I
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TẾ
VÀ KINH
DOANH
QUỐC TÊ
CHUYÊN NGÀNH
KINH
TẾ
Đối
NGOẠI
ỈOCQGÍÌ
KHOA
LUẬN
TỐT
NGHIỆP
ĐỂ TẢI:
GIẢI PHÁP GIÚP CÁC
DOANH
NGHIỆP XUẤT KHẨU
VIỆT
NAM
VƯỢT
QUA
BẢO HỘ PHI
THUÊ
QUAN
TRONG
THƯƠNG MẠI
QUỐC
TÊ 3
1.
Khái
niệm
các
biện
pháp
bảo
hộ
phi thuế
quan
3
2.
Các
biện
pháp bảo hộ
phi thuế
quan phổ
biến trong
thương
mại quốc
tế
và
một
9
2.3.
Quyền
kinh
doanh
của
các doanh
nghiệp
12
2.4.
Các
rào cản kỹ
thuật
12
2.5.
Các
biện
pháp liên
quan đến đầu
tư
nước
ngoài
16
2.6.
Quản
lý
điều
tiết
nhập khẩu
thông
quốc
tế.
20
3.1.
Tác
động
tích
cực
20
3.2.
Tác
động
tiêu
cực
21
CHƯƠNG
2:
THỰC TRẠNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC
BIỆN
PHÁP
BẢO
HỘ
PHI
THUẾ
QUAN
TỚI
HÀNG
HÓA XUẤT KHAU CỦA
VIỆT
NAM
năm
gần
đây
27
2.1.
Kim
ngạch
xuất
khẩu
hàng hóa
27
2.2.
Cơ
cấu
hàng hóa
xuất
khẩu
31
2.3.
Cơ
cấu
thị
trường
xuất
khẩu
33
3.
Tác
động của các
biện
CÁC
DOANH
NGHIỆP
XUẤT
KHẨU
VIỆT
NAM
VƯỢT
QUA CÁC
BIỆN PHÁP
BẢO HỘ PHI
THUÊ
QUAN 61
1.
Định hướng
xuất
khẩu của
Việt
Nam
trong
nhằng
năm
tới
61
2.
Xu
hướng
áp
dụng các
biện
mà
các
doanh
nghiệp xuất
khẩu
Việt
Nam
gặp
phải
khi
đối
mặt
với
các
biện
pháp bảo hộ
phi thuế
quan
68
3.2.
Một số
giải
pháp giúp các
doanh
nghiệp xuất
khẩu
Việt
Nam
vượt
qua
giai
đoạn
2001-2005
27
Bảng
2:
Kim
ngạch
xuất
khẩu
hàng hóa
theo
tháng 29
Bảng 3: Kim
ngạch
xuất
khẩu
một số mặt hàng
trong
quý 1/2009
theo
mặt
hàng 30
Bảng
4:
Cơ
cấu
hàng
xuất
khẩu
cấu
thị
trường
xuất
khẩu
hàng da giày
Việt
Nam năm 2008 47
Bảng
8:
Kim
ngạch
xuất
khẩu
thủy
sản
Việt
Nam
2000-2008
52
Bảng
9:
Định hướng về
kim ngạch
và
tốc
độ tăng trưởng
xuất
khẩu
62
thống
hạn
ngạch
thuế
quan
8
Hình
2:
Mô hình
cung-
cầu và
tác
động
của
biện
pháp
phi thuế
quan
24
Hình
3:
Kim
ngạch
xuất
khẩu
hàng hóa
2001-
2008 28
Hình
4:
Hình
7:
Kim
ngạch
xuất
khẩu
hàng da giày
Việt
Nam 1995
-
2008 46
Hình
8:
Kim
ngạch
xuất
khẩu
thủy
sản
Việt
Nam 53
Hình 9: T
trọng
lô hàng
thủy
sản
xuất
khẩu
của
Việt
triển
trong
khu vực phát
triển
kinh tế
năng động của
thế
giới
cũng
không
thể
nằm
ngoài xu
hướng đó.
Quá trình
hội
nhập
kinh tế
quốc
tế,
trong
đó
điển
hình là
việc
Việt
Nam chính
thức gia
nhập
vào
thị
trường
xuất
khẩu
ngày càng mở
rộng
trong
những
năm gần đây là
minh chứng
rõ
ràng
nhất
cho nhận
định
đó.
