Thực Trạng Áp Dụng Các Biện Pháp Phòng Vệ Thương Mại Tại Các Nước Nhóm Brics Và Bài Học Kinh Nghiệm Cho Việt Nam - Pdf 35

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-------***-------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP
PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI TẠI CÁC NƯỚC NHÓM
BRICS VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
CHO VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên

: Đặng Minh Ngọc

Mã sinh viên

: 1111110012

Lớp

: Anh 6 - Khối 2 - KT

Khoá

: 50

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Đỗ Hương Lan



A
D
A

Agreement
of WTO On
Antidumping

Hiệp định về
chống bán
phá giá của
WTO

AS
EA
N
BR
IC
S
D
G
A
D
G
AT
T
M
OF
CO
M

Republic of
China
Non –
Market
Economy

Hiệp hội các
nước Đông
Nam Á
Nhóm các
nước có nền
kinh tế mới
nổi
Tổng Vụ
Chống bán
phá giá và
Chống trợ
cấp Ấn Độ
Hiệp định
chung về
Thuế quan
và Thương
mại
Bộ thương
mại Trung
Quốc
Nước có nền
kinh tế phi
thị trường


Safeguards

W
TO

World Trade
Organization

Liên minh
Hải quan
phía Nam
châu Phi
Hiệp định về
các biện
pháp tự vệ
của WTO
Tổ chức
thương mại
thế giới


7

LỜI MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế thế giới đang phát triển thành một thể thống nhất – đây là một xu

thế tất yếu mà bất kì quốc gia nào đều phải công nhận và tuân theo. Các cụm từ như

dụng các biện pháp phòng vệ, sự đa dạng về đối tượng chịu biện pháp phòng vệ hay
sự khác nhau trong việc sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại giữa các nhóm
nước phát triển và đang phát triển,… Có thể thấy đây là những xu hướng phát triển
rất đáng được quan tâm, xem xét.
Các nước nhóm BRICS được cho là những nước có nền kinh tế phát triển nhất
trong những năm trở lại đây, tuy nhiên đồng thời cũng được nhận định là những
nước đang áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại nhiều nhất từ chống bán
phá giá, chống trợ cấp đến các biện pháp tự vệ. BRICS lần đầu được nhắc đến năm
2001 và kể từ đó, 5 nước gồm Brazil, Ấn Độ, Liên bang Nga, Trung Quốc và Nam
Phi đã lập ra một cơ chế hợp tác với nhau để có vai trò quan trọng hơn trong hệ
thống kinh tế thế giới. Tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của bốn nền kinh tế của
BRIC khiến cho thế giới phải nhìn nhận lại họ như một trong những thế lực mới,
đối chọi với nhóm các nước G7 - vốn đóng vai trò quyết định trong các chính sách
của kinh tế thế giới, trở thành trụ đứng vững chắc của nền kinh tế thế giới với tiềm
lực tài chính mạnh mẽ và dồi dào nguồn tài nguyên. Tuy nhiên, một thực tế cho
thấy, các nước nhóm BRICS hầu hết là các nước đang phát triển và là những nước
áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại nhiều nhất trên thế giới, ảnh hưởng
không nhỏ đến khả năng phát triển của các nhà đầu tư nước ngoài vào các thị
trường này. Vậy thì, quá trình thực thi các biện pháp phòng vệ thương mại ở các
nước này diễn ra như thế nào, mức độ áp dụng các biện pháp phòng vệ ở các nước
này ra sao và xu hướng phát triển về việc áp dụng các biện pháp này ở các nước
như thế nào là những vấn đề đáng để tìm hiểu.
Nghiên cứu việc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại ở các nước
BRICS rất có ý nghĩa, mang tính đại diện cao bởi đây là nhóm nước có đầy đủ cả
các quốc gia ở châu Mỹ, châu Á và châu Phi, là các nước có tiềm lực kinh tế mạnh
trong các châu này. Như vậy, tìm hiểu thực trạng áp dụng ở các quốc gia này có thể
rút ra được một cái nhìn tổng quát nhất về việc áp dụng các biện pháp phòng vệ
thương mại ở các nước đang phát triển cũng như trên thế giới.
Việt Nam có rất nhiều nét tương đồng với các nước trong nhóm BRICS như
cùng là nước đang phát triển nhưng phát triển với tốc độ tương đối cao, nhiều nét

