MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG I . Vai trò nông thôn, nông nghiệp và các giai đoạn
phát triển kinh tế Việt Nam
I Vai trò nông thôn, nông nghiệp
II. Các giai đoạn phát triển kinh tế Việt Nam từ 1945
2.1 Từ 1945-1975: Nền kinh tế trong thời kỳ chiến tranh……………….6
2.2 Từ 1975-1986: Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp.7
2.3 Từ 1986 đến nay: Đổi mới kinh tế…………………………………….7
CHƯƠNG II. Những kết quả đạt được và phát triển nông thôn
I -Phải coi phát triển nông nghiệp là chủ yếu làm cơ sở để phát triển công
nghiệp và các ngành khác, tạo điều kiện để công nghiệp hoá nước nhà.
1.1 công nghiệp……………………………………………………………13
1.2 Nông nghiêp
1.3 .Thương nghiệp………………………………………………………..14
1.4 .Sự giuùp đỡ từ beân ngoaøi
…………………………………………………………………………………..1
5
II Nhưững thành tựu và khó khăn để phát triển nông thôn
2.1.Thành tựu đạt được…………………………………………………….16
2.2.Những
khó
khăn…………………………………………………………….17
I - Thực hiện chính sách kích cầu, phát triển nông thôn bền vững
CHƯƠNG III.Những giải pháp của nhà nước về phát triển nông thôn….20
II- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
III- Giải pháp đối với vốn đầu tư và chương trình phát triển
IV- Sắp xếp, củng cố các doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã
-3-
lần thứ VIII (tháng 6/1996) khẳng định quyết tâm tiếp tục và phát triển hơn nữa
đường lối Đổi mới kinh tế toàn diện, đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.
Tiếp tục phát huy hơn nữa những thành quả đã đạt được, Đại hội Đảng lần
thứ IX (tháng 4/2001) đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 20012010 nhằm xây dựng nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh.
Trong đó: kinh tế nông thôn là một phức tạp hợp thành nhân tố cấu thành
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nông-lâm-ngư nghiệp cùng với các
ngành thủ công nghiệp truyền thống, các ngành tiểu thủ công nghiệp chế biến
vàphục vụ nông nghiệp, các ngành thương nghiệp và dịch vụ…tất cả có quan hệ
hửu cơ với nhau trong kinh tế vùng và lãnh thổ trong và trong toàn nền kinh tế
quốc dân.
-5-
Kinh tế nông thôn có nội dung rất rộng, bao gồm các ngành, lĩnh vực và các
thành phần kinh tế có quan hệ và tác động lẫn nhau.
-6-
CHƯƠNG I : VAI TRÒ NÔNG THÔN, NÔNG NGHIỆP VÀ CÁC GIAI
ĐOẠN PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TỪ 1945
I Vai trò nông thôn, nông nghiệp
Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con
người phải dựa vào vào quy lật sinh trương của cây trồng ,vật nuôi để tạo ra sản
phẩn như lương thực ,thực phẩn… để thoả mãn nhu cầu của mình .Nông nghiệp
còn theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp.
Như vậy: nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên
Nhà nước thực hiện chế độ phân phối sản phẩm bằng tiền lương định mức và bao
cấp qua tem phiếu. Với kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) miền Bắc bước
vào thời kỳ xây dựng. Nhà nước quan tâm phát triển giáo dục, y tế và xây dựng
nhiều công trình công cộng. Tính ưu việt của chế độ mới được phát huy mạnh
mẽ, nông nghiệp được phục hồi nhanh chóng và nhiều cơ sở công nghiệp nặng
đầu tiên được xây dựng..., nhưng từ năm 1964 bắt đầu bộc lộ các nhược điểm
của mô hình kinh tế. Từ năm 1964, Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc.
Nhân dân miền Bắc vừa sản xuất, vừa chiến đấu và vừa chi viện cho miền Nam.
Tình hình này kéo dài trong suốt 10 năm (1965-1975).
Trong khi đó, cũng từ 1954, nền kinh tế miền Nam Việt Nam tiến theo mô
hình thị trường, nhưng chủ yếu là mô hình kinh tế phục vụ chiến tranh.