Tuy
nhiên,
việc
đẩy
mạnh
hoạt
động
xuất
khẩu cũng
đồng
nghĩa với
việc
các
doanh
tham
gia
vào quá
trình toàn cầu
hóa,
Việt
Nam
hiện
gặp
rất nhiều trở ngại tở
các
biện
pháp
phi
thuế
quan
hết
sức đa
dạng
và
tinh
vi
được các
quốc
gia
áp
dụng
trong
thương
mại
hoạt
động
xuất
khẩu
đang gặp
nhiều
khó khăn do
cuộc khủng hoảng
kinh tế thế
giới
gây
ra.
Xuất
phát
tở
nhận
thức
về tầm
quan
trọng
của vấn
đề mang tính
thời
sự
này,
với
mong muốn tìm
hiểu
sâu hơn về các
biện
pháp
giúp các doanh
nghiệp xuất
khẩu
Việt
Nam
vượt
qua các
biện
pháp bảo hộ
phi thuế quan" làm đề
tài
khóa
luận
tốt
nghiệp.
Ì
Luận
văn
tập trung
tìm
hiểu
những
vấn đề lý
luận
về hệ
thống
các
biện
pháp bảo hộ
giải
pháp
cho
các
doanh
nghiệp
xuất
khẩu
nhựm
vượt
qua các
biện
pháp bảo hộ
phi thuế
quan.
Trong
phạm
vi
nghiên cứu của một
luận
văn,
tôi
xin
được đề cập đến 3 mặt hàng
xuất
khẩu
của
Việt
Nam là hàng
dệt
tới
xuất
khẩu
của
những
mặt hàng này sẽ
mang
đến một cái
nhìn
tổng
quan
về tác động của các
biện
pháp
phi thuế
quan
đến
hoạt
động
xuất
khẩu
nói
chung của
nước
ta.
Khóa
luận
được hoàn thành
trên
cơ
nội dung
của khóa
luận
bao gồm 3
chương như
sau:
Chương
ỉ:
Khái quát chung về các
biện
pháp bảo hộ phi
thuế
quan
trong thương
mại quốc tế
Chương
2:
Thực
trạng
về
tác
động của các
biện
pháp bảo hộ
phi
thuế
quan
tới
hàng hóa
xuất
tới
các
Thầy,
Cô giáo đã dạy
tôi
tại
trường
Đại
học
Ngoại
thương
trong suốt
thời
gian
qua!
Do
kiến thức
và
nguồn
thông
tin
còn hạn
chế
nên
luận
văn không
thể
tránh
khỏi
những
bối
cảnh
toàn cầu hóa
hiện
nay,
hoạt
động
ngoại
thương
diễn
ra
giữa
các
quốc
gia
ngày càng phổ
biến.
Mỗi
quốc
gia khi gia
nhập
vào
hoạt
động
chung
đó đều có
những
chính sách thương mại
quốc
tế
dụng
để
thực hiện
các
mục
tiêu xác định
trong lĩnh
vực
ngoại
thương của một
đất
nước
trong
một
thời
kỳ
nhất
định.
Khi
để cập đến chính sách thương mai
quốc
tế,
không
thể
không nói
đến
các
biện
pháp
phi
các
biện
pháp
phi thuế
quan
có tính
chất hết
sức
phức
tạp
về
chủng
loại
và
vai
trò nên
việc
định
nghĩa
là không hề dễ dàng. Trên
thế
giới
hiện
nay đã có
rất nhiều
quan
niệm
về
biện
pháp
thông qua
việc
phân
biệt
hàng nước ngoài va hàng
nội địa.
Tổ
chức
hợp tác và phát
triển
kinh
tế
(OECD)
năm 1997 thì đưa
ra
định
nghĩa:
"Biện
pháp
phi thuế
quan
là
những
biện
pháp biên
giới
nằm ngoài phạm
vi thuế
quan
có
một cách có
hiệu
quả
việc
nhập khẩu hoặc
xuất
khẩu
hàng
hóa.