thương mại của các nước BRICS với tư cách là nước áp dụng (nước nhập khẩu), tập
trung khai thác xu hướng áp dụng và khung pháp lý về phòng vệ thương mại của
các nước này cho hàng hóa xuất khẩu từ các nước khác, dựa theo số liệu do WTO
cung cấp.
• Về thời gian: Từ năm 1995 đến năm 2014.


10

5.

Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận hướng tới 3 nhiệm vụ cơ bản, gồm:

• Làm rõ các khái niệm lý thuyết cơ bản về các biện pháp phòng vệ thương mại.
• Phân tích cụ thể, khoa học thực trạng áp dụng các biện pháp đó ở các nước nhóm
BRICS lên hàng hóa nhập khẩu vào các nước này.
• Rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam khi áp dụng các biện pháp phòng vệ
thương mại cho hàng hóa nhập khẩu trên cơ sở nghiên cứu từ các nước BRICS.
6.
Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận được xây dựng dựa trên các phương
pháp quy nạp, diễn dịch cùng các phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh để tiến
hành nghiên cứu.
7.
Bố cục khóa luận
Khóa luận ngoài lời mở đầu, kết luận và các danh mục, tài liệu tham khảo sẽ
được chia làm 3 chương, gồm:
Chương 1: Tổng quan chung về các biện pháp phòng vệ trong thương mại
quốc tế
Chương 2: Thực trạng áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại tại

nước, nhằm bảo vệ thị trường nội địa cũng như bảo vệ các doanh nghiệp sản xuất
còn non trẻ trong nước. Theo International Trade Centre (2002) cho rằng các biện
pháp phòng vệ thương mại là những công cụ hạn chế thương mại hợp pháp trong
khuôn khổ WTO, đi ngược lại với những nguyên tắc đã được kí kết như không phân
biệt đối xử, cắt giảm thuế,… giữa các bên, và chỉ được sử dụng trong những trường
hợp ngoại lệ.
Các hoạt động phòng vệ thương mại được gắn liền với quá trình xuất khập
khẩu bởi vậy nên các quy định về các hoạt động này thường được quy định trong
các văn bản ký kết mang tính chất quốc tế, thể hiện mối quan tâm chung của nhiều
nước trên thế giới. WTO, với 160 nước thành viên tính đến tháng 06/2014, là diễn
đàn về mậu dịch theo hướng tự do hoá thương mại lớn nhất toàn cầu và chiếm tới


12
95% giao dịch thương mại quốc tế (Nguyễn Thường Lạng, 2011). Bên cạnh việc
thương lượng để loại bỏ các rào cản trong thương mại giữa các bên, WTO còn đưa
ra các nguyên tắc cho thương mại quốc tế và giám sát việc thực hiện các Hiệp định
trong khuôn khổ WTO, trong đó có những văn bản pháp luật với những quy định về
khái niệm, thủ tục, điều kiện áp dụng, cách thức áp dụng liên quan đến các biện
pháp phòng vệ trong thương mại quốc tế. Nhờ quy mô và sự lâu đời của tổ chức
WTO, các văn bản pháp luật về các biện pháp phòng vệ thương mại được các nước
tuân thủ tiến hành khi gia nhập đồng thời cũng dựa vào các Hiệp định được WTO
ban hành, các nước tiến hành xây dựng hệ thống pháp luật của riêng mình liên quan
đến phòng vệ thương mại.
Một trong những Hiệp định quan trọng được WTO thông qua và đưa vào áp
dụng trong các cam kết gia nhập của các nước đó là Hiệp định chung về Thuế quan
và Thương mại (GATT). GATT được ra đời đầu tiên vào những năm 1947, tuy
nhiên, do mới là bước đầu, những đạo luật được đưa ra còn chưa chặt chẽ, cũng như
có những khoản không rõ ràng khiến cho việc áp dụng còn không thống nhất, một
số nước lợi dụng để dựng lên những hàng rào thương mại mới, gây hạn chế và lệch

