CHUYÊN ĐỀ: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP
TRÁNH THAI TẠI HẢI PHÒNG NĂM 2015
I.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Để thực hiện tốt các biện pháp tránh thai là bộ phận quan trọng làm giảm tỷ
lệ phát triển dân số trong chiến lược dân số kế hoạch hóa gia đình và phát
triển đất nước, là một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng
cuộc sống. việt năm cũng như nhiều quốc gia đang phát triển khác, tỷ lệ phát
triển dân số còn cao, thu nhập bình quân đầu người thấp, dưới mức nghèo
theo tiêu chuẩn quốc tế. Thực tế cho thấy một quốc gai, nếu chỉ tìm cách giải
quyết vấn đề kinh tế- xã hội mà không chú trọng đến việc thực hiện các biện
pháp tránh thai, kế hoạch hóa gia đình để giảm tỷ lệ phát triển dân số thì
cũng không nâng cao được chất lượng cuộc sống cho người dân va ngược
lại. ở việt năm công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được thực hiện từ
những năm 1960. Trải qua gần nửa thế kỉ, với quyết tâm cao của đảng, nhà
nước, với ý thức tự nguyện tham gia và đã đang trực tiếp thực hiện công
cuộc này, đến nay công tác dân số kế hoạch hóa gia đình đã đạt được những
kết quả đáng kể . nếu như đầu những năm 1960 bình quân một phụ nữ trong
đọ tuổi sinh đẻ 6,4 con , thì năm 1999 giảm xuống còn 2,3 con, đến năm
2009 còn 2,0 con, tiến tới đạt mức sinh thay thế vào giữa thế kỉ 21. Để giảm
được mức sinh, công tác kế hoạch hóa gia đình đã trở thành quốc sách.
Nghị quyết lần thứ tư của ban chấp hành trung ương đảng khóa VII về chính
sách dân số- kế hoạch hóa gia đình đã chỉ rõ; “ sự gia tang dân số quá nhanh
là một trong những nguyên nhân sâu xa, kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội
của đất nước, cản trở việc cải thiện đời sống của nhân dân và chất lượng
giống nòi. Do đó, song song với việc phát triển kinh tế đòi hỏi phải thực hiện
tốt các chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình đặc biệt là phải thực hiện
tốt các biện pháp tránh thai hiện đại và nâng cao kiến thức, thái độ, thực
Có sự khác nhau đáng kể giữa các khu vực về tỷ lệ chấp nhận tránh thai và
các quy mô hình sử dụng biện pháp tránh thai. Tổng tỷ lệ sử dụng biện pháp
ở khu vực các nước phát triển cao hơn so với những nước đang phát triển
( 72% so với 53%), các nước phát triển, sử dụng nhiều thuốc tránh thai, bcs
và những biện pháp như vật ngăn âm đạo hay biện pháp kế hoạch hóa gia
đình tự nhiên, so với khy vực phát triển, nơi người ta tin cậy nhiều hơn vảo
biện pháp triệt sản và DCTC.
Khu vực các nước đang phát triển, tỷ lệ chấp nhận tránh thai và tình hình sử
dụng biện pháp tránh thai cũng khác nhau một cách đáng kể. tổng tỷ lệ sử
dụng cao nhất là ở đông á ( kể cả trung quốc ) và mỹ la tinh, thấp nhất là ở
nam á và châu phi . đông á tin cậy rất nhiều vào triệt sản nữ, triệt sản nam và
DCTC. ở mỹ là tinh người ta lại tập trung vào triệt sản nữ vả thuốc uống
tránh thai mà hầu như không dung triệt sản nam, những khác biệt trong mô
hình sử dụng biện pháp giữa các khu vực có thể là những yếu tố khách hàng,
như sự ưa chuộng vì lý do văn hóa, phong tụcm tôn giáo..
II.3.
Tình hình sử dụng biện pháp tránh thai ở việt nam
ở việt nam tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai rất cao và tăng lên trong
khoảng thời gian 1988 - 1997. Có khoảng 60% phụ nữ có chồng trả lời đã
sử dụng các biện pháp tính vòng kinh và xuất tinh ra ngoài còn cao trong các
biện pháp. Phương pháp được sử dụng phổ biến nhất tại thời điểm của 3
cuộc điều tra 1988, 1994 và 1997 vẫn là DCTC. Năm 1997 có thới trên 1
nửa(56%) phụ nữ việt nam có chồng trong độ tuổi sinh đẻ nói rằng. họ đã
từng sử dụng DCTC một lúc nào đó trong cuộc đời . mặc dù những người đã
từng sử dụng DCTC tăng đáng kể giữa điều tra 1992 và 1997 tới 8%. Nhưng
cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại thành phố Hải Phòng”.
