ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay tình hình dân số trên thế giới nói chung và Việt Nam nói
riêng hết sức phức tạp và nóng bỏng, tỷ lệ phát triển dân số ở các nước đang
phát triển vẫn còn cao trong đó có Việt Nam.
Tình hình tăng dân số là vấn đề cả thế giới quan tâm và cũng là vấn đề
nóng bỏng của nhân loại, đặc biệt là các nước đang phát triển và kém phát
triển. điều này buộc toàn nhân loại xích lại gần nhau để cùng suy nghĩ cùng
hành động nhằm hạn chế sự gia tăng dân số tiến tới ổn định quy mô dân số,
đảm bảo sự phát triển bền vững ở mỗi quốc gia và ở cả hành tinh [27], [29].
Kế hoạch hóa sự phát triển dân số đang là nhiệm vụ hàng đầu và một
trong những nội dung của nhiều chính sách phát triển kinh tế - xã hội của
nhiều nước trên thế giới [28].
Qua tình hình phát triển dân số thế giới ta thấy tỉ lệ phát triển dân số rất
nhanh qua các thời kỳ: Thời gian ngày càng ngắn lại mà dân số thế giới lại
tăng nhanh chứng tỏ tỉ lệ phát triển dân số vẫn còn cao.
Nước ta, cũng như nhiều quốc gia đang phát triển khác, tỷ lệ phát triển
dân số còn cao, thu nhập bình quân đầu người còn thấp, dưới mức nghèo khổ
theo tiêu chuẩn quốc tế [28]. Thực tế cho thấy một đất nước chỉ tìm cách giải
quyết vấn đề dân số mà kinh tế - xã hội không phát triển hoặc phát triển kém
thì chất lượng cuộc sống người dân sẽ không được nâng cao. Ngược lại, nền
kinh tế phát triển mà dân số vẫn tăng cao thì thu nhập bình quân đầu người
cũng không thể tăng được. Công tác dân số là bộ phận quan trọng của chiến
lược phát triển đất nước, là một trong những yếu tố cơ bản nâng cao chất
lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội góp phần thực
hiện công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước [9], [11], [15].
Đảng và Nhà nước ta sớm nhận thức được sự gia tăng dân số quá nhanh
đã ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của
1
người dân. Nghị quyết Trung ương IV khóa 7 đã chỉ rõ: “Sự gia tăng dân số
quá nhanh là dân trong những nguyên nhân sâu xa kìm hãm sự phát triển kinh
Chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình (DS - KHHGĐ) ở Việt
Nam từ khi Chính phủ ban hành Quyết định đầu tiên số 216/CP ngày
26/12/1996 về việc sinh đẻ có hướng dẫn. Kể từ đó chương trình ngày càng
phát triển cả về quy mô, số lượng và chất lượng.
Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) là chủ động quyết định số con của
mỗi cặp vợ chồng và khoảng cách giữa các lần sinh [16], [26].
KHHGĐ là quyền và trách nhiệm của mỗi người, mỗi cặp vợ chồng.
Họ có quyền tự do quyết định KHHGĐ nhưng với ý thức, trách nhiệm đầy đủ
về số con trên cơ sở những thông tin và những hiểu biết cần thiết để thực hiện
KHHGĐ [16], [26].
Như vậy theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì
KHHGĐ bao gồm những thực hành giúp cho các cá nhân hay các cặp vợ
chồng đạt được những mục tiêu sau: tránh những trường hợp sinh không
mong muốn; đạt được những trường hợp sinh theo ý muốn; điều hòa khoảng
cách giữa các lần sinh chủ động sinh con phù hợp với tuổi bố mẹ [18].
Công tác DS - KHHGĐ ở vùng miền núi và dân tộc ít người, vẫn là
điều được cả xã hội quan tâm. Nếu mức tăng dân số trung bình ở người Kinh
hiện nay đã giảm xuống dưới 2% thì dân tộc ít người khác vẫn đang ở mức
thấp nhất là 2,9% đến 4%. Nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng dân số các
dân tộc ít người hàng năm tăng cao là do tăng dân số tự nhiên nhanh, trong đó
mức sinh hàng năm cao là chính [19], [20]. Trong những năm qua với chính
sách đổi mới, mở cửa, tăng cường xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ các dân tộc đặc
biệt khó khăn… của Đảng và Chính phủ đời sống kinh tế - xã hội của đồng
3
bào các dân tộc đã có nhiều thay đổi. Tuy vậy, trong lĩnh vực văn hoá tinh
thần như phong tục tập quán, hệ thống tín ngưỡng, quan hệ dòng họ lại
chưa biến đổi kịp, hoặc thay đổi không đáng kể. Cho đến nay các phong tục
tập quán vẫn chi phối nhiều đến đời sống hầu hết các dân tộc ít người. Đây là
vấn đề thách thức lớn đối với nhiều chủ trương chính sách của Đảng và Nhà
nước, trong đó có chính sách DS - KHHGĐ. Do đó, muốn thay đổi nhận thức
nhân dân cần được hướng dẫn chu đáo”.
