Thực trạng áp dụng các biện pháp bảo hộ phi thuế quan của Việt Nam - Pdf 69

Thực trạng áp dụng các biện pháp bảo hộ phi thuế quan của Việt Nam
trong tiến trình hội nhập
2.1. Quá trình áp dụng biện pháp bảo hộ phi thuế của Việt Nam từ năm 1986
tới nay
Năm 1986 đợc xem là mốc đánh dấu cho công cuộc đổi mới của Việt Nam, khởi đầu
là Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI; sau đó, Chính phủ đã ban hành hàng loạt chính
sách nhằm thơng mại hoá nền kinh tế, trong đó Quyết định 217/ HĐBT
ngày14/11/1987 đã phản ánh rõ nhất bớc chuyển này: gắn sản xuất với thị trờng, thực
hiện hạch toán kinh doanh, khẳng định tính thống nhất khách quan của toàn bộ thị tr-
ờng xã hội. Tuy vậy, thời kỳ 1986-1988, nền kinh tế về cơ bản vẫn nằm dới sự quản lý
của cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Các xí nghiệp quốc doanh cha có đủ những quyền
chủ động cần thiết trong sản xuất kinh doanh, và trong hoạt động xuất nhập khẩu chủ
yếu vẫn dồn vào một số đầu mối là các công ty quốc doanh của Nhà nớc.
Năm 1989, các biện pháp quản lý xuất nhập khẩu có những bớc chuyển biến thể hiện
rõ nét nhất thông qua việc sử dụng các biện pháp bảo hộ phi thuế quan. Hội nghị TW 6
(Khoá VI) năm 1989 đã thể hiện sự chuyển hớng cơ bản trong t duy mà theo đó thị tr-
ờng cả nớc đợc coi là một thể thống nhất, các quan hệ thị trờng đều đợc tính đến khi
đề ra các chính sách kinh tế.
Tiếp theo đó, để cụ thể hoá quan điểm này hàng loạt các văn bản của chính phủ đã ra
đời, trong đó Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII thực sự đã tạo ra một bớc ngoặt
trong chính sách quản lý nhà nớc và sự ra đời của Bộ luật Doanh nghiệp đã khẳng định
tính chất pháp lý của nền kinh tế thị trờng dựa trên sự đa dạng của các hình thức sở
hữu.
Từ năm 1996 tới nay, các chơng trình kinh tế trọng điểm đợc xác định là: chơng trình
phát triển công nghiệp, phát triển cơ sở hạ tầng, chơng trình phát triển khoa học công
nghệ, bảo vệ môi trờng sinh thái, chơng trình phát triển kinh tế dịch vụ, chơng trình
phát triển kinh tế đối ngoại, chơng trình phát triển các vùng lãnh thổ, chơng trình phát
triển kinh tế xã hội miền núi, chơng trình quốc gia xoá đói giảm nghèo và chơng trình
giải quyết các vấn đề xã hội. Những chơng trình kinh tế trọng điểm này đợc Nhà nớc
đặt ra nhằm mục tiêu thúc đẩy nền kinh tế nội địa, đa nớc ta theo kịp và sánh ngang
với các nớc trong khu vực và trên thế giới. Sự nỗ lực và quyết tâm của Đảng và Nhà n-