2.2 Từ 1975-1986: Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao
cấp.
Sau khi miền Nam Việt Nam được hoàn toàn giải phóng (năm 1975) và đất
nước thống nhất (năm 1976), bắt đầu ngay việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ
hai (1976-1980). Kế hoạch này có nhiều điểm duy ý chí nên phần lớn chỉ tiêu
đều không đạt. Sản xuất đình trệ, tăng trưởng chỉ đạt 0,4 %/ năm (kế hoạch là
13-14 %) trong khi tỷ lệ tăng dân số hàng năm trên 2,3 %. Tình trạng thiếu lương
thực diễn ra gay gắt, năm 1980 phải nhập 1,576 triệu tấn lương thực. Ngân sách
thiếu hụt lớn, giá cả tăng hàng năm 20 %, nhập khẩu nhiều gấp 4-5 lần xuất
khẩu. Nhà nước thiếu vốn đầu tư cho nền kinh tế, nhiều công trình phải bỏ dở,
hàng tiêu dùng thiết yếu thiếu trầm trọng.
Đại hội IV ĐCS VN đã quyết định cải tạo XHCN trong cả nước với mục
tiêu lớn: xây dựng chế độ làm chủ tập thể và sản xuất lớn. Do các mục tiêu đề ra
quá lớn nên trong kế hoạch 5 năm lần thứ III (1981-1985) nền kinh tế thiếu cân
đối và lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Sản xuất đình trệ thể hiện trên tất cả các
lĩnh vực. Nạn lạm phát tăng nhanh, đầu những năm 80 tăng khoảng 30-50 %
hàng năm, cuối năm 1985 lên đến 587,2 % và siêu lạm phát đạt đến đỉnh cao vào
năm 1986, với 774,7 %. Đời sống nhân dân hết sức khó khăn.
Liên Xô cũ bị khủng hoảng toàn diện.
b. Giai đoạn 1991-1996: Đổi mới đạt kết quả quan trọng.
Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 6/1991 đã đưa ra chiến lược
"Ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000" đồng thời đề ra phương
hướng, nhiệm vụ cho kế hoạch 5 năm 1991-95. Khó khăn lớn lúc này là nền kinh
tế vẫn bị bao vây, cấm vận trong bối cảnh các nước Đông Ấu và các nước thuộc
Liên Xô (cũ) rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Tổng mức lưu chuyển ngoại
thương của Việt Nam với khu vực này giảm sút đột ngột, năm 1991 chỉ bằng
15,1% năm 1990. Song, thuận lợi lúc này là Đổi mới đã phát huy tác dụng, các
cơ sở kinh tế thích nghi dần với cơ chế quản lý mới. Những thành tựu nổi bật là:
1.Cơ chế quản lý kinh tế đã thay đổi căn bản:
Trong nền kinh tế xuất hiện nhiều thành phần: quốc doanh, tư bản nhà nước,
tư bản tư doanh, hợp tác xã, cá thể... trong đó kinh tế ngoài quốc doanh chiếm
60% tổng sản phẩm trong nước. Các thành phần kinh tế được trao quyền sử dụng
đất và xuất nhập khẩu. Kinh tế quốc doanh tiếp tục được chú trọng và giữ vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế.
2. Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao :
-9-
Trong 5 năm 1991-1995 tổng sản phẩm trong nước tăng bình quân 8,2%.
Năm 1996 tăng 9,5%. Sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực phát
triển liên tục và vững chắc mỗi năm tăng thêm 1 triệu tấn lương thực. Sản xuất
công nghiệp đã từng bước thích nghi với cơ chế quản lý mới, bình quân mỗi năm
tăng 13,5%, là mức tăng cao nhất từ trước tới lúc đó. Sản xuất trong nước đã có
tích luỹ, đảm bảo trên 90 % quĩ tích luỹ và quĩ tiêu dùng hàng năm.