định kỹ thuật cũng như cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc.
Về tính chất, các nghĩa vụ liên quan đến các biện pháp phòng vệ thương mại
như thực hiện các quy định về thủ tục hay nội dung mang các đặc điểm sau:


Các nghĩa vụ này không phải trực tiếp và thường xuyên, nghĩa là một

hoạt động xuất nhập khẩu của một nước sang nước khác chỉ bị tiến hành điều tra, áp
dụng các biện pháp phòng vệ liên quan khi nước đó tiến hành khiếu nại lên cơ quan
có thẩm quyền nếu không thì nghĩa vụ này không phát sinh;

Các nghĩa vụ này chỉ được thực hiện và giám sát bởi một số hạn chế
các cơ quan có thẩm quyền, ví dụ như ở Việt Nam là Cục Quản lý cạnh tranh thuộc
Bộ Công Thương, mà không đòi hỏi việc áp dụng này ở cơ quan quản lý khác nhằm
tránh việc không thống nhất trong cách áp dụng;

Nghĩa vụ liên quan đến phòng vệ thương mại là tập hợp của nhiều
nghĩa vụ phức tạp cả về thủ tục và nội dung mà việc diễn giải từng nghĩa vụ cụ thể
phụ thuộc vào ý chí chủ quan của từng nước cũng như của cơ quan có thẩm quyền
giải quyết. Đây chính là đặc điểm gây ra nhiều vụ tranh chấp được xử kiện trong
một thời gian dài do sự không thống nhất, nhất là trong điều kiện áp dụng cũng như
cách thức áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại.
Một ví dụ rất rõ nét trong việc không quy định rõ ràng gây tranh chấp có thể
kể đến Trong Điều khoản 1 Điều VI GATT 1994 có quy định: “Thừa nhận rằng


14
trong trường hợp nhập khẩu từ một nước mà thương mại hoàn toàn mang tính chất
độc quyền hoặc hầu như độc quyền hoặc toàn bộ giá trong nước do Nhà nước định
đoạt, việc xác định tính so sánh của giá cả nhằm mục đích nêu tại khoản 1 có thể