sắt thép phế liệu). Gắn với hạn ngạch là việc áp dụng rộng rãi chế độ cấp giấy phép đối
với hàng xuất khẩu (gạo và hàng dệt may) sang EU và hàng nhập khẩu (ô tô). Khi đợc
phân bổ, các giấy phép không đợc chuyển nhợng giữa những ngời có giấy phép. Việc
cấp phép trên cơ sở ai đến trớc phục vụ trớc. Thời gian sau, giấy phép xuất nhập khẩu
đợc phép chuyển nhợng giữa các doanh nghiệp. Điều này phần nào gây ra tình trạng
tiêu cực khi phân bổ giấy phép xuất khẩu. Bộ Thơng mại và Du lịch chỉ cấp giấy phép
cho các giao dịch thơng mại còn giấy phép cho những giao dịch phi mậu dịch do cơ
quan Hải quan cấp, buôn bán tiểu ngạch qua biên giới không cần có giấy phép. Trớc
năm 1986, các công ty thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu chỉ làm nhiệm vụ xuất
nhập khẩu cho các bộ chủ quản. Trong giai đoạn 1988-1990, các công ty này mặc dù
vẫn thuộc các bộ nói trên về mặt tài sản và nhân sự, nhng nó đã đợc tự chủ khi tiến
hành các hoạt động kinh doanh với bất kỳ một đơn vị kinh tế nào khác.
Trong lĩnh vực quản lý ngoại hối, những năm đầu đổi mới, ngoại hối bị quản lý đặc
biệt chặt chẽ. Nghị định số 161-HĐBT ngày 18/10/1988 ra đời đã đa ra những quy
định cụ thể về vấn đề này, theo đó: việc mua bán, trao đổi ngoại tệ trên thị trờng tự do
bị nghiêm cấm, hoạt động này phải đợc tiến hành thông qua ngân hàng hoặc các tổ
chức kinh doanh thu ngoại tệ; việc chuyển ngoại tệ ra nớc ngoài phải có giấy phép của
Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam và các tổ chức, công dân Việt Nam khi xuất khẩu hàng
hoá, dịch vụ có thu ngoại tệ đều phải gửi vào tài khoản tại ngân hàng, phải thực hiện
nghĩa vụ bán và thanh toán ngoại tệ cho Nhà nớc theo quy định; mọi hoạt động thanh
toán, mua bán và chuyển đổi ngoại tệ đợc áp dụng theo tỷ giá do Ngân hàng Nhà nớc
Việt Nam công bố.
Tuy nhiên một số chuyển biến tích cực trong chính sách quản lý xuất nhập khẩu bằng
các biện pháp phi thuế quan giai đoạn này cùng với chủ trơng của Nhà nớc về việc mở
rộng quan hệ thơng mại với các nớc đã góp phần vào sự tăng trởng có tính đột phá
trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Năm 1989, lần đầu tiên Việt Nam đã xuất khẩu gạo,
tổng kim ngạch xuất khẩu tăng từ 789 (triệu R-USD) năm 1986 lên 2402,2 (triệu R-
USD) năm 1990, tơng ứng với 304,46%. Tỷ lệ nhập siêu năm 1986 là 180,01% đã
giảm xuống chỉ còn 1,45% năm 1990.[13,27]
Năm 1988, có 28 doanh nghiệp nhà nớc giữ vai trò độc quyền trong hoạt động

nhập khẩu đợc điều chỉnh tuỳ điều kiện kinh doanh trong nớc và thế giới.
Từ năm 1992, chính sách đa phơng hoá, đa dạng hoá của Việt Nam từng bớc đợc đẩy
mạnh. Trong giai đoạn này, nhà nớc đã cho phép thành lập các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu ngoài quốc doanh, việc cấp giấy phép kinh doanh cũng trở nên rộng rãi hơn. Năm
1992, Việt Nam ký Hiệp định thơng mại u đãi với cộng đồng kinh tế châu Âu(EEC)
nay là Liên minh Châu Âu (EU) bao gồm có việc cấp hạn ngạch xuất khẩu cho hàng
dệt may.
Ngày 9/4/1992 Bộ Thơng mại và Du lịch ban hành danh mục hàng cấm xuất khẩu và
cấm nhập khẩu theo Quyết định Số 294/TMDL/XNK, hớng dẫn thực hiện Nghị định
Số 114/HĐBT. Danh mục này tiếp tục đợc thực hiện trong năm 1994. Đến ngày
19/4/1994 Nghị định 33/CP của Chính phủ ra đời và sau đó là Thông t Số 04
TM/TC/TCHQ của Tổng cục hải quan hớng dẫn thực hiện quy định việc bãi bỏ giấy
phép chuyến với các mặt hàng xuất khẩu (trừ những mặt hàng trong danh mục hàng
cấm xuất khẩu) hàng quản lý bằng hạn ngạch, hàng hoá có ảnh hởng lớn tới nền kinh
tế quốc dân và mặt hàng đợc quản lý theo cơ quan chuyên ngành.
Bên cạnh đó, từ năm 1990, Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh về tiêu chuẩn hàng hoá và
sau đó có rất nhiều tiêu chuẩn khác nhau đợc ban hành. Việt Nam cũng đã tiến hành
hệ thống hoá, quy chuẩn hoá theo tổ chức chất lợng quốc tế (ISO). Ngoài ra, hàng hoá
nhập khẩu vào Việt Nam cũng phải chịu sự kiểm dịch động vật, thực vật theo Quy chế
ban hành ngày 27/11/1993. Theo quy chế này, mọi phơng tiện vận tải, vật phẩm có
nguồn gốc thực phẩm và tác nhân sinh học có thể gây hại sinh thái khi nhập vào lãnh
thổ Việt Nam đều phải qua kiểm dịch. Việc ban hành các quy chế về tiêu chuẩn kỹ
thuật và kiểm dịch là những biện pháp cần thiết và chứng tỏ Việt Nam đang tiến đến
đáp ứng các đòi hỏi của thông lệ quốc tế. Vào năm 1993, hệ thống cấp phép thực hiện
cấp phép 6 tháng một lần cho 22 mặt hàng xuất khẩu và đến năm 1994, giấy phép theo
chuyến đã đợc dỡ bỏ đối với mọi mặt hàng xuất khẩu trừ gạo, gỗ xẻ và xăng dầu.
Cũng trong giai đoạn này, chủng loại hàng hoá đợc quản lý bằng hạn ngạch đã giảm
xuống. Tháng 1/1994, có hai mặt hàng mới đợc bổ sung vào những mặt hàng mà nớc
ngoài có áp dụng hạn ngạch (may mặc, dệt may, sắn lát, cà phê) là than và dầu thô.
Trong năm 1995, hạn ngạch xuất khẩu đã đợc loại bỏ đối với mọi loại hàng hoá trừ