Bên
cạnh đó,
chúng
ta
đề cập đến định
nghĩa
về
biện
pháp
phi thuế
quan
của WTO:
"Biện
pháp
phi
thuế
quan
là
những
biện
pháp ngoài
dù
là
theo
quy định pháp lý hay
tồn
tại
trên
thực
tế,
ảnh
hưởng
đến mằc độ và phương
hướng
nhập khẩu
được
gọi
là các
biện
pháp
phi thuế
quan.
Như
vậy,
có
thể hiểu
rằng
biện
pháp
phi thuế
quan là
biện
pháp bảo hộ
phi thuế
quan
là hạn
chế
hàng hóa
nhập khẩu
nhằm đảm bảo sự
an
toàn,
lợi
ích của
người
tiêu dùng,
hướng
dẫn tiêu dùng,
cũng
như bảo vệ
môi trường
trong
nước.
Tuy
nhiên,
hiện
nay,
bên
cạnh những
mục tiêu trên,
các
gọi
là
các
biện
pháp bảo hộ
phi
thuế
quan.
Bên
cạnh đó,
một
số quốc
gia
còn sử
dụng
biện
pháp
phi thuế
quan
như
là
một công cụ dùng để phân
biệt
đối
xử
trong
quan
hệ
quốc
tế.
định
lượng
có
nghĩa
là các cấm đoán
hoặc
hạn
chế
thương mại
với
quốc
gia
khác,
dù
thực hiện
bằng
hạn
ngạch,
giấy
phép
hoặc
các
biện
pháp có tính
chất
tương
tự,
kể cả các
biện
pháp và các yêu cầu
tự
an
toàn xã
hội,
thậm chí
nhằm bảo hộ một
số
ngành
sản
xuất trong
nước
và
quyền
lợi
của
người
tiêu
dùng.
Do đây
là
biện
pháp bảo hộ gây
ra
hạn
chế
lớn
nhất
đối với
thương mại
quốc
thể
áp
dừng
trên
cơ
sở không
phân
biệt
đối
xử
trong
một số trường hợp sau
(quy
định
tại
điều
XXI-
GATT
1994):
cần
thiết
để
đảm
bảo an
ninh
quốc
gia;
cần
thiết
để
quốc
gia
về
nghệ
thuật,
lịch
sử hay
khảo cổ;
cẩn
thiết
để
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
khan
hiếm.
Ngoài
ra, tại
điều
X- GATT
1994 còn quy
định:
được áp
dừng
một cách
tạm
thời
để ngăn cản hay
giảm
bót sự
khan
hiếm
về
từ
một
thị
trường
nào đó,
trong
một
thời
gian
nhất
định (thường
là Ì
năm).
Thông
thường,
hạn
ngạch
nhập khẩu
được áp
dừng bằng
cách
cấp
giấy
phép
nhập khẩu
cho một
số
công
ty.
loại
hạn ngạch sau:
Thứ
nhất
là
hạn
ngạch quốc
gia,
trong
trường hợp
thị
trường
nhập khẩu
hoặc
xuất
khẩu là
một
quốc
gia;
5
Thứ hai
là hạn
ngạch
khu
vực, trong
trường hợp
thị
trường
nhập
khẩu
định lượng quy định "các
bên ký
kết
không được duy
trì
hoặc
tạo ra
các
điều
cấm
hoặc
hạn
chế
nào khác
trừ
thuế
quan,
các
khoản
thu
khác,
dù mang hình
thức
hạn
ngạch,
giấy
phép
xuất
khẩu
hoặc
gia
áp
dụng
trong
một
số
trường hợp đặc
biửt
như nhằm
khắc
phục
tạm
thời
tình
trạng
thiếu
lương
thực;
bảo vử tình hình
tài
chính
đối ngoại trong
trường hợp thâm
hụt
nghiêm
trọng
về dự
trữ
tiền tử;
bảo vử đạo đức xã
khan
hiếm.
Theo
hiửp
định về
tự
vử (WTO), các
quốc
gia
cũng
có
thể
áp
dụng
các
biửn
pháp
tự
vử như hạn
ngạch,
giấy
phép
nhập
khẩu
hay phụ
thu khi
có sự
tăng
đột biến
của
nhập
khẩu
không tăng nhưng
thị
phần
hàng
nhập
khẩu
tăng so
với thị
phần
hàng
sản xuất trong
nước).