Từ 1991- 1995 có 1401 dự án FDI với 20,413 tỷ USD vốn đăng ký. Đây là
thời kỳ vốn FDI vào Việt Nam tăng cao nhất, khoảng 50%/năm. Về xuất khẩu,
trong giai đoạn này, kim ngạch xuất khẩu bình quân mỗi năm tăng 27%, gấp 3
thiện. Số hộ có thu nhập trung bình và số hộ giàu tăng lên, số hộ nghèo giảm.
Mỗi năm thêm hơn một triệu lao động có việc làm. Công tác nghiên cứu khoa
học- công nghệ được đẩy mạnh.
c. Giai đoạn từ 1996 đến nay tiếp tục tăng cường đổi mới.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 6/1996) đã đưa ra
mục tiêu phấn đấu từ nay đến năm 2020 đưa Việt Nam "trở thành một nước công
nghiệp, có cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản
xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật
chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, văn minh."
Trong 2 năm 1996- 1997, nền kinh tế phát triển tốt, GDP bình quân đạt hơn
9%, cao hơn cả mức trung bình của 5 năm trước. Nhiều ngành sản xuất kinh
doanh tiếp tục đạt được những tiến bộ đáng kể. Giá trị sản xuất nông- lâm- ngư
nghiệp tăng bình quân 4,8%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13,8%, kim ngạch
xuất khẩu tăng bình quân 28,4%/năm, nhập khẩu tăng 20%/năm. Lạm phát tiếp
tục được kiểm soát, năm 1996 là 4,5% và năm 1997 là 4,3%. Vốn đầu tư phát
triển tăng nhanh đạt khoảng 14- 15 tỷ USD, bằng 35% mức kế hoạch 5 năm
1996- 2000, trong đó vốn huy động trong nước chiếm 51% còn lại là vốn từ
nước ngoài.
Tuy nhiên, từ giữa năm 1997, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ Châu Á và ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, nền kinh tế Việt Nam đã gặp
nhiều khó khăn. Tốc độ tăng trưởng GDP liên tục suy giảm: năm 1996 đạt
9,34%; năm 1997 đạt 8,15%; 1998 chỉ còn 5,83% và năm 1999 chỉ đạt 4,8%.
Tốc độ tăng trưởng giảm sút thể hiện ở hầu hết các ngành kinh tế chủ yếu: ngành
công nghiệp- xây dựng đạt tốc độ tăng 13,5% năm 1996, đã giảm xuống 12,6%
năm 1997, 10,3% năm 1998 và giảm mạnh xuống còn 7,7% năm 1999. Ngành
dịch vụ đạt mức 8,9% năm 1996, giảm xuống còn 7,1% năm 1997, 4,2% năm
1998 và chỉ còn 2,3% năm 1999. Ngành nông nghiệp cũng có suy giảm: từ 4,4%
năm 1996 xuống 4,3% năm 1997 và chỉ còn 2,7% năm 1998. Sang năm 1999,
ngoài sửa đổi, cải cách tài chính, tiếp tục thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực...
Tháng 4 năm 2001, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã thông qua Chiến
lược phát triển Kinh tế - xã hội 2001 - 2010 và Phương hướng, Nhiệm vụ kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005 nhằm đẩy nhanh hơn nữa tốc
độ tăng trưởng kinh tế và chất lượng phát triển xã hội của đất nước.
Chiến lược phát triển Kinh tế - xã hội 2001 - 2010 đã đề ra mục tiêu tổng
quát là "Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống
vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta
cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con
người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc
phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta
trên trường quốc tế được nâng cao” theo quan điểm phát triển gồm 5 nội dung
chính: (i) phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với
thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; (ii) coi phát triển kinh
- 12 -
tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đồng bộ nền tảng cho một nước công nghiệp
là yêu cầu cấp thiết; (iii) đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo động lực giải phóng
và phát huy mọi nguồn lực; (iv) gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; và (v) Kết hợp chặt chẽ phát triển
kinh tế- xã hội với quốc phòng - an ninh.
