ tử cung:
Là bộ phận giống như một cái nút chai tròn hình nấm với một lỗ tròn ở giữa,
ăn thông với bên trong tử cung. Nó được xem như một nơi chống mọi tác nhân bên
ngoài xâm nhập vào tử cung. Có nhiều trường hợp tinh trùng không qua được cổ tử
cung dẫn đến tình trạng vô sinh. Buồng tử cung hoàn toàn vô khuẩn là nơi trú ngụ
của bào thai từ lúc còn trong thời kỳ trứng thụ tinh cho đến ngày ra đời.
10/34
Vận dụng kiến thức về cơ quan sinh sản vào việc sử dụng các biện pháp tránh thai cho học sinh khối 9
Lỗ trong và lỗ ngoài tử cung được nối với nhau tạo thành ống cổ tử cung, hai
lỗ cổ tử cung này trong một chu kỳ kinh nguyệt sẽ có hai lần mở ra: một là thời kỳ
kinh nguyệt của người phụ nữ để máu kinh có thể thoát ra ngoài. Lần thứ hai là vào
khoảng thời gian trứng rụng là giữ chu kỳ kinh để đón tinh trùng và tạo điều kiện
tốt nhất cho tinh trùng có thể bơi sâu vào bên trong.
* Tử cung:
Là một bộ phận có hình trái lê lộn ngược, tiếp giáp với âm đạo, nằm giữa bọng
đái và ruột già. Phần rộng ở trên mở vào hai vòi trứng, phần thấp và hẹp hơn ở dưới
mở vào âm đạo bằng cổ tử cung
trong gần tám tuần khi bên trái, khi bên phải của buồng trứng. Do đó, cứ bốn tuần
là có một trứng trưởng thành rụng.
Lúc trứng có thể thụ tinh là lúc tế bào trứng và nang trứng đã trưởng thành.
Vào thời điểm này nang trứng sẽ vỡ và đẩy một trứng trưởng thành sẽ rụng vào ổ
bụng. Việc nang trứng này vỡ gắn liên với việc tăng thân nhiệt một cách tức thì.
1.3.3. Thụ thai và mang thai.
* Sự thụ tinh.
Sau phóng tinh, nhờ sự di động của tinh trùng cùng với sự co bóp của tử cung
và vòi tử cung dưới tác dụng của prostaglandin , di chuyển qua tử cung đến vòi tử
cung. Sau mỗi lần giao hợp, tại âm đạo có khoảng nửa tỷ tinh trùng nhưng chỉ có
khoảng vài nghìn tinh trùng di chuyển đến được vòi tử cung.
Sự thụ tinh thường xảy ra ở khoảng 1/3 ngoài của vòi tử cung. Tinh trùng
muốn xâm nhập vào trong noãn, trước hết phải xuyên qua được lớp tế bào hạt bao
quanh noãn để tiến tới vỏ ngoài của noãn. Sau đó tinh trùng phải gắn và xuyên qua
được màng trong suốt.
* Trứng đã thụ tinh và di chuyển vào buồng tử cung.
Sau khi thụ tinh, trứng phải mất từ 3 – 4 ngày để di chuyển vào buồng tử cung.
Trứng di chuyển được vào tử cung là nhờ dịch vòi tử cung, hoạt động của tế bào
lông rung ở vòi tử cung, tác dụng giãn vòi tử cung ở đoạn sát với tử cung của
progesteron.
Trong quá trình di chuyển, trứng được nuôi dưỡng bằng dịch của vòi tử cung
và thực hiện nhiều giai đoạn của quá trình phân chia. Khi tới tử cung trứng đã được
phân chia được gọi là phôi thai với khoảng một trăm tế bào.
Vì một lý do nào đó, trứng đã thụ tinh không di chuyển vào buồng tử cung (ví
dụ do viêm tắc vòi tử cung), trứng có thể phát triển ngay tại vòi tử cung hoặc rơi
vào ổ bụng. Những trường hợp này được gọi là chửa ngoài tử cung. Nếu không
12/34
Tác dụng chủ yếu của loại thuốc này là ức chế tuyến yên bài tiết FSH và LH
do đó ức chế phóng noãn. Ngoài ra, viên thuốc kết hợp con có tác dụng làm tiết
dịch nhầy cổ tử cung ít và đặc đồng thời làm niêm mạc tử cung biến đổi thành niêm
mạc chế tiết giả. Loại thuốc này có hiệu quả tránh thai cao. Tuy nhiên, với liều
dùng hàng ngày cũng gây phiền phức cho người sử dụng, đặc biệt với phụ nữ nông
thôn.