III.
BIỆN PHÁP TRÁNH THAI
Các biện pháp tránh thai là những biện pháp nhằm mục đích kiểm soát sự
thụ tinh để tránh sự có thai ngoài ý muốn sau giao hợp.
Có nhiều biện pháp tránh thai khác nhau, mỗi biện pháp có thể phù hợp với
một số người nhất định nhưng lại có thể không phù hợp với những người khác.
Nói chung, việc chọn lựa biện pháp tránh thai thường dựa vào các yếu tố sau
đây: an toàn, hiệu quả, không có tác dụng vĩnh viễn ( trừ triệt sản) và dễ sử
dụng.
Có rất nhiều cách để phân loại các biện pháp tránh thai nhưng chủ yếu
người ta phân loại theo 3 cách sau:
-
BPTT tự nhiên và BPTT nhân tạo
BPTT lâm sàng hoặc phi lâm sàng
BPTT cho Nam và Nữ
1
BPTT tự nhiên và BPTT nhân tạo
a
BPTT tự nhiên
BPTT tự nhiên là không sử dụng các bất kỳ các dụng cụ tránh thai nào.
- Ngừa thai nhân tạo tạm thời:
+ Dùng nội tiết: Thuốc ngừa thai chứa Estrogen và Progesteron đơn thuần hay
kết hợp; loại uống; loại tiêm; và loại cấy.
+ Tại chỗ:
Bao cao-su, màng ngăn âm đạo, mũ tử cung, thuốc diệt tinh trùng
Vòng dụng cụ tử cung ( IUD: Intra Uterine Device )
- Ngừa thai nhân tạo vĩnh viễn ( tuy vậy vẫn có thể phục hồi sau khi ngừng áp
dụng ):
+ Nữ thì thắt ống dẫn trứng
+ Nam thì thắt ống dẫn tinh.
2. BPTT lâm sàng và phi lâm sàng
a
BPTT lâm sàng
BPTT lâm sàng là biện pháp có sự can thiệp của cán bộ y tế bao gồm có:
vòng tránh thai, triệt sản nam, triệt sản nữ, thuốc tiêm tránh thai, thuốc cấy
tránh thai.
- Triệt sản là biện pháp chỉ làm một lần mà có tác dụng tránh thai mãi
mãi, khả năng sinh sản hầu như không thể phục hồi, hiệu quả rất cao (ở
nam giới là 99,6%). Nếu bạn đã có đủ số con mình mong muốn, lại
không có ý định kết hôn lần nữa thì đây là một biện pháp phù hợp. Triệt
-
ở nam giới là thắt ống dẫn tinh, còn ở nữ giới là thắt vòi dẫn trứng.
Thuốc tiêm tránh thai: Đây là hoóc môn progesteron, chỉ tiêm một lần
vào bắp. Progesteron sẽ tiết dần vào cơ thể, giúp bạn gái tránh thai
hoóc môn mà là một loại hoá chất có tác dụng diệt tinh trùng. Thuốc diệt tinh
trùng có nhiều dạng như bọt, kem, viên đặt. Cách sử dụng rất đơn giản:
Khoảng 15 phút trước khi giao hợp, người nữ đưa thuốc vào trong âm đạo, chú
ý phải đưa sâu đến tận cổ tử cung để thuốc lan ra khắp vùng cổ tử cung. Tinh
trùng gặp thuốc sẽ ngừng hoạt động.
- Viên uống tránh thai:
Thuốc uống tránh thai có 3 loại: thuốc uống tránh thai thông thường (loại có 2
hoóc môn), thuốc uống tránh thai chỉ có một hoóc môn và thuốc tránh thai
khẩn cấp.
+ Thuốc uống tránh thai thông thườngĐây là loại thuốc chứa hai thứ hoóc môn
sinh dục nữ (oestrogen và progesteron), dùng cho phụ nữ. Trên thị trường hiện
có nhiều nhãn hiệu như Choice, Rigevidon, Marvelon, Microgynon.
Thuốc có tác dụng cơ bản là điều chỉnh một chút các mức hoóc môn của cơ
thể, làm cho trứng không rụng. Ngoài ra, thuốc còn làm mỏng niêm mạc tử
cung để trứng nếu được thụ tinh thì cũng khó làm tổ, làm đặc chất dịch nút cổ
tử cung để cản tinh trùng đi qua, giảm sự di chuyển của tinh trùng trong ống
dẫn trứng. Thuốc có hiệu quả rất cao, khoảng 99%.
