LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa
luận này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng để bảo vệ một báo cáo khoa
học nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn chỉnh khóa luận này đều được tác giả cảm ơn
Các thông tin, tài liệu trình bày đều được ghi rõ nguồn gốc./.
Tác giả
Lê Hoàng Nhật
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp chuyên ngành Bảo vệ thực vật, em
xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Nông- Lâm- Ngư nghiệp cùng các
thầy cô giáo đã hướng dẫn giảng dạy em trong suốt quá trình học tập rèn luyện ở
trường và trong quá trình làm đề tài tốt nghiệp.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo, giáo viên hướng dẫn Ths. Trần
Thị Mai đã dành nhiều tình cảm, tận tình, chu đáo dạy dỗ, hướng dẫn em trong
suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bài khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã giúp đỡ, động
viên, hỗ trợ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, ngày..tháng..năm
Tác giả
Lê Hoàng Nhật
2
MỤC LỤC
Hình 6: Sâu xanh da láng
Hình 7: Sâu xanh đục quả
Hình 8: Ruồi hại lá
4
4
1. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cà chua có tên khoa học là Lycopersicon esculentum Mill, thuộc họ cà
Solanaceae. Cà chua được trồng và sử dụng rộng rãi trên thế giới trên 150 năm
nay. Theo FAO, năm 2014 có khoảng 114 nước trồng cà chua, năm 2015 diện
tích và sản lượng cà chua trên thế giới là 4,57 triệu ha và 124,4 triệu tấn, năm
suất trung bình đạt 27,2 tấn/ha.
Cà chua có giá trị dinh dưỡng cao chứa nhiều glucid, nhiều axit hữu cơ,
các vitamin và khoáng chất, cung cấp năng lượng và khoáng chất làm tăng sức
sống, làm cân bằng tế bào, khai vị, giải nhiệt, chống hoại huyết, chống độc. Về
giá trị sử dụng, cà chua được dùng dưới nhiều hình thức khác nhau như ăn tươi,
làm salat, nước uống hoặc chế biến làm dạng dự trữ,...
Ở nước ta, cà chua được trồng từ lâu đời, diện tích trồng hằng năm biến
động từ 12-13 ngàn ha. Cà chua được trồng với diện tích tăng lên hằng năm
nhưng năng suất thấp và không ổn định. So với năng suất trung bình của toàn
thế giới thì năng suất của cà chua Việt Nam còn thấp đạt khoản 60-65%. Một
trong những nguyên nhân làm cho năng suất cà chua ở Việt Nam còn thấp là do
chưa đảm bảo dinh dưỡng cho cây cà chua sinh trưởng và phát triển thuận lợi,
khả năng chống chịu sâu bệnh kém.
Trong thực tế sản xuất có thể sử dụng các loại và dạng phân bón khác
nhau, phân bón lá là loại phân bón sử dụng dưới dạng dung dịch để tưới hoặc
phun trực tiếp vào lá hoặc thân nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây thông
qua thân, lá. Đây là hình thức cung cấp chất dinh dưỡng có giá trị số lượng tuy
hiện mục tiêu sản xuất rau an toàn cho con người.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở phổ biến, khuyến cáo liều lượng
phân bón lá A2 thích hợp cho cây cà chua, góp phần hoàn thiện quy trình kỹ
thuật sản xuất cà chua an toàn trên địa bàn tại thành phố Thanh Hóa và những
vùng có điều kiện tương tự.
6
6
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Nguồn gốc, phân loại và sự phân bố cà chua
2.1.1. Nguồn gốc của cây cà chua
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu và trích dẫn của các tác giả: De Candolle
(1984) , Muller (1940), Luckwill (1943) và Mai Thị Phương Anh và CTV (1996)
... thì cho rằng cà chua trồng hiện nay có nguồn gốc từ Pêru, Ecuador, Bolivia...
dọc theo bờ biển Thái Bình Dương, từ quần đảo Galanpogos tới Chi Lê. Ngoài
ra cà chua còn có nguồn gốc ở quần đảo Ấn Độ, Philippin. Hiện nay, người ta
tìm thấy ở các vùng núi thuộc Trung và Nam Mỹ có rất nhiều cà chua dại và bán
dại. Ở những vùng này cũng có rất nhiều dạng cà chua trồng và được trồng phổ
biến rất rộng rãi.