Trên tinh thần đó, bản Phương hướng, Nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội 5 năm 2001-2005 đã xác định mục tiêu tổng quát là tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Chuyển dịch mạnh
cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá. Nâng
cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Mở rộng kinh tế đối ngoại.
Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển, kinh tế nhà nước tiếp tục được
đổi mới, tuy còn chậm nhưng đã từng bước nâng cao hiệu quả trong hoạt động
sản xuất kinh doanh. Các hình thức đổi mới doanh nghiệp nhà nước cũng đã đa
dạng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẩy nhanh tiến trình này.
Thành phần kinh tế tư nhân có bước phát triển mạnh mẽ và ngày càng mở
rộng quy mô và ngành nghề. Luật Doanh nghiệp ban hành năm 2000 tạo điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân hoạt động.
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng phát triển mạnh. Đến nay
Việt Nam đã thu hút thêm được tổng số trên 40 tỷ USD vốn FDI (vốn đăng ký).
Các doanh nghiệp có vốn nước ngoài đã có nhiều đóng góp tích cực cho sự phát
triển kinh tế, đặc biệt là công nghiệp của Việt Nam, góp phần nâng cao chất
lượng và tăng thêm sức cạnh tranh cho sản phẩm trong nước.
Hoạt động kinh tế đối ngoại cũng có bước phát triển ổn định. Kim ngạch
xuất nhập khẩu cũng không ngừng tăng lên, năm 2001 đạt trên 15 tỷ USD xuất
khẩu và trên 16 tỷ USD nhập khẩu, năm 2002 lần lượt là trên 16,5 tỷ và 19,3 tỷ
USD. Đã hình thành những mặt hàng xuất khẩu chủ lực gồm hàng công nghiệp
nhẹ, hàng nông, lâm, hải sản và hàng điện tử. Tuy tỷ lệ nhập siêu vẫn còn cao và
biến động nhưng ngoại thương Việt Nam đã đóng góp lớn cho sự phát triển kinh
tế của đất nước. Hoạt động du lịch cũng có bước phát triển vượt bậc với khoảng
2 triệu lượt khách quốc tế mỗi năm. Các ngành dịch vụ liên quan như khách sạn,
hàng không... cũng có bước phát triển mới.
Hệ thống tài chính tiền tệ cũng đang từng bước được cải thiện và nâng cấp
nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Các ngân hàng hoạt động
thông thoáng và ngày càng có nhiều dịch vụ hơn, đặc biệt là phát triển hệ thống
dịch vụ ngân hàng điện tử. Tỷ lệ nợ xấu giảm đáng kể.
Do đó: Nhìn chung, trong hơn 15 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, Việt
Nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế quan trọng, từng bước hội nhập vào
nền kinh tế khu vực và thế giới. Thực tiễn đã cho thấy công cuộc Đổi mới của
Việt Nam phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện cụ thể trong nước.
Những thành công của Đổi mới đã đã thực sự làm thay đổi bộ mặt của đất nước
và các ngành khác.
1.2 Nông nghiêp
Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho công nhân và nhân dân nói
chung. Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho nhà máy và cung cấp nông sản
xuất khẩu. Nông thôn là thị trường tiêu thụ to nhất hiện nay. Nông thôn tăng gia
sản xuất, thực hành tiết kiệm thì ngày càng giàu có. Nông thôn giầu có sẽ mua
nhiều hàng hoá của công nghiệp. Như thế là nông thôn giầu có giúp cho công
nghiệp phát triển. Công nghiệp phát triển lại thúc đẩy nông nghiệp phát triển thì
dân giàu, nước mạnh.
C.Mác cũng từng nhấn mạnh rằng xét trên phạm vi toàn xã hội thì nông
nghiệp chỉ gồm lao động cần thiết. Bởi vậy, muốn có lao động thặng dư rút ra
khỏi ngành này để phát triển các ngành phi nông nghiệp thì phải tăng năng suất
lao động trong nông nghiệp sao cho chỉ cần một bộ phận lao động xã hội làm
nông nghiệp cũng đủ để sản xuất ra tư liệu sinh hoạt cần thiết cho toàn xã hội,
“do đó, để cho sự phân công lớn giữa những người làm nông nghiệp và những
người làm công nghiệp, cũng như sự phân công giữa những người làm nông
nghiệp sản xuất lương thực và những người làm nông nghiệp sản xuất nguyên
liệu, có thể thực hiện được”. Công nghiệp và nông nghiệp phải phát triển cân đối
như hai chân của con người, có như vậy mới đi khoẻ và đi đều, tiến bước nhanh.