tích cực. Chuyển biến tích cực đầu tiên là sự sửa đổi cơ bản cơ chế quản lý bằng giấy
phép xuất nhập khẩu theo Nghị định 89/CP của Chính phủ ban hành ngày 15/12/1995.
Theo tinh thần của Nghị định này, quy định về giấy phép nhập khẩu và xuất khẩu cho
từng chuyến hàng sẽ đợc bãi bỏ. Đến năm 1996, chỉ còn 6 mặt hàng bị quản lý nhập
khẩu (xăng dầu, phân bón, xi măng, đờng, ô tô xe máy và sắt thép xây dựng), giảm 1
mặt hàng so với năm 1995. Năm 1997, chuyển biến có cả tích cực và tiêu cực do việc
cấp hạn ngạch xuất khẩu gạo đợc giao cho ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan dới sự
quản lý của Trung ơng. Động thái này đã mở đờng cho việc xuất khẩu gạo trực tiếp
của khu vực ngoài quốc doanh. Tuy nhiên, để đạt đợc cân đối quốc gia, Nhà nớc quy
định tăng số hàng quản lý bằng hạn ngạch nhập khẩu, quy định dán tem một số hàng
nhập khẩu khi tiêu thụ trên thị trờng nội địa theo Quyết định Số 839 TC/QĐ/TCT có
tác dụng từ ngày 15/10/1997. Tháng 3/1998, số hàng nhập khẩu phải dán tem đợc mở
rộng thêm, theo đó những mặt hàng chịu sự quản lý của biện pháp này là xe đạp, rợu,
quạt điện, vô tuyến, điều hoà nhiệt độ, tủ lạnh, đầu máy video và thiết bị vệ sinh.
Cũng trong năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định Số 57/1998/NĐ-CP ngày
31/7/1998 quy định chi tiết thi hành Luật Thơng mại về hoạt động xuất khẩu, nhập
khẩu, gia công và đại lý mua bán với nớc ngoài. Theo Nghị định này, tất cả các doanh
nghiệp đợc tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu trong phạm vi giấy phép kinh
doanh mà không cần phải có giấy phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Bộ luật này đợc
đánh giá là khá thông thoáng, là căn cứ cho các doanh nghiệp chủ động tham gia vào
các hoạt động xuất nhập khẩu.
Ngày 30/12/1999, Thủ tớng Chính phủ ban hành Quyết định Số 242/1999/QĐ-TTg về
điều hành xuất nhập khẩu hàng hoá năm 2000, theo đó Danh mục hàng hoá nhập khẩu
có giấy phép của Bộ Thơng mại có một số thay đổi. Các mặt hàng: xăng dầu, phân bón
và rợu đã đợc đa ra khỏi danh mục, thay vào đó là hai mặt hàng gạch lát và dầu thực
vật tinh chế dạng lỏng. Ngày 1/1/1999, Luật Thuế giá trị gia tăng có hiệu lực thi hành,
với những quy định miễn thuế cho các sản phẩm đầu vào nhập khẩu để sản xuất hàng
xuất khẩu, Luật thuế này có thể đợc coi là một biện pháp phi thuế có tác dụng khuyến
khích xuất khẩu. Cùng thời điểm, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt cũng có hiệu lực và đợc
xem là một biện pháp bảo hộ do có quy định những mức thuế khác nhau đối với các