Nguồn gốc của cà chua trồng trọt đến nay vẫn còn nhiều ý kiến tranh cãi.
Theo nhà thực vật học người Ý Pier Andrea Mattioli (1554), cho rằng những
giống cà chua đầu tiên được đưa vào châu Âu có nguồn gốc từ Mêhicô và nhiều
bằng chứng về khảo cổ học, thực vật học, ngôn ngữ học và lịch sử đã thừa nhận
Mêhicô là trung tâm thuần hóa của cà chua trồng.
2.1.2. Sự phân bố cây cà chua
Trước khi Critxtốp Côlông phát hiện ra Châu Mỹ thì ở Pêru, Mêhicô đã có
người trồng cà chua, lúc bấy giờ được gọi là Tomati. Đầu thế kỷ XVI, cà chua
chủ yếu ở tầng đất 0-30 cm. Khả năng tái sinh của hệ rễ mạnh, khi rễ chính bị đứt,
rễ phụ phát triển mạnh. Cây cà chua còn có khả năng ra rễ bất định, loại rễ này tập
trung nhiều nhất ở đoạn thân dưới 2 lá mầm. Loài cà chua trồng khi tạo hình, tỉa
cành, lá hạn chế sự sinh trưởng của cây thì sự phân bố của hệ rễ hẹp hơn khi
không tỉa cành, lá. Trong quá trình sinh trưởng, hệ rễ chịu ảnh hưởng lớn của điều
kiện môi trường như nhiệt độ đất và độ ẩm đất....
2.2.2. Thân
Thân cà chua thuộc loại thân thảo, có đặc điểm chung là có nhiều đốt trên
thân và phân nhánh mạnh. Tùy theo điều kiện môi trường và giống, thân cà chua
có độ dài khác nhau. Thân cà chua có nhiều lông nhỏ và mịn, ở giai đoạn cây
con thân có màu trắng hoặc tím tùy theo giống.
2.2.3. Lá
Lá cà chua đa số thuộc dạng lá kép, các lá chét có răng cưa, có nhiều dạng
8
8
khác nhau: dạng lá kép lông chim lẻ, dạng lá khoai tây, dạng lá ớt ... Tuỳ thuộc
vào giống mà lá cà chua có màu sắc và kích thước khác nhau như xanh vàng,
xanh đậm, xanh nhạt.
2.2.4. Hoa
Hoa cà chua được mọc thành chùm, có ba dạng chùm hoa: dạng đơn giản,
dạng trung gian và dạng phức tạp. Số lượng hoa/chùm, số chùm hoa/cây rất khác
nhau ở các giống. Số chùm hoa/cây dao động từ 4-20, số hoa/chùm dao động từ
2-26 hoa. Hoa lưỡng tính, nhị đực liên kết nhau thành bao hình nón, bao quanh
nhụy cái.
2.2.5. Quả
Quả cà chua thuộc loại quả mọng, có 2; 3 đến nhiều ngăn hạt. Hình dạng
và màu sắc quả phụ thuộc vào từng giống. Ngoài ra, màu sắc quả chín còn phụ
thuộc vào điều kiện nhiệt độ, phụ thuộc vào hàm lượng Caroten và Lycopen. Ở
là 24-25oC, nhiều giống nảy mầm nhanh ở nhiệt độ 28-32oC .
Tác giả Tạ Thu Cúc lại cho rằng, cà chua chịu được nhiệt độ cao, rất mẫn
cảm với nhiệt độ thấp. Cà chua có thể sinh trưởng, phát triển trong phạm vi nhiệt
độ từ 15-35oC, nhiệt độ thích hợp từ 22-24oC. Giới hạn nhiệt độ tối cao đối với
cà chua là 35oC và giới hạn nhiệt độ tối thấp là 10oC, có ý kiến cho là 12oC .
Theo Kuo và cộng sự (1998), nhiệt độ đất có ảnh hưởng lớn đến quá trình
phát triển của hệ thống rễ, khi nhiệt độ đất cao trên 39 oC sẽ làm giảm quá trình
lan toả của hệ thống rễ, nhiệt độ trên 44oC bất lợi cho sự phát triển của bộ rễ, cản
trở quá trình hấp thụ nước và chất dinh dưỡng.