Vì vậy:Công nghiệp và nông nghiệp như hai chân của nền kinh tế. Nông
nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp đủ lương thực cho nhân dân, cung cấp
đủ nguyên liệu cho nhà máy, đủ nông sản để xuất khẩu đổi lấy máy móc; công
nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp đủ hàng tiêu dùng cần thiết cho nhân
- 16 -
dân, trước hết là nông dân; cung cấp máy bơm nước, phân hoá học, thuốc trừ
sâu... để đẩy mạnh nông nghiệp, và cung cấp dần dần máy cày, máy bừa cho các
hợp tác xã nông nghiệp. Công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mới phát triển
nhau thông qua môi giới của thương nghiệp và thương nghiệp phải bán cái mà
người mua cần chứ không phải chỉ bán cái mà mình có
- 17 -
Dovậy:Công nghiệp và thương nghiệp liên hệ với nhau thông qua thương
nghiệp, thương nghiệp là cái khâu giữa công nghiệp và nông nghiệp, thể hiện
liên minh công nông.
Tóm lại:Trong nền kinh tế quốc dân có ba mặt quan trọng: nông nghiệp,
công nghiệp, thương nghiệp. Ba mặt công tác quan hệ mật thiết với nhau.
Thương nghiệp là cái khâu giữa nông nghiệp và công nghiệp. Thương nghiệp
đưa hàng đến nông thôn phục vụ nông dân, thương nghiệp lại đưa nông sản,
nguyên liệu cho thành thị tiêu dùng. Nếu khâu thương nghiệp bị đứt thì không
liên kết được nông nghiệp với công nghiệp, không củng cố được công nông liên
minh. Công tác thương nghiệp không chạy thì hoạt động nông nghiệp, công
nghiệp sẽ bị rời rạc.
Những điểm trên cũng thể hiện rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu ngành
kinh tế ở một nước nông nghiệp khi tiến hành công nghiệp hoá. Trước đổi mới,
không quán triệt tư tưởng trên, nên chúng ta đã mắc sai lầm về xác định cơ cấu
kinh tế và cơ cấu đầu tư. Như Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI đã nhận
định: “Thiên về xây dựng công nghiệp nặng và những công trình quy mô lớn,
không tập trung sức giải quyết về căn bản vấn đề lương thực, thực phẩm, phát
triển sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Kết quả là đầu tư nhiều, nhưng
hiệu quả rất thấp”. Do nhận rõ thiếu sót trên, Đại hội VI đã đề ra chủ trương
đúng đắn: bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư, tập trung sức
Người, sức của vào việc thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về
lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Có thể khẳng định
đây là một trong những nhân tố cơ bản giúp cho nước ta sớm ra khỏi cuộc khủng
hoảng kinh tế – xã hội, đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi
để bồi bổ lực lượng của ta, phát triển khả năng của ta. Song nhân dân ta và cán
bộ ta tuyệt đối chớ vì bạn ta giúp nhiều mà đâm ra ỷ lại. Trái lại, chúng ta phải
học tinh thần tự lập tự cường, tinh thần hăng hái thi đua sản xuất và tiết kiệm của
nhân dân các nước bạn”.
Lời khuyên trên khiến chúng ta liên tưởng đến một câu rất hay của một nhà
kinh tế ở nước láng diềng: ngoại lực phải biến thành nội lực, nếu không, ngoại
lực vào rồi lại ra đi, niềm vui phồn vinh ngắn hạn sẽ bị thay thế bằng cảnh tiêu
điều dài hạn!