15
định nên vẫn có nhiều tranh luận khi thuật ngữ này được dịch ra. Ví dụ như trong
vụ kiện chống bán phá giá sản phẩm gia cầm của Argentina, Brazil đã kiện rằng do
thuật ngữ “a major proportion” cũng giống như “the majority” (có nghĩa là hơn
50%) nên Argentina đã vi phạm quy định của WTO khi cho rằng ngành sản xuất nội
địa là những nhà sản xuất có tổng sản lượng chiếm hơn 46% tổng sản phẩm nội địa
trong khi đó Argentina khẳng định điều ngược lại (Lê Duy, 2009).
1.2. Phân loại của các biện pháp phòng vệ thương mại theo WTO
Trong thương mại quốc tế, hệ thống các biện pháp PVTM quốc tế gồm 3 biện
pháp chính gồm biện pháp chống bán phá giá (Anti-dumping), biện pháp chống trợ
cấp (Subsidies and Countervailing measures) và biện pháp tự vệ (Safeguards). Mỗi
biện pháp lại có những điều kiện áp dụng cũng như những trường hợp áp dụng riêng
và mang một mục đích riêng.
1.2.1. Biện pháp chống bán phá giá
Một trong những nội dung quan trọng nhất được GATT đưa ra đó là về vấn
đề chống bán phá giá, cụ thể được đề cập đến trong Điều VI. Khái niệm “chống
bán phá giá” đã được đề cập đến trước đó, lần đầu tiên trong Đạo luật Chống bán
phá giá của Canađa năm 1904, luật chống bán phá giá của Newzealand 1905, Úc
năm 1906, Nam Phi năm 1014, sau đó đến đạo luật của Mỹ và Anh năm 1916 và
1921. Tuy nhiên phải đến GATT năm 1947, các đạo luật về chống bán phá giá mới
có giá trị pháp lý chung cho nhiều quốc gia, điều chỉnh chung cho thương mại các
nước thành viên. Nó là cơ sở để hàng loạt các văn bản pháp luật của các nước về
chống bán phá giá được ra đời. Điều VI trong GATT năm 1994 là điều khoản hiện
hành điều chỉnh các vấn đề liên quan đến chống bán phá giá, kèm theo đó là Hiệp
định về việc thi hành Điều VI GATT 1994 (ADA) điều chỉnh kỹ hơn các quy tắc,
điều kiện, trình tự thủ tục kiện và cách thức áp dụng biện pháp chống bán phá giá.
Các biện pháp chống bán phá giá được áp dụng khi có hành vi bán phá giá của
nước xuất khẩu. Theo ADA 1994, Điều 2 quy định rằng “Một sản phẩm được coi là
bán phá giá tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác thấp
hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó hoặc nếu như giá xuất khẩu của sản

gây ra cho ngành sản xuất nội địa, nước nhập khẩu có thể áp dụng một mức thuế
chống bán phá giá tạm thời. Mức thuế này không được đặt cao hơn biên độ bán phá
giá ban đầu. Theo điều 7 ADA 1994, các biện pháp tạm thời không được áp dụng
sớm hơn 60 ngày kể từ ngày bắt đầu điều tra và thời gian áp thuế tạm thời không
quá 9 tháng. Tiền thu thuế tạm thời này sẽ được trả lại cho nước xuất khẩu nếu mức


17
thuế chính thức thấp hơn thuế tạm thời. Thời hạn này cũng có thể được điều chỉnh
theo luật mỗi quốc gia.
Mức thứ hai có thể được áp dụng đó là cam kết về giá, nhà xuất khẩu phải cam
kết điều chỉnh lại giá bán trong tương lai sao cho mức giá này không thể gây tổn
thất cho nền sản xuất nội địa nước nhập khẩu và được nước nhập khẩu chấp nhận.
Sau khi đã có quyết định chính thức về hành vi chống bán phá giá, nước nhập khẩu
có thể tiến hành áp dụng các biện pháp chống bán phá giá chính thức, gồm có thể
đánh thuế chống bán phá giá, áp dụng hạn ngạch nhập khẩu hoặc kết hợp cả hai
biện pháp này. Với việc áp dụng thuế chống bán phá giá, mức thuế chống bán phá
giá được xác định riêng biệt cho từng nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất; lượng thuế
phải nộp thay đổi theo biên độ phá giá xác định rõ ràng cho từng nhà xuất khẩu.
Trong thực tế đa số các vụ kiện chống bán phá giá cho thấy, thường thì các nước
quyết định áp thuế chống bán phá giá là chủ yếu.
Mục đích của các biện pháp chống bán phá giá đó là để đối phó với các sản
phẩm nhập khẩu với giá thành thấp hơn nhiều hàng trong nước nhằm loại bỏ các đối
thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường nội địa. Thuế chống bán phá giá là biện pháp
hữu hiệu để loại bỏ các tác động tiêu cực của hành vi bán phá giá, bảo vệ ngành sản
xuất hàng hóa tương tự trong nước nhập khẩu.
1.2.2. Biện pháp chống trợ cấp
Giống như chống bán phá giá, chống trợ cấp cũng được nhắc tới trong GATT
1947 tại điều khoản số XVI. Qua các vòng đàm phán Tokyo, và vòng đàm phán
Uruguay, một hiệp định về chống trợ cấp và các biện pháp đối kháng được hình