Ngày 26 tháng 12 trở thành một mốc lịch sử quan trọng của Chương
trình dân số Việt Nam, ngày được coi là Việt Nam chính thức tuyên bố tham
gia Chương trình dân số toàn cầu, ngày đánh dấu sự khởi đầu về nhận thức
được ý nghĩa của mối quan hệ giữa dân số và phát triển trong tiếng chuông
báo động về tình hình gia tăng dân số quá nhanh trên thế giới [21], [22].
Trải qua hơn 45 năm triển khai thực hiện công tác dân số, đặc biệt kể từ
khi thực hiện Nghị quyết lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá 7
về chính sách DS - KHHGĐ. Công tác dân số đã đạt được những kết quả
quan trọng góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo
nâng cao chất lượng cuộc sống.
1.2. CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI [2], [3]
- Thực hiện tốt công tác KHHGĐ nhằm giảm tỷ lệ sinh hàng năm là
bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em (BMTE), sử dụng BPTT để tránh xảy ra những
trường hợp có thai ngoài ý muốn là hết sức cần thiết.
5
Các BPTT có thể chia thành các nhóm chính theo sơ đồ sau
Hình 1.1: Phân nhóm các biện pháp tránh thai
- Hiện nay có nhiều BPTT, mỗi biện pháp đều có ưu nhược điểm
riêng và cần lựa chọn thích hợp cho từng người, tuỳ theo hoàn cảnh tâm lý,
trình độ cũng như sức khoẻ để có thể lựa chọn thích hợp cho mỗi phụ nữ.
Để giúp cho các phụ nữ thực hiện KHHGĐ lựa chọn những BPTT thích
hợp nhất thì các nhà quản lý, cũng như các nhà chuyên môn cả chương
trình phải nắm được dữ liệu mới nhất về hiệu quả và độ an toàn các biện
pháp.
1.2.1 Dụng cụ tử cung (DCTC)
Dụng cụ tử cung hay thường gọi là vòng tránh thai. Ở Việt Nam, vào
những năm 1990 trở về trước hay dùng các loại vòng lyp, vòng Dana (vòng số
8), Tcu 200. Hiện nay có các vòng như: Tcu 380A, vòng Multiload….
6
+ Hiếm khi bị các tai biến trầm trọng.
* Không thuận lợi:
+ Đặt và lấy cần có cán bộ y tế được đào tạo và phải đến cơ sở y tế để
đặt.
+ Sau khi đặt DCTC thường có một số tác dụng phụ (như ra khí hư, rong
kinh, đau bụng, hoặc có thể có biến chứng tuy không nhiều nhưng cũng gây khó
chịu trong sinh hoạt lao động, có khi phải điều trị tại nhà hay ở bệnh viện).
1.2.2. Thuốc tránh thai
Bao gồm: thuốc uống, thuốc tiêm, thuốc cấy.
* Viên thuốc tránh thai kết hợp
+ Là biện pháp tránh thai tạm thời có chứa 2 loại hocmon estrogen và
progestin .
+ Hiệu quả: nếu sử dụng đúng và liên tục hiệu quả tránh thai trên 99%.
* Viên thuốc tránh thai chỉ có progestin
+ Giống như viên thuốc ngừa thai kết hợp, ngoài ra còn dùng được cho
phụ nữ cho con bú, những người lớn tuổi hút thuốc lá, bị tiểu đường, béo
phì,và cao huyết áp.
* Thuốc tiêm tránh thai DMPA
+ Là loại thuốc tránh thai có progestin liều 150 mg, tiêm 1 mũi có tác
dụng ngừa thai trong 3 tháng.
+ Là phương thức tránh thai có hiệu quả cao.
7
+ Ưu điểm:
Hiệu quả tránh thai cao (99,6%).