Bảng 2.1 : Các biện pháp phi thuế quan đang đợc áp dụng ở Việt Nam
stt
Các biện pháp
phi
thuế quan
Các lĩnh vực áp dụng Mục tiêu
1
Hạn ngạch
nhập khẩu
Xăng dầu Bình ổn giá và đảm bảo
việc cung cấp cho ngời tiêu
dùng trong nớc.
2
Giấy phép
nhập khẩu của
Bộ Thơng mại
Xi măng, kính, thép,
dầu thực vật, đờng, ô tô,
xe máy.
Bảo hộ sản xuất trong n-
ớc,
Bảo hộ quyền kinh
doanh của một số công ty
trong nớc
Tiết kiệm ngoại tệ.
3
Hàng hoá
chịu sự quản lý
chuyên ngành
của bộ chủ quản

dùng đã qua sử dụng,
phụ tùng ô tô đã qua sử
dụng, máy và phần mềm
bảo vệ bí mật quốc gia.
Bảo vệ các giá trị văn
hoá, xã hội, sức khoẻ nhân
dân và môi trờng,
Đảm bảo các tiêu chuẩn
kỹ thuật,
Bảo vệ ngành SX trong
nớc.
6
Quá trình
phân bổ các hạn
chế về số lợng
nhập khẩu
Tất cả các ngành,
lĩnh vực chịu hạn chế về
số lợng nhập khẩu.
Phân phối lợi tô phát
sinh từ hạn chế về số lợng
nhập khẩu,
Bảo hộ các doanh nghiệp
đợc u ái.
7
Một hoặc
một số ít kênh
nhập khẩu
Xăng dầu, xi măng,
rợu và dợc phẩm.

Thuế giá trị
gia tăng (VAT)
Miễn thuế đối với
các đầu vào nhập khẩu
để sản xuất hàng xuất
khẩu và nhập khẩu t liệu
sản xuất không sản xuất
đợc ở Việt Nam
Giảm trừ mức thuế
VAT với đờng sản xuất
trong nớc.
Khuyến khích sản xuất
hàng xuất khẩu
Bảo hộ ngành sản xuất
trong nớc
Nguồn thu.
11
Yêu cầu về
tiền mặt
Hàng tiêu dùng
(không cho phép sử
dụng th tín dụng trả
chậm)
Cho một số mặt hàng
nhất định.
Quản lý nợ nớc ngoài
ngắn hạn
Bảo hộ ngành công
nghiệp trong nớc
Mối lo về cán cân thanh

cân đối ngoại tệ
Ưu tiên tiếp cận đến
các dự án cơ sở hạ tầng
và thay thế nhập khẩu.
Giới hạn ngoại tệ mang
ra ngoài biên giới.
15
Các yêu cầu
về bán ngoại tệ
cho ngân hàng
Để mở Tính thanh khoản của thị tr-
ờng ngoại hối
Hạn chế đầu cơ nhằm chống
lại sự mất giá của Đồng Việt
Nam.
16
Các biện
pháp đầu t, thúc
đẩy xuất khẩu
và chính sách
công nghiệp
Nhiều loại Khuyến khích xuất khẩu,
phát triển công nghiệp.
Nguồn:
- Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/07/1998
- Nghị định số 44/2001/NĐ-CP ngày 02/08/2001
- Quyết định số 46/2001/QĐ ngày 04/04/2001
- Nghị định số 63/1998/NĐ-CP ngày 17/8/1998
- Quyết định số 34 và 35/2001/QĐ-BTC ngày 18/4/2001
- Thông t số 11/2001/TT-BTM ngày 18/4/2001.