+ Thuốc tránh thai khẩn cấp
Nếu đã giao hợp mà không dùng biện pháp tránh thai nào thì bạn sẽ có khả
năng thụ thai. Trong trường hợp này, bạn có thể dùng thuốc tránh thai khẩn
cấp. Đối với những cặp “quên” không dùng bao, định xuất tinh ra ngoài mà
không kịp, hoặc đối với người bị hiếp dâm... đây là một biện pháp thích hợp.
Thành phần thuốc cũng là hoóc môn như thuốc uống tránh thai hằng ngày
nhưng liều lượng cao hơn nhiều, được dùng sau khi giao hợp “không có dự
phòng”. Nếu lúc đó trứng chưa rụng, thuốc sẽ ức chế sự rụng trứng. Nếu trứng
đã rụng và thụ tinh, thuốc cũng tác động đến niêm mạc tử cung khiến phôi khó
Vòng tránh thai hay dụng cụ tử cung là dụng cụ nhỏ làm bằng chất dẻo và đồng
được đặt vào trong tử cung.
Ưu điểm
– Có tác dụng lâu dài (5 – 10 năm).
– Dễ tháo ra nếu khách hàng muốn.
– Có hiệu quả tránh thai lên tới 98%.
Nhược điểm
– Có thể bạn cảm thấy hơi đau trong vài ngày đầu sau khi đặt dụng cụ tử cung.
– Ra máu kinh nhiều hơn hoặc kéo dài ngày hơn, nhưng thường giảm đi sau vài
tháng.
– Không phải ai cũng sử dụng được. Nếu không hợp, nó sẽ khiến bạn đau bụng,
đau lưng hoặc ra máu kinh nhiều, thậm chí gây thiếu máu.
– Khi mang vòng, nếu bạn bị viêm nhiễm đường sinh dục thì viêm nhiễm có thể
theo vòng lan lên trên, gây viêm phần phụ và có thể dẫn đến chửa ngoài tử
cung.
– Không giúp phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục và
HIV/AIDS.
Miếng dán tránh thai
Ưu điểm:
– Miếng dán tránh thai là một trong những biện pháp tránh thai đang được khá
nhiều chị em phụ nữ lựa chọn vì tính tiện dụng của nó. Miếng dán tránh thai là
một miếng dán có diện tích nhỏ, bao gồm 2 loại hormone estrogen và
progesterone, phóng thích hoạt chất qua da vào máu, có tác dụng ngừa thai
trong vòng 1 tuần.
Nhược điểm
– Thuốc làm teo niêm mạc tử cung nên có thể dẫn đến vô kinh hoặc rong kinh,
rong huyết.
– Các tác dụng phụ khác có thể là đau nhẹ ở vú, lợm giọng, buồn nôn. Các tác
dụng phụ kể trên thường xảy ra sau mũi tiêm đầu tiên.
– Sau khi ngừng thuốc, thời gian để có thai trở lại chậm hơn so với các loại
thuốc viên tránh thai uống trung bình từ 2 đến 4 tháng, có khi tới 6 tháng.
Que cấy tránh thai
Que cấy là phương pháp tránh thai dùng một hay các que nhỏ như que diêm
chứa hormone progesterone cấy vào dưới da. Sau khi được đưa vào cùng da
dưới cánh tay, các que cấy sẽ phóng thích dần dần lượng hormone vào cơ thể
tạo ra tác dụng ngừa thai kéo dài có thể lên đến 3 năm. Hormone sử dụng trong
que cấy tránh thai là progesterone: levonorgestrel hay etonogestrel. Số lượng
que cấy có thể từ 1 đến 6 que tùy loại.
– Các triệu chứng khác ít gặp hơn như đau đầu, chóng mặt, căng ngực, buồn
nôn… Các triệu chứng này thường thoáng qua hay giảm đi theo thời gian.
Bao cao su
Bao cao su là một dụng cụ có dạng hình trụ bằng màng mỏng – thường làm
bằng bao cao su và được lồng vào dương vật đã cương cứng khi có hoạt động
tình dục.
Ưu điểm
– Không đòi hỏi phải kê đơn hoặc khám bác sĩ.
– Giúp phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS.
Nhược điểm
– Làm gián đoạn hoạt động tình dục.
– Luôn phải có sẵn bao cao su trước khi có quan hệ tình dục.