Khi
xảy
ra hiửn
tượng
này,
các công
ty trong
nước có
thể
yêu
cầu
chính
phủ
tiến
hành
điều
các
biửn
pháp
tự vử
hay
không,
cơ
quan
điều
tra
cần
phải
xác định
rằng
ngành
sản xuất trong
nước đã
chịu
hoặc
đang có
nguy
cơ bị
6
thiệt
hại
nghiêm
trọng.
Và
thiệt
hại
đấi với
hàng
nhập khẩu
từ
một nước đang phát
triển
nếu hàng
nhập khẩu từ
nước đó
chiếm
hơn 3%
tổng
nhập
khẩu,
hoặc
nếu hàng
nhập
khẩu
không
chiếm
hơn 3% nhưng
cộng
gộp hàng
nhập khẩu
từ
tất
cả các nước
đang phát
triển
thỏa
thuế
quan
nên được
gọi
là hạn
ngạch
thuế
quan.
Hạn
ngạch
thuế
quan
(Tariff
quota)
là cơ
chế cho
phép duy
trì
thuế suất thấp
áp
dụng
với
hàng
nhập khẩu
trong
phạm
vi
hạn
ngạch
và mức
Hạn
ngạch
thuế
quan
bao gồm 3 bộ
phận:
Thứ
nhất
là hạn
ngạch
quy định lượng hàng hóa
tấi
đa được phép
nhập
khẩu
(Quota);
Thứ
hai
là
thuế
quan
trong
hạn
ngạch
(In-
Quota
tariff);
Thứ
ba
là
phải
được các
quấc
gia
thông báo rõ ràng
cho
WTO và các
quấc
gia
thành viên khác.
7
Một
hệ
thống
hạn
ngạch
thuế
quan
có
thể
có
dạng
như
sau:
Hình
1:
Ví dụ
vê
hệ thống hạn ngạch
thuê
lượng
nhập
khẩu
nằm
dưới
hạn
ngạch
(dưới
1000
tấn)
chịu
mức
thuế
chung
10%.
Lượng
nhập
khẩu
ngoài hạn
ngạch
chịu
mức
thuế
80%.
2.1.3. Giây
phép nhập khẩu hàng hóa
Giấy
phép
nhập
khẩu
phải xuất
trình
cơ
quan
Hải
quan
kiểm
tra,
nên được áp
dụng
rộng
rãi
hơn.
Biện
pháp này được áp
dụng
với
những
mục đích
sau:
Thứ
nhất
là
quản
lý được lượng hàng hóa
xuất đi,
nhập
về
phục
vụ cho
Có
hai
loại
giấy
phép
nhập
khẩu
thường gặp là
giấy
phép
tự
động và
giấy
phép không
tự
động.
Giấy
phép
tự
động là một văn bản cho phép
thực
8
hiện
ngay
lập
tức
không có
điều
kiện
gì
năm
1994
bao gồm một
số quy
định về
giấy
phép
nhập
khẩu
như
sau:
Thứ
nhất
là
quy
định
đối với
cơ quan cấp
giấy:
• Chế độ cấp và
quản
lý
giấy
phép không
phiền
toái hơn mức cặn
thiết.
Cơ
quan
cấp
ngày nộp hồ sơ
trong
trường
hợp xem xét
tất
cả các hồ sơ cùng một lúc.
•
Nội
dung
phải
minh
bạch,
rõ ràng và có
thể
dự đoán
trước.
• Không có
những
quyết
định độc đoán
đối với
nhà
nhập
khẩu
và nhà
sản
xuất
nước ngoài.
• Các
thủ tục
do yêu
cặu cấp
phép
đặt
ra.
Thứ
hai là
quy
định
với
các nước
thành viên:
Các
quốc
gia
thành viên
phải
công bố
tất
cả quy định về
thủ tục
cấp phép
nhập
khẩu,
để các nhà
nhập
khẩu,
xuất
khẩu
và Chính phủ
pháp
tương
đương thuế quan
Các
biện
pháp tương đương
thuế
quan
là các
biện
pháp làm tăng giá
hàng
nhập
khẩu
theo
cách tương
tự thuế
quan.