mua hàng;
• Chính phủ góp tiền vào một cơ chế tài trợ, hay giao hoặc lệnh cho một tổ chức tư
nhân thực thi một hay nhiều chức năng đã nêu từ điểm (i) đến (iii) trên đây, là
những chức năng thông thường được trao cho Chính phủ và công việc của tổ chức
tư nhân này trong thực tế không khác với những hoạt động thông thuờng của Chính
phủ.
Trợ cấp trong WTO là một hoạt động không bị cấm nhưng được đặt ra những
giới hạn nhất định mà theo đó, hoạt động trợ cấp được chia làm 3 mức: đèn đỏ
(những hoạt động trợ cấp bị cấm), đèn xanh (những hoạt động trợ cấp được cho
phép) và đèn vàng (hoạt động dù không bị cấm nhưng vẫn có thể bị kiện). Các hoạt
động trợ cấp đèn đỏ bao gồm trợ cấp căn cứ vào khối lượng xuất khẩu và trợ cấp ưu
tiên sử dụng hàng nội địa so với hàng nhập khẩu (Điều 3, SCM 1994). Trợ cấp đèn
xanh gồm những hoạt động trợ cấp không mang tính riêng biệt (không hướng tới cá


19
nhân một doanh nghiệp, ngành hay khu vực địa lý nào; hưởng một cách khách
quan; không cho cơ quan có thẩm quyền cấp khả năng tùy tiện xem xét và không
tạo ra hệ quả ưu đãi riêng với bất cứ đối tượng nào) và những hoạt động trợ cấp sau
(cho hoạt động nghiên cứu; cho các khu vực khó khăn; điều chỉnh các điều kiện sản
xuất cho phù hợp với môi trường kinh doanh mới). Trợ cấp đèn vàng là những trợ
cấp không mang tính riêng biệt mà gây thiệt hại cho nền sản xuất trong nước.
Tương tự như chống bán phá giá, các vụ kiện về chống trợ cấp cũng mang tính
chất các thủ tục hành chính với quy trình nghiệp vụ tương tự. Tuy nhiên, phải nhấn
mạnh một điều quan trọng rằng các biện pháp chống trợ cấp này không mang tính
đối phó giữa Chính phủ với Chính phủ, mà các biện pháp chống trợ cấp được áp
dụng cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Sau khi vụ kiện chống trợ cấp
được hoàn thành và kết quả được đưa ra chứng minh rằng có hành vi trợ cấp bị cấm
hoặc gây thiệt hại cho sản xuất trong nước, thuế chống trợ cấp (thuế đối kháng) sẽ
được các nước nhập khẩu sử dụng cho mặt hàng của riêng doanh nghiệp đó. Đây là