Có tác dụng lâu dài (tiêm 1 mũi giúp tránh thai 3 tháng).
Có những ưu điểm tương tự như thuốc viên tránh thai chỉ có progestin.
Giống như viên thuốc ngừa thai kết hợp, ngoài ra còn dùng được
cho phụ nữ cho con bú, những người lớn tuổi hút thuốc lá, bị tiểu
đường, béo phì và cao huyết áp.
Sử dụng được cho phụ nữ cho con bú.
- Triệt sản nữ bằng phương pháp thắt và cắt vòi tử cung là một phẫu
thuật làm gián đoạn vòi tử cung không cho tinh trùng gặp noãn để thực
hiện thụ tinh.
- Triệt sản nữ là phương pháp tránh thai vĩnh viễn, thực hiện một lần có
tác dụng tránh thai suốt đời.
- Hiệu quả tránh thai rất cao, trên 99%. Tỷ lệ thất bại khoảng 0,5%.
Triệt sản nữ không có ảnh hưởng đến sức khoẻ, không ảnh hưởng đến kinh
nguyệt, không ảnh hưởng đến giới tính và sinh hoạt tình dục.
- Hiện nay số cặp vợ chồng áp dụng biện pháp này còn ít.
- Là một phẫu thuật nhỏ nhưng cũng không hoàn toàn tránh được một
số biến chứng do phẫu thuật. Do đó đòi hỏi thầy thuốc phải có kỹ năng nhất
định và phải có trang bị cơ sở vật chất để phục vụ cho phẫu thuật.
1.2.6. Các biện pháp tránh thai truyền thống (tự nhiên)
- Đây là những biện pháp tránh thai không cần dụng cụ, thuốc hay thủ
thuật tránh thai nào để ngăn cản thụ tinh.
1.2.6.1. Biện pháp tính theo vòng kinh
- Là biện pháp dựa vào ngày có kinh, chọn giao hợp vào những ngày xa
giai đoạn phóng noãn để không thụ thai.
9
- Chỉ định:
+ Tất cả các cặp vợ chồng chưa muốn sinh con đều có thể áp dụng.
- Chống chỉ định:
+ Không có chống chỉ định, nhưng hiệu quả tránh thai không cao.
1.2.6.2. Biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo
Là biện pháp cổ xưa nhất mà loài người đã biết tránh thai ngoài ý muốn
và vẫn tồn tại đến ngày nay. Riêng điều này cũng cho thấy đây là BPTT
không hề gây hại gì cho cặp vợ chồng áp dụng.
Cơ chế của biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo là tinh trùng không vào
đường sinh dục nữ nên không có thụ tinh.
1.2.6.3. Biện pháp tránh thai cho bú vô kinh
37,7
33,1
0,4
1,2
3,0
15,1
65,0
43,8
33,3
2,4
4,0
4,1
21,0
75,3
55,8
38,5
4,5
5,9
6,8
19,2
76,9
64,7
56,5
10,5
8,4
7,7
15,8
Nguồn số liệu: Điều tra dân số - KHHGĐ của tổng cục thống kê (2002)
Cơ cấu sử dụng BPTT có sự thay đổi đáng kể theo hướng đa dạng hóa,
nếu năm 1988 tỷ lệ sử dụng DCTC chiếm tỷ trọng tuyệt đối là 62,4% và giảm
Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên năm 2010(17,2%) giảm chậm so với năm
2009(18,4%), năm 2008(20,6%). Do đó công DS - KHHGĐ cần được đẩy
mạnh hơn nữa trong thời gian tới đặc biệt các địa phương vùng cao, vùng có
đông đồng bào dân tộc Rai.
1.3.5. Tình hình thực hiện KHHGĐ tại xã Hàm Cần và Mỹ Thạnh, huyện
Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận
Hàm Cần và Mỹ Thạnh là hai xã vùng cao của huyện Hàm Thuận Nam
– Tỉnh Bình Thuận, nằm ở cách trung tâm huyện 62km về phía Đông Bắc,
vấn đề giao thông đi lại gặp rất nhiều khó khăn.
- Phía Tây giáp với huyện Tánh Linh – Bình Thuận.
- Phía Bắc giáp với tỉnh Lâm Đồng.
- Phía Đông giáp với huyện Hàm Thuận Bắc – Bình Thuận.