9
2.2.1.
Xác
định trị
giá
hải
quan
Trị
giá
hải
quan
là
hải
quan).
Hiệp
định về
trị
giá
hải
quan
được ký
kết
nhằm đảm bảo giá
trị
hàng hóa
nhập
khẩu
được xác
định
một cách khách
quan
và công
bằng,
phát huy tác động tích cực
tới
các
ràng
buộc
thuế
đã
đặt
được
Trị giá
giao dịch
của hàng
giống
hệt
Hàng hóa được
coi
là
giống
hệt
là
những
hàng hóa
giống
nhau
về tính
chất
và đặc
điểm,
chất
lượng
và
danh
tiếng,
được sản
xuất
ở cùng một nước
với
hàng hóa đang được xác
định
hiện
chức
năng và có
thể
thay thế lẫn
nhau
về mặt thương phẩm". Số
lượng
của
hàng
hóa,
uy
tín cũng
như mẫu mã là
những
yếu
tố
được
xem
xét
khi
xác
định
tính
tương
tự
của
hàng hóa đó.
2.2.1.4.
Trị giá
phí
sau:
Phí hoa
hồng
và
chi
phí
quản
lý
chung;
cước phí
vận
tải
bảo
hiểm;
chi
phí và phí tính gộp
theo; lệ
phí
hải
quan
và
thuế
hải
quan của
nước
nhập
khẩu.
10
2.2.1.5.
loại
từ
nước
người
xuất
khẩu sang
nước
người
nhập
khẩu.
2.2.1.6.
Phương pháp dự phòng
Việc
xác định giá tính
thuế
hải
quan
tùy
tiện
có
thố
bóp méo
kinh
doanh
xuất
nhập khẩu
hàng
hóa.
Do
đó,
đặc
biệt
là
đối với
những
nhà
xuất
khẩu
không có
khả
năng
cạnh
tranh
cao.
2.2.2.2.
Giá bán
tối
thiểu
- Giá sàn
Đây là
việc
một chính phủ quy định mức giá
sàn,
áp
dụng
với
việc
mua
hàng hóa
xuất
nhập
khẩu.
Mục đích nhằm hạn
chế
mức giá
thấp
hơn của hàng
nhập khẩu
đố bảo đảm sức
cạnh
tranh
của hàng sản
xuất
nội
địa
nước
nhập
khẩu.
2.2.2.4.
Phụ
thu
Phụ
thu
là phần
thu
thêm ngoài
thuế
nhập
khẩu.
Vì
kinh
doanh của
các
doanh
nghiệp
2.3.1.
Quyền
kinh
doanh nhập khẩu
Chính phủ nước
nhập khẩu
sẽ có Nghị định riêng quy định về
việc
cấp
phép
kinh
doanh nhập khẩu
cho các
doanh
nghiệp
nhằm phù hợp
với
nhu cầu
hội
nhập
kinh tế
quốc
tế
và đảm bảo
những
những
mặt hàng
quản
lý
theo
đẩu
mối
sẽ
được
tồ
chức
đấu
thầu
dể
giao
cho
những doanh
nghiệp
nhập khẩu
có
hiệu
quả
nhất.
2.4.
Các
rào
cản kỹ
thuật
Khi
nhập khẩu
chất
lượng
phù hợp
với
yêu
cầu.
Hơn
nữa,
các rào
cản
này giúp các nhà sản
xuất
có
thể
sản
xuất theo
quy mô
lớn theo
một thông
số
nhất
định.
Còn
đối với
người
bán,
đó
là
có
thể
Hiện
có
rất nhiều
các rào cản kỹ
thuật
được áp
dụng
trong
thương mại
quốc
tế.
Sau đây
là
một
số
rào
cản
kỹ
thuật
phồ
biến:
2.4.1.
Các quy
định tiêu
chuẩn kỹ
thuật
Các tiêu
chuẩn
kỹ
thuật
chuẩn
có
thể
là
áp
dụng
tự
nguyện,
tuy
nhiên
cũng
có
thể
là
bắt
buộc
theo
các
quyết
định ban
hành,
đặc
biệt
là
tại
các
thị
trường
quốc
tế
thuật
ra
đời
từ
đòi
hỏi thực tế
của đời sống
xã
hội.