Quả vậy, nếu không khéo dùng cái vốn bên ngoài để bồi bổ lực lượng của
ta, phát triển khả năng của ta, mà tiêu dùng lãng phí thì sẽ không có hiệu quả,
thậm chí còn để lại hậu quả tiêu cực.
Bối cảnh lịch sử hiện nay ở nước ta khác với tình hình sinh thời của Hồ Chí
Minh, nên chúng ta phải nhớ lời căn dặn của Người: “Cách mạng chuyển biến
đòi hỏi phải có một sự chuyển biến sâu sắc về tư tưởng và nhận thức, đòi hỏi
phải có những chính sách, những biện pháp về công tác tổ chức phù hợp với tình
hình mới”. Tuy nhiên, những điểm
II Những thành tựu và khó khăn để phát triển nông thôn
2.1.Thành tựu đạt được
- 19 -
Toàn bộ thể chế kinh tế được xây dựng trên cơ sở bao cấp cho nên xoá bao
cấp sẽ tạo ra đột phá cho tăng trưởng. Bên cạnh đó, xoá bao cấp một cách thiếu
bài bản cũng có thể tạo ra khoảng trống cho các tiêu cực nẩy sinh. Điều này lý
giải tại sao hầu hết các nước chuyển đổi trong khi đạt nhiều thành tích phát triển
kinh tế thì giáo dục, y tế và nhiều dịch vụ công cộng khác lại bị xuống cấp
nghiêm trọng. Việt Nam rất thành công trong xoá bao
cấp về giá sản phẩm nông nghiệp (đi đầu trong số các nước Xã hội chủ nghĩa cũ
- 20 -
chủ ruộng đất mà họ đang cày cấy (Nghị quyết 10 của Bộ chính trị Đảng Cộng
sản Việt Nam 4/1988 với nội dung chủ yếu là trao lại tư liệu sản xuất cho hộ
nông dân, cũng tức là trao quyền tự chủ cho họ). Như vậy, không phải cách mạng
kỹ thuật mà chính là thay đổi cơ chế (xoá bao cấp, bao biện) đã dẫn đến cuộc bứt
phá ngoạn mục trong nông nghiệp khiến Việt Nam từ chỗ nhập khẩu trên dưới
một triệu tấn gạo
một năm trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ nhì thế giới.
Sự thay đổi cơ chế đã giải phóng sức sáng tạo của nông dân, họ không dừng
lại ở tăng sản lượng mà còn thay đổi cách làm ăn, tăng vụ, thay đổi cơ cấu kinh
tế. Do tiềm năng nhỏ bé của nền tiểu nông nên sự chuyển đổi cơ cấu trong nông
nghiệp diễn ra chậm chạp trong những năm đầu “đổi mới” (1990 - 2000), nhưng,
như "mưa dầm thấm lâu", quá trình này đã dẫn đến sự đột phá trong kinh tế mấy
năm gần đây. Nếu như chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong những năm
trước chủ yếu là hành động tự phát của từng hộ nông dân, từng chủ trang trại thì
từ 2002 - 2003 quá trình này đã được sự đỡ đầu, bảo trợ của chính quyền.