1.4.2. Viên progestin liều thấp.
Tác dụng của loại này là làm giảm tiết dịch nhầy tử cung, ngăn cản tinh trùng
di chuyển vào tử cung. Đồng thời nó cũng có tác dụng làm teo mỏng niêm mạc tử
cung do vậy ảnh hưởng đến quá trình làm tổ trong niêm mạc tử cung.
1.4.3. Viên tránh thai khẩn cấp ( TTKC ).
Thế nào là viên tránh thai khẩn cấp? Viên TTKC là phương pháp sử dụng
hormon để chống thụ thai, có thể được dùng để tránh thai sau khi có quan hệ tình
dục không bảo vệ.
Cơ chế tác dụng của viên TTKC: Hiếm khi sự thụ thai diễn ra ngay sau khi
quan hệ tình dục mà có thể vài ngày sau phóng noãn, khoảng thời gian từ sau quan
hệ tình dục cho đến khi thụ tinh thì tinh trùng di chuyển lên vòi trứng để gặp trứng
(noãn) do đó có nhiều công đoạn để tác động bất lợi và việc dùng viên TTKC có
thể giúp phòng tránh có thai.
Phương thức tác dụng chính xác của viên TTKC còn chưa có được chắc chắn
nhưng có thể ngăn cản sự phóng noãn, sự thụ tinh và sự làm tổ.
Progestin ngăn cản tinh trùng tiếp cận được vòi trứng và làm cho trứng đã thụ
tinh không làm tổ được trong nội mạc tử cung. Hormon estrogen làm cho buồng
trứng không thể phóng noãn, do đó không có sự thụ tinh.Viên TTKC sẽ không còn
tác dụng nữa khi noãn thụ tinh đã bắt đầu quá trình làm tổ.Viên TTKC không gây
sảy thai và không có tác dụng có hại đến ( sự lớn lên và phát triển) của thai nghén
đã hình thành.
1.4.4. Bao cao su.
Bao cao su là túi nhỏ bằng chất liệu mỏng, mềm và nhạy cảm. Bao được làm
Một nhược điểm nữa là khi mang vòng, nếu bị viêm nhiễm đường sinh dục thì
viêm nhiễm có thể theo vòng lan lên trên gây viêm phần phụ và có thể gây chửa
ngoài tử cung. Vì vậy trước khi đặt vòng, cần khám phụ khoa để nếu có viêm
nhiễm thì chữa khỏi trước khi đặt vòng. Nếu trong thời gian mang vòng mà thấy
triệu chứng viêm nhiễm như dịch âm đạo vàng, xanh, ra nhiều, có mùi hôi khó
chịu, âm hộ ngứa ngáy hãy đi khám ngay để được chữa trị.
1.4.6. Đình sản ở nữ ( triệt sản):
Triệt sản nữ là biện pháp tránh thai vĩnh viễn, không hồi phục. Triệt sản nữ là
thắt và cắt bỏ một đoạn ống dẫn trứng (2 bên) và như vậy làm cho trứng không gặp
15/34
Vận dụng kiến thức về cơ quan sinh sản vào việc sử dụng các biện pháp tránh thai cho học sinh khối 9
và kết hợp với tinh trùng được. Đây có thể nói là biện pháp tránh thai có hiệu quả
ngừa thai cao nhất khoảng 99,7%.
Nữ giới thì được cắt và thắt hai ống dẫn trứng nên trứng bị chặn lại, không thể
gặp tinh trùng và đi đến tử cung được. Việc thực hiện triệt sản cho nữ giới phức tạp
hơn nam giới.
Đây là biện pháp tránh thai thích hợp với các cặp vợ chồng đã đủ số con mong
muốn, thật sự không còn muốn có thai cũng như những cặp vợ chồng vì vấn đề sức
khỏe không thể mang thai như tim mạch, tâm thần...