Tuy
nhiên,
trên
thực
tế,
các
quốc gia
nhập khẩu
thường khéo léo sử
dụng
các tiêu
chuẩn
này như một công cụ để
tạo
lới
thế
cạnh
tranh
trên
thị
trường
có một
số
tiêu
chuẩn
kỹ
thuật
quốc
tế
đước
áp
dụng
rộng
rãi
như hệ
thống
HACCP
(Hazard Analysis
and
Critical
Control Points-
Phân tích mối
nguy
và
xác định các
điểm
kiểm
soát
giới
hạn).
Đây là một hệ
hiện
các
biện
pháp
kiểm
soát
điểm
tới
hạn.
Ngoài
ra,
hệ
thống
quản
lý
chất
lướng ISO
cũng
đước áp
dụng
rộng
rãi.
Đây là hệ
thống
quản
lý
chất
lướng
tập
trung
thuật trong
thương mại
(TBT). Hiệp
định này đề
ra
các nguyên
tắc
chính
như:
không phân
biệt
đối
xử,
không cản
trở
thương
mại,
công
khai
minh bạch
về các
biện
pháp
kỹ
thuật
mà các nước sử
dụng,
hài hòa tiêu
chuẩn quốc gia
với
13
đối
xử bình đẳng
đối
với
hàng hoa
từ
các
quốc
gia
khác
nhau,
xây
dựng
hệ
thống
hỏi
đáp thông
tin
về
các yêu
cầu
kỹ
thuật đối với
hàng hóa ở
mỗi
nước.
2.4.2.
Kiểm
dịch
chế
biến,
các
thủ tục
xét
nghiệm,
giám
định,
chứng nhận
và
chấp
nhận,
những
xử
lý
cách
ly
bao
gẩm các yêu
cầu
liên
quan gắn vái vận chuyển
cây
trẩng
và
vật
nuôi hay các
chất
nuôi
dưỡng
biện
pháp
về vệ
sinh
và
kiểm
dịch
động
thực vật
-
SPS).
Biện
pháp này được áp
dụng
nhằm mục đích bảo vệ tính
mạng,
sức
khỏe
con
người,
vật
nuôi,
động
thực vật
thông qua
việc
bảo đảm an toàn
thực
phẩm và ngăn
chặn sự
thái
khi
thâm
nhập
vào lãnh
thổ
của nước
nhập khẩu
đều
phải
qua
kiểm
dịch.
Điều
3,
hiệp
định SPS,
khuyến
khích các nước thành viên
thiết
lập
các
biện
pháp
kiểm
dịch
động
thực vật
phù hơp
với
tế.
Tuy
nhiên,
nếu
tiêu
chuẩn
được
lựa chọn
gây cản
trở
thương mại
hoặc
cao hơn tiêu
chuẩn
quốc
tế
thì quốc
gia
đó
phải
đưa
ra
các
bằng
chứng khoa học (dựa
trên
kết
quả
đánh giá
nguy
thống
văn bản pháp
luật,
là công cụ bảo hộ
hết
sức
hữu
hiệu,
đặc
biệt
tại
các nước phát
triển.
Các
điều
khoản
của WTO đòi
họi
các tiêu
chuẩn
nội
địa của các
quốc
gia
ký
kết phải
căn cứ vào các tiêu
chuẩn quốc
tế
trừ
gia
đều có các yêu
cầu
về nhãn mác phù hợp
với
tiêu
chuẩn
CODEX
là
tiêu
chuẩn
gắn nhãn mác
thực
phẩm được
quốc
tế
công
nhận.
Đây
là bộ tiêu
chuẩn
được xây
dựng
và phát
triển
bởi
Uy ban
Thực
phẩm
quốc
đó có một số quy định cơ
bản
như:
Tất
cả các sản phẩm
phải
dán nhãn nêu rõ tên sản phẩm, tên nước
xuất
xứ,
nguyên
liệu,
khối
lượng
tịnh,
thời
hạn sử
dụng,
phương pháp chế
biến,
bảo
quản,
ghi
rõ tên và địa
chỉ
nhà sản
xuất,
nhà
nhập khẩu.