– Một số người có thể bị dị ứng với cao su.
b BPTT cho nam giới
- Tất cả các đối tượng sử dụng các biện pháp tránh thai lâm sàng được
miễn toàn phần khi (PTTT, tiêu hao tiêu phí) có phiếu miễn phí do cán bộ dân
số xã, phường cấp.
- Trường hợp đối tượng sử dụng các phương tiện tránh thai lâm sàng theo
kênh thị trường không thuộc hướng dẫn này.
4.1.2 Phương tiện tránh thai phi lâm sàng
- Viên uống tránh thai, bao cao su tránh thai: Ngoài đối tượng được miễn
phí theo kế hoạch giao các đối tượng khác áp dụng theo kênh tiếp thị xã hội.
4.1.3 Phương tiện tránh thai tiếp thị xã hội nhãn hiệu NightHapyy
- Năm 2015, tiếp tục mở rộng tiếp thị xã hội các loại PTTT (bao cao su,
viên uống tránh thai nhãn hiệu NightHapyy), Chi cục DS-KHHGĐ thành phố
tiếp nhận từ Tổng cục DS-KHHGĐ cấp cho Trung tâm DS-KHHGĐ các quận,
huyện, chi tiết về tiếp thị xã hội thực hiện theo công văn số 842/SYTDSKHHGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2014 của Sở Y tế.
4.1.4 Đối tượng cấp miễn phí
Đối tượng ưu tiên cấp PTTT và đáp ứng dịch vụ KHHGĐ miễn phí là các
đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ là người trong hộ nghèo, cận nghèo; đối tượng
thuộc các xã vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa; người làm việc trên
biển trước khi đi biển dài ngày. Đối tượng này phải được phê duyệt của Ban
Dân số-KHHGĐ xã, phường, thị trấn năm 2015.
V.kết quả tiến độ thực hiện các biện pháp tránh thai tại thành phố Hải
Phòng từ tháng 1 tới tháng 12 năm 2014 và 2015.
Đơn vị
Toàn thành phố
Số người đặt vòng(2014)
Thực hiện
So KH(%)
23.290
Toàn thành phố
Số người mới cấy thuốc
TT (2014)
Thực hiện
So KH(%)
51
17
Số người mới cấy thuốc
TT (2015)
Thực hiện
So KH(%)
104
41,6
Nhận xét: trong năm 2015 số người sử dụng biện pháp đã tăng lên đáng kể từ
51 người năm 2015 tăng lên 104 người năm 2015 tuy nhiên tỷ lệ này vẫn rất
thấp so với chỉ tiêu đề ra như năm 2014 mới chỉ hoàn thành được 17% kế
hoạch và năm 2015 tuy có tăng nhưng cũng mới chỉ được 41,6 %
Đơn vị
Toàn thành phố
Sô người mới tiêm thuốc
TT (2014)
Thực hiện
So KH(%)
1.530
105,52
Số cặp vợ chồng sử dụng Số cặp vợ chồng sử dụng
thuốc uống TT (2014)
thuốc uống TT (2015)
Thực hiện
So KH(%)
Thực hiện
So KH(%)
Toàn thành phố
21.764
102.03
20.897
94.99
Nhận xét: biện pháp tránh thai bằng cách sử dụng thuốc uống TT cũng chiếm
1 tỷ lệ rất là lớn và đều đạt được những chỉ tiêu mà thành phố giao cho
Nhận xét chung: qua tất cả những kết quả ở phía trên đã cho chúng ta thấy
được khi mà xã hội ngày càng phát triển,điều kiện kinh tế cũng như nhận
thức của mỗi người được nâng cao, cùng với sự tiếp cận một cách dễ dàng
với các thông tin và dụng cụ tránh thai thì tỷ lệ người dân trong cộng đồng
đồng ý sử dụng các biện pháp tránh thai cũng được tăng lên một cách đáng
kể điều đó góp phần lớn trong sự thành công của công tác kế hoạch hóa gia
đình trong nước ta nói chung và tại hải phòng nói riêng.
VI. kiến nghị
Để thực hiện các chương trình DS – KHHGĐ ở địa phương có hiệu quả, nhằm
góp phần ổn định quy mô dân số. e có một số kiến nghị như sau :
1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền các cấp về công tác
DS – KHHGĐ. Xây dựng kế hoạch cụ thể ở các cấp nhằm thực hiện nghị quyết
của Đảng và chính quyền về công tác DS – KHHGĐ.
2. Tăng cường tập huấn nhằm nâng cao kiến thức và năng lực của đội ngũ
cộng tác viên và chuyên trách dân số.
3. Đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục nhằm thay đổi hành vi, đặc