12
- Phía Nam giáp với xã Hàm Thạnh và Hàm Kiệm – Hàm Thuận Nam –
Bình Thuận
Dân số toàn xã Mỹ Thạnh 742 khẩu gồm 2 thôn, số phụ nũ tuổi 15 – 49
có chồng(người dân tộc Rai) 181 người.
Dân số xã Hàm Cần 3174 khẩu gồm 3 thôn, số phụ nữ tuổi 15 – 49 có
chồng(dân tộc Rai) 762 người.
Dân số nơi đây đa số là người dân tộc thiểu số ( người Rai ) chiếm
90%, tất cả sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi và săn bắn. tỉ lệ hộ
nghèo chiếm 90%, trình độ dân trí rất thấp nên nhận thức mọi vấn đề còn
chậm so với người dân tộc kinh, phong tục tập quán còn lạc hậu vẫn còn chế
độ mẫu hệ “cần con gái để nối dõi”. Vì vậy việc quan tâm đến sức khoẻ của
họ còn rất thấp nên ảnh hưởng đến vấn đề sinh – tử của cả cộng đồng. Hầu
như họ không có ý thức về vấn đề dân số - kế hoạch hoá gia đình, họ không
dám tiếp cận với các biện pháp tránh thai hiện đại.
Đến nay dưới sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đến đồng
bào dân tôc thiểu số cho nên điện, đường, trường, trạm cũng dần dần hoàn
thiện đi vào hoạt động. Việc giao lưu học hỏi kinh nghiệm truyền đạt trong
- Những phụ nữ 15 - 49 không có chồng
- Những phụ nữ 15 - 49 người kinh có chồng
- Những phụ nữ 15 - 49 người Rai có chồng nơi khác mới đến chưa đăng
ký thường trú.
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.2. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2011
2.2.3.Địa điểm nghiên cứu
Số phụ nữ tuổi từ 15 – 49 người dân tộc Rai có chồng được chọn theo
phương pháp chọn mẫu đang cư trú tại hai xã Hàm Cần và Mỹ Thạnh huyện
Hàm thuận Nam tỉnh Bình thuận.
2.3. Thiết kế nghiên cứu.
Dùng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang để xác định tỷ lệ sử
dụng biện pháp tránh thai và một số yếu tố liên quan.
2.4. Phương pháp chọn mẫu.
2.4.1 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng tỷ lệ
p (1 – p)
n = Z
2
(1- α/2)
d
2
15
Trong đó:
n Số lượng mẫu nghiên cứu
1,96 với độ tin cậy 95%
p = 20 % ( 0,2) tỉ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai nghiên cứu
thăm dò 100 phụ nữ 15-49 tuổi người dân tộc Rai ngẫu nhiên.
+ Tiểu học – Trung học cơ sở
+ Phổ thông trung học - Cao đẳng - Đại học.
- Nghề nghiệp:
+ Cán bộ công chức.
+ Làm ruộng - Nội trợ.
+ Buôn bán - Tiểu thủ công nghiệp.
+ Khác (thợ may, thợ uốn tóc )
- Kinh tế gia đình:
+ Hộ nghèo:
Có sổ hộ nghèo.
Có thu nhập bình quân đầu người dưới
200.000đồng/người/tháng.
+ Hộ không nghèo:
Có thu nhập bình quân đầu người trên 200.000 đồng/ người/
tháng
Gia đình có phương tiện sinh hoạt tiện nghi (xe máy, ti vi).
- Tuổi kết hôn: dưới 18, 18 - 25, 26 - 30, 31 - 35, trên 35.
- Tuổi sinh con lần đầu dưới 18, 18 - 25, 26 - 30, 31 - 35, trên 35.
- Số con sống: tổng số, trong đó: con trai, con gái.
- Tuổi của các bà mẹ khi sinh con thứ 3.
2.7.2. Sự hiểu biết của phụ nữ dân tộc Rai về các biện pháp
tránh thai
- Hiểu biết về số con của mỗi cặp vợ chồng:
17
+ 1con.
+ 2 con.
+ 3 con.
+ 4 con.
+ Không giới hạn.
+ Không biết.
+ Phương pháp khác.
- Nguồn cung cấp thông tin về các biện pháp tránh thai:
+ Truyền thông trực tiêp (nói chuyện).
+ Phương tiện thông tin đại chúng (tivi, radio).
+ Qua tài liệu (tranh ảnh, tờ rơi).