Do đây là biện pháp tránh thai không hồi phục cho nên cần phải suy nghĩ cẩn
thận trước khi quyết định.
1.4.7 Triệt sản nam:
Triệt sản nam là thắt và cắt một đoạn ống dẫn tinh (hai bên) làm cho không có
tinh trùng phóng vào âm đạo để thụ thai. Đây cũng là biện pháp mang lại hiệu quả
tránh thai cao, có thể đạt tới 99,5%.
Đối với nam giới, bác sĩ làm tiểu phẫu thuật để thắt và cắt hai ống dẫn tinh để
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
2.1. Thuận lợi
- Giáo dục giới tính cho thế hệ trẻ, đặc biệt là học sinh đang là vấn đề được
quan tâm hiện nay. Đây cũng là một nhu cầu cần thiết của lứa tuổi vị thành niên.
- Đối tượng chủ yếu của đề tài là độ tuổi 15-16. Ở độ tuổi này, nhận thức của
các em đã có sự thay đổi so với trước đây. Các em bắt đầu có nhu cầu hiểu biết,
nhận thức chọn lọc về các vấn đề trong cuộc sống, đặc biệt là vấn đề tâm sinh lý.
Đây chính là cơ sở tốt để giáo dục cho các em nhận thức về việc chăm sóc sức khỏe
nói chung, sức khỏe sinh sản nói riêng.
- Nhà trường là nơi thuận lợi để tiến hành giáo dục cho thanh thiếu niên thông
qua các môn học, các hoạt động chung.
- Ngoài ra, hiện nay các thông tin về bảo vệ sức khỏe, sức khỏe sinh sản đã
được phổ biến hơn, được thể hiện dưới nhiều hình thức đa dạng, cập nhật: Sách,
báo, tranh ảnh, phim truyện, internet…
2.2. Khó khăn
- Giáo dục sức khỏe, đặc biệt là giáo dục giới tính hiện nay được đề cập khá
nhiều trên mọi phương tiện thông tin. Việc chọn lọc nguồn thông tin tích cực không
phải dễ dàng đối với đối tượng thanh thiếu niên.
- Thei suy nghĩ của người phương Đông thì vấn đề giới tính vẫn còn khá nhạy
cảm, đòi hỏi phải cẩn trọng khi đề cập đến vấn đề tế nhị này.
- Giáo viên có chuyên môn nhưng khả năng diễn giảng vè vấn đề sức khỏe
sinh sản còn hạn chế do không được đào tạo sâu về nội dung này.
- Thời lượng lồng ghép hạn chế trong 45 phút, do đây không phải là nội dung
chính của bài học.
* Số liệu điều tra ban đầu
Năm học 2015-2016, tôi trực tiếp giảng dạy và thực hiện đề tài tại khối 9.
Qua khảo sát chất lượng đầu năm vào ngày 18/8/2015 tại lớp 9A và ngày
21/8/2015 tại lớp 9B tôi thu được kết quả như sau: Tổng số học sinh của 2 lớp là 48
em
22,2
31,5 13
Tổng
48
22,4
17,7
35,9 15,7
Kém
8,3
8,3
8,3
- Số học sinh khá giỏi chỉ đạt 40,1%, trong khi đó số học sinh trung bình yếu
là 51,6% chiếm tỉ lệ khá cao và học sinh kém vẫn có 8,3%.
Trước tình hình thực tế trên tôi đã nghiên cứu và áp dụng đề tài này vào
quá trình giảng dạy môn sinh khối 9.
Khảo sát về thái độ học sinh khi đề cập đến vấn đề giáo dục giới tính khối 9 (48
học sinh)
Thái độ của học sinh khi đề cập đến vấn đề giáo dục giới
Tỉ lệ %
tính
Rất hứng thú
81,2
Hứng thú
11,8
Còn sự e ngại
7
Qua kết quả trên cho thấy đa phần học sinh khối 9 đã sẵn sàng tìm hiểu về các
vấn đề liên quan tới giới tính.
số lượng NST
được:
- Ở người sự bất thường nhiễm sắc thể ở
thai nhi như thai thể ba, thể một, … có
thể gây ra sẩy thai.