Ngoài
ra,
quốc
gia hết
sức
coi
trọng.
Các
biện
pháp này
rất
phong phú,
có
thể
là
các quy định cụ
thể
về nhãn mác
sinh
thái,
mức độ ô
nhiễm,
hàm lượng các
chất
có
hại
cho môi
trường,
khả năng tái
chế của
bao
bì,
sử dụng
cho môi
trường,
thay đổi
cách ứng xử
của
cá nhân và
tập
thể đối với
các
hoạt
động có liên
quan
đến môi trường và
thu
các quỹ cho
các
hoạt
động bảo vệ môi trường.
15
Tác động của các quy định về môi trường có
thể
nhìn
thấy
rõ ràng là
góp
phần
hạn
chế những
mặt
cũng
gây
ra những
tác động hạn
chế
đối với
thương
mại,
đặc
biệt
là
khi
được
áp
dụng
một cách có chủ ý như một công cụ bảo hộ
phi thuế
quan đối
với
các nước đang phát
triển.
2.5.
Các
biện
pháp
liên
quan đến đầu
tư
nước ngoài
Hiện
ngoại tệ.
Tuy
nhiên, WTO
cũng
có quy định các
quốc
gia
có
thể
áp
dụng
các
biện
pháp đầu tư liên
quan
đến thương mại
(TRIMs)
nhưng
phải
phù hợp
với
nguyên
tắc
tối
huệ
quốc
(MEN),
đối
xử
quốc
phải
loại
trừ
trong
một
thời
gian
nhất
định.
2.6.
Quản
lý
điều tiết
nhập khẩu
thông
qua
các
hoạt
dộng
dịch
vụ
Nhiều
ngành
dịch
vụ liên
quan
đến
hoạt
động thương mại thường được
Nhà nước sử
hành chính
Bên
cạnh
các
biện
pháp
trên,
các
quốc
gia
còn có
thể
áp
dụng
các
biện
pháp
quản
lý hành
chính.
Một số
biện
pháp này
cũng
có
thể
gây
ra
những
trở
cọc
một
khoản
tiền
nhất
định.
Biện
pháp
thứ hai
là hàng
đổi
hàng:
Một số mặt hàng muốn
nhập khẩu
phải
gắn
xuất
khẩu
hàng hóa sản
xuất
chủ yếu
tụ nguồn
nguyên
liệu
trong
nước.
Biện
pháp
thứ
ba là
thầu
quốc
tế trong
mua sắm
của
Chính
phủ.
Biện
pháp
thứ
năm
là
quy
tắc xuất xứ:
Công cụ này được
nhiều
nước áp
dụng
để bảo hộ sản
xuất
trong
nước và
thực hiện
chính sách thương
mại.
Các
quốc
gia
có
thể
có
thể
áp
dụng
các
biện
pháp bảo hộ thương mại tạm
thời
trong
trường hợp
cạnh
tranh
không lành
mạnh
hoặc bị
áp
dụng
chính sách phân
biệt
đối
xử
trong
hoạt
động
thương
mại quốc
tế.
2.8.ỉ.
Thuế
chống
bán phá
giá.
Hiệp
định về
chống
phá giá quy định
chi
tiết
các
điều
kiện
để các thành viên WTO có
thế thực
hiện
các
biện
pháp như
vậy.
Cả
hiệp
định và
điều
VI cùng được sử
dụng
để
điều chỉnh
các
biện
pháp
chống
địa
17
của
nước
nhập
khẩu
(Điều VI -
GATT
1994).
Mức
thuế
này được tính
theo
mức chênh
lệch
cao
nhất giữa
giá thông thường và giá
nhập
khẩu
của hàng
hóa
đó.
Để
áp
dụng
biện
pháp
chống
bán phá
của
nước
xuất
khẩu
(gọi
là biên độ phá
giá);
có
thiệt
hại vật chất đối với
ngành
sản xuất của
nước
nhập
khẩu
và hành động
bán phá giá là nguyên nhân gây
ra
thiệt
hại vật chất,
hoịc
đe dọa gây
ra
thiệt
hại
vật chất
nêu trên.