Thí dụ: Nông dân Hải Dương đã thành công trong việc chuyển từ trồng lúa
sang trồng cây ăn quả (táo, dưa hấu, cam Canh đường), nay chính quyền tỉnh
đang vận động nông dân tham gia dự án trồng hoa hồng xuất khẩu với cam kết:
"nếu trồng hoa hồng hiệu quả thua lúa tỉnh đền nông dân". Uỷ ban Nhân dân xã
Đoàn Thượng, Huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương hợp tác với Công ty Nhân Văn
đầu tư cho nông dân có ruộng tham gia dự án trồng hoa hồng với mức 480.000
đ/sào, hỗ trợ 50% tiền mua giống và đào tạo những nông dân chủ chốt của dự án
thành các kỹ thuật viên, hưởng lương kỹ thuật 320.000 đ/người/tháng trong vòng
4 năm. Sản phẩm của những diện tích tham gia dự án được Công ty Nhân Văn
bao tiêu (mua hết sản phẩm). Có một bước tiến vượt bậc về thu nhập trên một ha
tại vùng đất "thuần lúa" xưa kia: từ chỗ chỉ thu được do trồng lúa mỗi năm từ 5
đến 10 triệu đồng/ ha, nay thu nhập đã tăng lên tới 200 - 270 triệu đồng/ ha nếu
này vẫn đang phải đối đầu với những thách thức lớn. Một trong số những thách
thức đó là trình độ văn hoá, kỹ thuật của người lao động. Nông dân rất nhanh
nhạy tham gia kinh tế thị trường, nhưng do trình độ văn hoá và kỹ thuật thấp nên
kết quả thu được vẫn còn hạn chế, thể hiện điều mà nhiều chuyên gia nhận định
rằng chất lượng tăng trưởng của kinh tế còn thấp. Có thể minh hoạ điều này qua
thí dụ về tỉnh Nghệ An nêu trên: trong số 71.526 hộ sản xuất giỏi của tỉnh này,
chỉ có 14% qua các lớp trung cấp, sơ cấp kỹ thuật hoặc quản lý.
Khu vực được hưởng lợi thứ hai nhờ xoá bao cấp là công thương nghiệp
ngoài quốc doanh, nay gọi là khu vực dân doanh. Do nhận thức cũ, coi doanh
nghiệp dân doanh là thành phần "phi xã hội chủ nghĩa" nên quá trình chuyển từ
cấm đoán sang không cấm rồi khuyến khích doanh nghiệp dân doanh diễn ra
chậm hơn so với nông nghiệp. Mãi đến năm 2000, cùng với thi hành Luật Doanh
nghiệp, khu vực dân doanh mới có được khung pháp lý thuận lợi để phát triển.
Nhiều người đánh giá Luật Doanh nghiệp đã tạo ra bước đột phá tương tự như
"khoán 10" trong nông nghiệp. Chỉ sau 3 năm thi hành Luật Doanh nghiệp, đã có
gần 73000 doanh nghiệp đăng ký mới với số vốn xấp xỉ 9,5 tỷ USD (tương tự
khối lượng FDI đạt được cùng thời gian), tạo việc làm cho gần một nửa số lao
động tăng thêm hàng năm. Nếu Luật Doanh nghiệp được thi hành nghiêm túc
- 22 -
hơn, doanh nghiệp dân doanh được dễ dàng hơn trong vay vốn ngân hàng và
thuê mặt bằng sản xuất thì hiệu quả mà khu vực này đem lại còn lớn hơn.
Mặc dù vẫn duy trì bao cấp trong các lĩnh vực công cộng và phúc lợi xã hội
như y tế, giáo dục, văn hoá, giao thông công cộng, vệ sinh môi trường v.v...
nhưng việc thực hiện "xã hội hoá" cũng đã giảm nhiều tình trạng xuống cấp của
khu vực này. Đặc biệt, chính sách đoàn kết nêu ra tại Đại Hội lần thứ 9 Đảng
cộng sản việt Nam (4/2003) "phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân"... "lấy
mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước
giá ưu đãi (1300 đồng/kg lúa). Nhiều đại biểu Quốc hội đã nêu vấn đề ai là người
hưởng lợi nhiều hơn từ chính sách này? thay vì nông dân, thì chính mạng lưới
thu mua trung gian được hưởng lợi nhiều hơn.