+ Qua sinh hoạt câu lạc bộ.
+ Qua các đoàn thể tuyên truyền (phụ nữ, nông dân, đoàn thanh niên ).
2.7.3. Thực trạng sử dụng các BPTT của phụ nữ tại xã dân tộc
Rai tại hai xã Hàm Cần và Mỳ Thạnh huyện Hàm Thuận
Nam.
- Tỷ lệ phụ nữ dân tộc Rai đang sử dụng BPTT:
+ Đình sản.
+ Thuốc uống.
+ Thuốc tiêm.
+ Dụng cụ tử cung.
+ Bao cao su.
+ Khác.
- Tỷ lệ phụ nữ dân tộc Rai đang sử dụng BPTT thai theo số con:
+ 1con.
+ 2 con.
+ Trên 3 con.
19
- Tỷ lệ phụ nữ dân tộc Rai có dự định sử dụng BPTT lâu dài không:
+ Có.
+ Không.
+ Không xác định.
- Lý do phụ nữ dân tộc Rai không sử dụng BPTT lâu dài.
+ Chăm sóc khi về già.
+ Muốn sinh dự phòng.
+ Tăng thêm sức lao động.
- Phép kiểm ở mức ý nghĩa = 0,05 được sử dụng để xác định mối liên
quan giữa các nhóm khác nhau về tuổi, kinh tế gia đình, trình độ học vấn, tôn
giáo, các biện pháp tránh thai…
2 10. Đạo đức nghiên cứu:
- Tất cả thông tin người tham gia nghien cứu được xử lý và công bố dưới
hình thức số liệu.
- Nghiên cứu trên tinh thần tôn trọng bí mật riêng tư của đối tượng
nghiên cứu.
- Qua nghiên cứu để tim ra giải pháp tối ưu thích hợp để cho cộng đồng
người dân tộc thiểu số hiểu biết rỏ hơn về các biện pháp tránh thai hiện đại để
lựa chọn riêng cho mình một biện pháp thích hợp nhằm giảm tỷ lệ sinh, tăng
cường phát triển nền kinh tế gia đình, có thời gian quan tâm chăm lo sức khoẻ
gia đình.
21
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MẪU NGHIÊN CỨU
3.1.1. Tuổi
Bảng 3.1. Phân bố đối tượng theo nhóm tuổi
Tuổi Tần số (n) Tỷ lệ (%)
15 – 29 341 36,16
30 – 39 309 32,77
40 – 49 293 31,07
Tổng cộng 943 100,00
Nhóm tuổi từ 15 - 29 chiếm tỷ lệ cao nhất 36,16%, tuổi từ 40 - 49 chiếm
tỷ lệ thấp nhất 31,07%. Chứng tỏ nơi đây có tỷ lệ dân số trẻ cao.
3.1.2. Nghề nghiệp
Bảng 3.2. Phân bố đối tượng theo nghề nghiệp
Nghề nghiệp Tần số (n) Tỷ lệ (%)
CNVC 22 2,33
Tổng cộng 943 100,00
23
Độ tuổi kết hôn từ 18 – 25 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 80,28%, độ tuổi
duới 18 kết hôn vẫn chiếm tỷ lệ cao 11,24%. Nơi đây vẫn còn tình trạng tảo
hôn vẫn còn tồn tại.
3.1.6. Tuổi sinh con lần đầu
Bảng 3.6. Phân bố tỷ lệ tuổi của đối tượng khi sinh con lần đầu
Tuổi
Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Dưới 18
58 6,78
18 – 25
689 80,58
> 25
108 12,64
Tổng cộng
943 100,00
Phụ nữ sinh con lần đầu từ 15 - 25 tuổi (66,66%), phụ nữ sinh con lần
đầu từ 26 - 30 tuổi (26,20%), phụ nữ sinh con lần đầu dưới 18 tuổi (3,80%).
3.1.7. Số con
Bảng 3.7. Tỷ lệ về số con của phụ nữ dân tộc Rai 15 - 49 tuổi có chồng
Số con Tần số (n) Tỷ lệ (%)
0 88 9,33
1 136 14,42
2 427 45,28
3 188 19,94
> 3 104 11,03
Tổng cộng 943 100,00
Tỷ lệ bà mẹ có từ 3 con trở lên 30,97%, tỷ lệ 1-2 con 59,70%.
3.2. SỰ HIỂU BIẾT CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC RAI VỀ KHHGĐ