WTO
cũng
có quy định rõ ràng về các phương pháp xác định hàng hóa
trong
các vụ
tranh
chấp
liên
quan
đến các
hoạt
động
chống
phá giá do các thành viên
của
WTO
tiến
hành.
Các
quốc
gia phải
báo cáo
tổng kết hai lần
mỗi năm cho Uy ban này
tất
cả các
cuộc
điều
tra
về
bán phá giá.
Điều
tra
lượng hàng phá giá
từ
một
nước
bị điều
tra
nhỏ hơn 3%
tổng
nhập
khẩu,
đồng
thời
tổng khối
lượng phá
giá
từ
tất
cả các nước
bị
điều
tra
nhỏ
hơn 7%
tổng
nhập
khẩu).
Biện
pháp này nếu
trong
điều
tính
chất
tạm
thời
nhằm
loại
trừ
ảnh hưởng tiêu cực của
hàng hóa
nhập
khẩu
phá giá trên
thị
trường
quốc
gia
nhập
khẩu.
Vì
vậy,
các
18
quốc
gia
chỉ được phép áp
dụng
thuế
chống
bán phá giá
đối với
một thành viên WTO có
thể
sử
dụng
cơ chế
giải
quyết
tranh
chấp
cặa WTO để yêu cầu một thành viên
khác rút
lại
biện
pháp
trợ
cấp mà họ đang áp
dụng,
hoặc
có
những
phương
thức
khắc
phục
ảnh hưởng tiêu cực cặa
biện
pháp
trợ
cấp
đó.
quả
điều
tra
gây
tổn hại
đến ngành
sản xuất trong
nước.
Mức
thuế
này được dựa trên cơ sở chênh
lệch giữa
mức
trợ cấp
và phí nộp đơn
xin
trợ
cấp.
Thuế
chống
trợ cấp,
tương
tự
như
thuế
chống
bán phá
giá,
chỉ có
thể
về
việc kết luận khi
nào một mặt hàng được
coi
là được
trợ
cấp,
các tiêu chí để xác định một mặt hàng
nhập
khẩu
được
trợ
cấp có gây
thiệt
hại
đến ngành sản
xuất trong
nước hay không,
thặ tục
để mở một
cuộc
điều
tra
và các bước
thực hiện nó,
cách
thức
và
thời
gian
vùng lãnh
thổ
mà ở đó có sự phân
biệt
đối
xử về
thuế
nhập
khẩu
hoặc
có
những
biện
pháp phân
biệt
đối
xử khác
đối
vói hàng hóa cặa
nước
nhập
khẩu
theo
quy định
cặa
pháp
luật
về
đối
xử
có tính
chất hết
sức phức
tạp
về chủng
loại
và
vai trò.
Mức độ ảnh hưởng
cũng
không rõ ràng như
những
thay đổi
định lượng
của
thuế
quan,
nên tác động của
chúng có
thể
lớn
nhưng
lại
là tác động ngầm, có
thể
che đụy
hoặc
biện
hộ
bằng
trên
thực
tế,
các
biện
pháp
phi thuế
quan
khi tạo
ra
sự phân
biệt
với
hàng
nội
địa cũng
tạo ra
một
tác
động
thứ hai
là
nhằm bảo hộ nền
sản
xuất
trong
nước,
do đố làm
thu
hẹp
quan khi
được
áp
dụng
sẽ gây
ra
tác động tích cực
đối với kinh tế
của
nước
nhụp khẩu
và
tác
động tiêu
cực
đến
hoạt
động
xuất
khẩu của
nước
xuất
khẩu.
Do
vụy, khi
xác định tác động
của
các
biện
pháp
Vói sự
phong
phú về hình
thức,
các
quốc
gia
trên
thế
giới
có
thể kết
hợp
nhiều biện
pháp
phi thuế
quan
nhằm đáp ứng một mục
tiêu
nhất
định
mà không bị
gò bó
trong
khuôn
khổ
một công cụ duy
nhất
như
thuế
trường
nói
chung.
Những
tác
động
tích
cực
đó
bao
gồm:
Thứ
nhất
là
bảo hộ nền
sản
xuất nội
địa của
nước
nhụp
khẩu,
đặc
biệt
là
những
ngành
sản
xuất
non
trẻ