Ðời sống của nông dân do thu nhập ít, lại phải chi nhiều khoản đóng góp để
duy trì sản xuất và đời sống cộng đồng; giá nông sản đi xuống, giá hàng công
nghiệp lại đi lên dẫn đến chi phí sản xuất cao, do đó hố giàu nghèo giữa thành thị
và nông thôn ngày càng tăng. Nhiều đại biểu Quốc hội kiến nghị một số giải
pháp bổ sung vào những giải pháp của Chính phủ đưa ra; trong đó có đề nghị
miễn hẳn thuế nông ngh-iệp cho nông dân; xem lại hiệu quả của chủ trương bù
giá và nghiên cứu hỗ trợ bằng hàng, vật tư trợ giá xuống cơ sở, tổ chức mạng
lưới tiêu thụ theo hợp đồng dài hạn để giảm nạn ép cấp, ép giá trong tiêu thụ sản
phẩm. Giải pháp đối với khâu tiêu thụ có thể là đầu tư xây dựng nhiều cơ sở chế
biến nông, lâm sản ở các địa phương. Ðối với hình thức hỗ trợ qua hàng hoá, một
số đại biểu miền núi đề nghị thay vì khoán khoanh nuôi rừng bằng tiền, nên
nghiên cứu hình thức hỗ trợ bằng gạo để đồng bào ổn định đời sống, chăm sóc
bảo vệ rừng, đồng thời giải quyết một phần đầu ra tiêu thụ lúa gạo trong nước.
Vai trò của nhà nước trong hỗ trợ nông nghiệp nên là vai trò hướng dẫn,
thông tin và dự báo, ví dụ hướng dẫn và khuyến khích nông dân đầu tư đúng
hướng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất sản phẩm có
giá trị cao.Cơ sở tính thuế sử dụng đất nông nghiệp căn cứ vào giá lúa đang tạo
ra nhiều bất hợp lý, do giá lúa biến động tuỳ thời điểm và địa phương, nên Uỷ
ban nhân dân các tỉnh không điều chỉnh kịp theo giá lúa thị trường. Nên nghiên
cứu áp dụng cơ sở tính thuế theo mức tiền quy định cho mỗi mét vuông của từng
hạng đất.
- 25 -
Ðối với nông nghiệp và nông thôn, các công trình thuỷ lợi có tầm quan
trọng sống còn, do đó, bên cạnh đầu tư của địa phương và đóng góp của nhân
danh sách các xã đặc biệt khó khăn.
Ðể kích cầu tiêu thụ, nên nghiên cứu các cơ chế tín dụng ưu đãi khuyến
khích các doanh nghiệp trong nước thực hiện bán hàng, vật tư trả chậm cho sản
xuất nông nghiệp và sinh hoạt nông thôn. Ðối với việc đưa điện về nông thôn,
- 26 -
cần có đầu tư từ ngân sách công và nỗ lực của ngành điện để thúc đẩy nhanh các
công trình đưa điện về nông thôn, giảm bớt chênh lệch giá điện giữa thành thị và
nông thôn.
II- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu nền kinh tế: Hiện nay có
tình trạng nông dân rất linh hoạt trong việc tự chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có
giá trị cao để tự cứu mình, nhưng cấp huyện, cấp tỉnh chạy theo nông dân còn
Trung ương thì bị bỏ lại ở sau khá xa, hỗ trợ không hiệu quả, không lâu dài, bền
vững. Quảng Bình cho rằng việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn nhiều
lúng túng và bị động, chủ yếu là tự phát nên thường dẫn đến sự mất cân đối giữa
sản xuất và thị trường tiêu thụ, giữa vùng nguyên liệu và khả năng chế biến của
các nhà máy, do đó đã nhiều năm xảy ra tình trạng người nông dân phải tự phá
bỏ cây này, con này để chuyển sang trồng cây khác và nuôi con khác gây nên
thiệt hại to lớn đối với người nông dân và sự bế tắc, thua lỗ của các nhà máy chế
biến, rõ nhất là mía đường, cà phê, cao su.Cần tăng cường vai trò cung cấp thông
tin, dự báo về nhu cầu thị trường quốc tế để nông dân có hướng sản xuất thích
hợp tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường.
Tuyên Quang và Lai Châu nêu vấn đề người dân không thấy có thu nhập
đáng kể từ việc giữ rừng, chăm sóc rừng. Mức khoán khoanh nuôi rừng bảo hộ ở
mức 50 nghìn đồng/ha không đủ khuyến khích; việc trồng rừng bán làm nguyên
liệu giấy cũng bấp bênh do cơ chế thu mua không ổn định, giá cả thấp, thiếu mối
liên kết giữa người sản xuất, chế biến công nghiệp và lưu thông tiêu thụ sản