hoặc tham gia cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật vị nghiên cứu, trao đổi khoa học kỹ thuật
(Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý).
- Chất gây nhiễm: Chất hớng tâm thần và tiền chất; Thuốc hành phẩm phòng và chữa
bệnh cho ngời: nguyên liệu sản xuất thuốc, dợc liệu, tá dợc, vỏ nang thuốc, bao bì tiếp
xúc trực tiếp với thuốc; Mỹ phẩm ảnh hởng trực tiếp đến sức khoẻ con ngời; Vắc xin,
sinh phẩm miễn dịch; Thiết bị y tế có khả năng gây ảnh hởng trực tiếp đến sức khoẻ
con ngời; Hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng
và y tế (Bộ Y tế quản lý).
- Tem bu chính, ấn phẩm tem và các mặt hàng tem bu chính; thiết bị phát, thu - phát
sóng vô tuyến điện; thiết bị ra đa, thiết bị trợ giúp bằng sóng vô tuyến và thiết bị điều
khiển xa bằng sóng vô tuyến, tổng đài dung lợng lớn và nhỏ, thiết bị truy nhập mạng
sử dụng giao điện V5.1 và V5.2; tổng đài PABX; thiết bị truyền dẫn; Cáp sợi quang;
cáp thông tin kim loại ; thiết bị điện thoại không dây; thiết bị đầu cuối kết nối vào
mạng PSTN, ISDN, máy Telex, máy fax, máy nhắn tín, máy điện thoại di động (Tổng
cục Bu Điện, nay là Bộ Bu chính - Viễn thông quản lý).
- Sách báo, phim điện ảnh, phim video, vật thể ghi hình, ghi tiếng, các văn hoá phẩm
thuộc loại cấm phổ biến, lu hành, các loại ẩn phẩm tác phẩm điện ảnh, tác phẩm nghệ
thuật, hệ thống chế bản và sắp chữ chuyên dùng cho ngành in, máy in, máy in gia
nhiệt, máy in laser màu.v.v. (Bộ Văn hoá - Thông tin quản lý).
- Thiết bị, máy móc chuyên ngành ngân hàng (Ngân hàng Nhà nớc quản lý).
- Một số chủng loại khoáng sản, hoá chất độc hại, Natri Hyđroxyl dạng lỏng và một số
axit (Bộ Công nghiệp quản lý).
Trên thực tế, chức năng điều tiết và quyền quản lý các mặt hàng nhập khẩu đợc phân
chia giữa các Bộ vẫn không rõ ràng. Do đó, một Bộ chủ quản có thể quản lý vợt ngoài
khuôn khổ của những mục tiêu cơ bản ban đầu của sự điều tiết. Chẳng hạn, Bộ Y tế
công bố việc nhập khẩu một số dợc phẩm sẽ bị cấm do khả năng sản xuất trong nớc
đạt đợc mức độ đủ để đáp ứng nhu cầu. Nh vậy, Bộ Y tế dờng nh có cả mục tiêu về y tế
lẫn mục tiêu bảo hộ.
c. Các biện pháp quản lý về giá
Trị giá tính thuế hải quan

Tổng cục Hải quan ban hành.
Nhận xét: áp dụng giá tính thuế tối thiểu đã làm tăng thêm thuế nhập khẩu, tăng chi
phí nhập khẩu hàng hoá và có tác dụng nh một hàng rào phi thuế quan. Nhng trong
nhiều trờng hợp, giá tính thuế tối thiểu không thể ngăn chặn đợc gian lận thơng mại
qua giá. Trên thực tế, ngời bán và ngời mua thông đồng với nhau ghi giá trên hợp
đồng, trên hoá đơn thấp hơn nhiều so với giá thực tế của hàng hoá đó (thờng bằng 70%
giá tối thiểu để đợc hởng giá tính thuế trên hợp đồng).
Việc áp dụng giá tính thuế còn tạo nên sự phân biệt đối với hàng hoá có xuất xứ từ các
nớc khác nhau. Theo các quy định của Tổng cục Hải quan năm 1999, những mặt hàng

Trích đoạn Các biện pháp bảo hộ phi thuế khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status