sản xuất trong nước có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thi hành các biện pháp
tự vệ thương mại khi họ nhận thấy đang gặp phải nhiều khó khăn cũng như suy yếu
nghiêm trọng, nhằm đảm bảo họ thích nghi được với sự cạnh tranh. Biện pháp tự vệ
được các nước coi như một “van an toàn” khi tiến hành hội nhập vào kinh tế thế
giới. Như vậy, theo VCCI (2010), “Biện pháp tự vệ là việc tạm thời hạn chế nhập
khẩu đối với một hoặc một số loại hàng hóa khi việc nhập khẩu chúng tăng nhanh
gây ra hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng ngành sản xuất trong nước”. Các
biện pháp này chỉ được giới hạn áp dụng đối với thương mại hàng hóa mà không áp
dụng với dịch vụ, đầu tư hay sở hữu trí tuệ. Có thể thấy, biện pháp tự vệ không đối
phó với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay vi phạm pháp luật, nó có tác
dụng với cả hành vi kinh doanh chính đáng nếu nó ảnh hưởng lớn đến sản xuất
trong nước. Bởi vậy nên, tuy các biện pháp tự vệ được WTO công nhận, với những
điều khoản áp dụng rất chặt chẽ, nhưng việc làm của nó vẫn được coi là đi ngược lại
chính sách tự do hóa thương mại của WTO. Do vậy, trong thực tế, các biện pháp tự
vệ rất ít khi được áp dụng.
Cùng với các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp, biện pháp tự vệ
cũng được các nước áp dụng với mục đích là bảo vệ ngành sản xuất trong nước
trước sự xâm nhập của hàng hóa nước ngoài. Tuy nhiên, biện pháp tự vệ cũng khác
với chống phá giá hay chống trợ cấp ở một vài đặc điểm. Đầu tiên, nếu như chống
bán phá giá và chống trợ cấp đối phó với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
của nước xuất khẩu thì các biện pháp tự vệ có mục đích bảo hộ ngành sản xuất


21
trong nước trước sự nhập khẩu quá mức các hàng hóa nước ngoài, tức là các biện
pháp tạm thời để giảm thiểu cạnh tranh nhằm cho các doanh nghiệp trong nước có
thời gian thích ứng. Thứ hai, điểm quan trọng khi áp dụng các biện pháp tự vệ đó là
chứng minh được sự thiệt hại nghiêm trọng của ngành sản xuất trong nước trong khi
đó, để áp dụng chống bán phá giá hay chống trợ cấp, phải chứng minh hành vi phá
giá và hành vi trợ cấp. Thứ ba, khi áp dụng các biện pháp tự vệ, thuế hay hạn ngạch

tính giống với sản phẩm đang được xem xét, hoặc trong trường hợp không có sản
phẩm như vậy thì là sản phẩm khác mặc dù không giống ở mọi đặc tính nhưng có
nhiều đặc điểm gần giống với sản phẩm đang được xem xét”. Sản phẩm này có thể
từ thị trường nước xuất khẩu, cũng có thể được so sánh với sản phẩm ở thị trường
nước thứ 3.
Theo Điều 4 ADA 1994, khái niệm ngành sản xuất trong nước được hiểu là
dùng để chỉ tập hợp chung các nhà sản xuất trong nước sản xuất các sản phẩm
tương tự hoặc là để chỉ những nhà sản xuất có tổng sản phẩm chiếm phần lớn tổng
sản xuất trong nước của các sản phẩm đó, trừ: có quan hệ với nhà xuất khẩu hoặc là
người trực tiếp nhập khẩu; lãnh thổ của các thành viên bị phân chia thành nhiều thị
trường cạnh tranh nhau và mỗi nhà sản xuất có thể được coi là một ngành sản xuất
độc lập.
Thiệt hại ở đây được bao gồm cả thiệt hại thực tế và đe dọa gây thiệt hại. Các
thiệt hại này phải được xem xét là đáng kể hoặc nghiêm trọng (mức độ cao hơn thiệt
hại đáng kể) mới được áp dụng các biện pháp PVTM. Độ nghiêm trọng được tính
toán dựa trên các thông số về doanh số, sản lượng,nhân công, thị phần,… của ngành
sản xuất trong nước và sản lượng tăng lên của mức nhập khẩu, các yếu tố này được
xác định tùy theo pháp luật của mỗi loại biện pháp PVTM, tùy theo pháp luật mỗi
quốc gia áp dụng.
1.3.2. Điều kiện áp dụng
1.3.2.1. Về chống bán phá giá
Theo điều 3, ADA 1994, khi nhận được đơn thư yêu cầu điều tra chống bán
phá giá, cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu cần tiến hành điều tra nhằm
đưa ra kết luận cuối cùng về việc có áp dụng biện pháp chống bán phá giá hay
không dựa trên 3 yếu tố sau:
Thứ nhất, phải xác định được hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá với biên
độ phá giá vượt qua mức tối thiểu cho phép là 2% theo khoản 8, điều 5, ADA 1994.
Biên độ phá giá là tỷ lệ giữa sự chênh lệch giá và giá xuất khẩu, thể hiện mức độ
phá giá hàng hóa của doanh nghiệp xuất khẩu, được tính toán dựa trên công thức:


như : có sự tăng trưởng đáng kể của hàng nhập khẩu bán phá giá tính theo số lượng


24
tuyệt đối hay tương quan với sản xuất và tiêu dùng; giá của mặt hàng nhập khẩu bán
phá giá thấp hơn giá của sản phẩm tương tự trong nước gây ép giá của sản phẩm
tương tự hoặc ngăn cản giá của các sản phẩm đó tăng lên dẫn tới kết quả là ngành
sản xuất nội địa bị tổn hại hoặc có nguy cơ làm tổn hại ngành sản xuất nội địa của
nước nhập khẩu; sự sụt giảm đáng kể về sản lượng, doanh số, nhân công của ngành
sản xuất trong nước,…
Cuối cùng, muốn áp dụng biện pháp chống bán giá, phải chứng minh được
mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu bị bán phá giá và thiệt hại vật
chất (hoặc đe dọa thiệt hại) của ngành sản xuất trong nước. Để xác định liệu hàng
nhập khẩu bán phá giá có đang gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa hay không
cần tính đến các yếu tố kinh tế khách quan tác động đến ngành sản xuất đó, cụ thể
như là: Sự giảm sút thực tế và tiềm tàng về số lượng, doanh số, thị phần, lợi nhuận,
năng suất, tỷ suất đầu tư hoặc sử dụng công suất; Tác động lên giá nội địa; Tác
động thực tế và tiềm tàng về chu chuyển tiền, tồn kho, việc làm, tiền lương, tăng
trưởng và năng lực huy động vốn đầu tư. Tất cả những nhân tố này phải do hành
động chống bán phá giá trực tiếp gây ra.
Ngoài ra, để được tiến hành điều tra một vụ kiện chống bán phá giá, thì phải
chứng minh được tác động của việc phá giá mang tính bao trùm, ảnh hưởng tới một
cộng đồng lớn. Cụ thể, theo khoản 4, Điều 5 ADA 1994, các nhà sản xuất ủng hộ
việc đánh thuế chống phá giá phải chiếm hơn 50% số lượng người bày tỏ ý kiến
phản đối hoặc ủng hộ kiến nghị, đồng thời các nhà sản xuất ủng hộ việc đánh thuế
phải chiếm ít nhất 25% sản lượng của ngành sản xuất. Việc áp dụng biện pháp
chống phá giá cũng không đáng được đặt ra nếu việc tăng hàng nhập khẩu chỉ tác
động đến một số ít nhà sản xuất và biên độ phá giá nhỏ hơn 2%, lượng hàng nhập
khẩu dưới 3% tổng lượng hàng hóa đang được xem xét là bán phá giá, được nhập
khẩu vào nước nhập khẩu. Trừ trường hợp, số lượng nhập khẩu của các hàng hóa

trên.
1.3.2.3. Về các biện pháp tự vệ
Theo Hiệp định SG (1994), các biện pháp tự vệ chỉ có thể được áp dụng một
khi các nước nhập khẩu đã điều tra và chứng minh được tồn tại đồng thời cả 3 yếu
tố:
• Có sự gia tăng đột biến về số lượng hàng hóa nhập khẩu vào thị trường nội địa.
Việc gia tăng này được điều tra và xác định bằng một số tiêu chí cụ thể như:
sự gia tăng một cách tương đối (VD: hầu như tăng lên, hầu như giảm mạnh, tăng lên



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status