- Các hội chứng Đao, Tơcnơ, Claiphentơ,
siêu nữ là đột biến dạng lệch bội, đặc
biệt lưu ý cho học sinh biết tỉ lệ xuất
hiện hội chứng Đao ở con tăng lên cùng
tuổi người mẹ khi sinh đẻ, vì vậy phụ nữ
không nên sinh con khi tuổi ngoài 35.
Bài 28. Phương Cung cấp kiến thức cho học sinh biết
pháp nghiên cứu một số bệnh tật di truyền ở người như
20/34
Phương thức tích
hợp và gợi ý
phương pháp dạy
học
- Phương thức:
Tích hợp.
- Phương pháp:
Phát vấn – gợi mở.
- Phương thức:
Tích hợp.
- Phương pháp:
+ Thảo luận nhóm.
+ Giải quyết vấn
cho học sinh thấy việc cần thiết phải tư
vấn trước khi lập gia đình và sinh con,
đặc biệt là ở những người có bệnh tật và
di truyền
- Một số bệnh tật có thể lây qua đường
tình dục do đó cần bảo vệ bằng cách khi
quan hệ sử dụng bao cao su.
-Phương pháp:
+ Thảo luận nhóm
để trả lời âcu hỏi
“Tại sao trong luật
hôn nhân có điều
khoản cấm kết hôn
gần?”.
+ Liên hệ thực tế.
-Phương thức: tích
hợp.
-Phương pháp:
+ Liên hệ thực tế.
+Phát vấn và diễn
giải.
3.2. Tổ chức trò chơi tìm hiểu về các biện pháp tránh thai vào các giờ học.
3.2.1 Trò chơi bịt mắt đoán đồ vật
Cách tiến hành: Giáo viên chuẩn bị sẵn các dụng cụ cần thiết như bao cao su,
thuốc tránh thai, que thử thai, dụng cụ tử cung vào trong một cái hộp lớn chỉ khoét
một ô nhỏ vừa tay thò vào. Sau đó bịt mắt học sinh lại và bắt đầu chơi.
Luật chơi: Chọn ra hai người chơi. Mỗi người đoán một hộp. Mỗi lần chơi chỉ
lấy một đồ vật sau đó đoán tên đồ vật đó. Trong vòng 2 phút xem bạn nào đoán
+ Xác định thực chất của quá trình thụ tinh.
+ Phân tích được ý nghĩa của các quá trình giảm phân và thụ tinh về mặt di
truyền, biến dị
2. Kĩ năng: Rèn luyện cho HS kĩ năng quan sát, phân tích kênh hình và hoạt
động nhóm
3. Thái độ: Giáo dục cho HS ý thức nghiên cứu khoa học
4. Định hướng: Hình thành và phát triển cho HS các năng lực: Năng lực sử
dụng ngôn ngữ, tự học, tư duy sáng tạo, kiến thức sinh học, tự quản lí
II. CHUẨN BỊ
1. Chuẩn bị của thầy: Các biện pháp tránh thai, trò chơi thực tập cách sử
dụng bao cao su
2. Chuẩn bị của trò: Mỗi nhóm chuẩn bị theo phân công:
22/34
Vận dụng kiến thức về cơ quan sinh sản vào việc sử dụng các biện pháp tránh thai cho học sinh khối 9
+ Nhóm 1 : Tìm hiểu sự giống và khác nhau giữa phát sinh giao tử đực và cái.
+ Nhóm 2 : Vẽ một bức tranh hoặc sưu tầm một hình ảnh minh họa về hậu quả
của việc không thực hiện kế hoạch hóa gia đình.
+ Nhóm 3 : Soạn và đóng vai một đoạn kịch ngắn về hậu quả của việc có thai
ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên.
+ Nhóm 4 : Sưu tầm tư liệu để hoàn thành PHT:
Biện pháp tránh thai
Tác động
III. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY – HỌC
1. Ổn định tổ chức: Kiểm tra sĩ số (1 phút)
2. Kiểm tra bài cũ: (4 phút)
Trình bày sự thay đổi hình thái của NST trong quá trình giảm phân.
- GV yêu cầu các nhóm thảo I qua GP I cho 1 qua giảm ngôn ngữ
23/34