Theo Lorenz O. A và Maynard D. N (1988), cà chua sinh trưởng tốt trong
phạm vi nhiệt độ 15-30oC, nhiệt độ tối ưu là 22-24oC. Quá trình quang hợp của
lá cà chua tăng khi nhiệt độ đạt tối ưu 25-30 oC, khi nhiệt độ cao hơn mức thích
hợp (>35oC) quá trình quang hợp sẽ giảm dần.
Nhiệt độ ngày và đêm đều có ảnh hưởng đến sinh trưởng sinh dưỡng của
cây. Nhiệt độ ngày thích hợp cho cây sinh trưởng từ 20-25 oC [51], nhiệt độ đêm
thích hợp từ 13-18oC. Khi nhiệt độ trên 35oC cây cà chua ngừng sinh trưỏng và ở
nhiệt độ 10oC trong một giai đoạn dài cây sẽ ngừng sinh trưởng và chết. Ở giai
đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, nhiệt độ ngày đêm xấp xỉ 25 oC sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho quá trình ra lá và sinh trưởng của lá. Tốc độ sinh trưởng của thân,
10
10
chồi và rễ đạt tốt hơn khi nhiệt độ ngày từ 26-30 oC và đêm từ 18-22oC. Điều này
liên quan đến việc duy trì cân bằng quá trình quang hoá trong cây.
Nhiệt độ không những ảnh hưởng trực tiếp tới sinh truởng dinh dưỡng mà
còn ảnh hưởng rất lớn đến sự ra hoa đậu quả, năng suất và chất lượng của cà
chua. Ở thời kỳ phân hoá mầm hoa, nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến vị trí của
chùm hoa đầu tiên. Cùng với nhiệt độ không khí, nhiệt độ đất có ảnh hưởng đến
số lượng hoa/chùm. Khi nhiệt độ không khí trên 30/25oC (ngày/đêm) làm tăng
không được hình thành. Khi nhiệt độ lớn hơn 40 oC quả giữ nguyên màu xanh
bởi vì cơ chế phân huỷ chlorophyll không hoạt động, caroten và lycopen không
được hình thành. Nhiệt độ cao trong quá trình phát triển của quả cũng làm giảm
quá trình hình thành pectin, là nguyên nhân làm cho quả nhanh mềm hơn. Nhiệt
độ và độ ẩm cao còn là nguyên nhân tạo điều kiện thuận lợi cho một số bệnh
phát triển. Bệnh héo rũ Fusarium phát triển mạnh ở nhiệt độ đất 28oC, bệnh đốm
nâu (Cladosporiumfulvum Cooke) phát sinh ở điều kiện nhiệt độ 25-30oC và độ
ẩm không khí 85-90%, bệnh sương mai do nấm Phytophythora infestans phát
sinh phát triển vào thời điểm nhiệt độ thấp dưới 22oC, bệnh héo xanh vi khuẩn
(Ralstonia solanacearum) phát sinh phát triển ở nhiệt độ trên 20oC.
2.4.3. Yêu cầu với ánh sáng
Cà chua thuộc cây ưa ánh sáng, cây con trong vườn ươm nếu đủ ánh sáng
(5000 lux) sẽ cho chất lượng tốt, cứng cây, bộ lá to, khoẻ, sớm được trồng. Ngoài
ra ánh sáng tốt, cường độ quang hợp tăng, cây ra hoa đậu quả sớm hơn, chất lượng
sản phẩm cao hơn. Theo Kuddirijavcev (1964), Binchy và Morgan (1970) cho rằng
cường độ ánh sáng ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây cà chua.
Điểm bão hoà ánh sáng của cây cà chua là 70.000 lux (nhiều tác giả). Cường độ
ánh sáng thấp làm chậm quá trình sinh trưởng và cản trở quá trình ra hoa. Cường
độ ánh sáng thấp làm vươn dài vòi nhuỵ và tạo nên những hạt phấn không có sức
sống, thụ tinh kém (Johnson và Hell1953). Ánh sáng đầy đủ thì việc thụ tinh thuận
lợi, dẫn đến sự phát triển bình thường của quả, quả đồng đều, năng suất tăng. Khi
cà chua bị che bóng, năng suất thường giảm và quả bị dị hình. Trong điều kiện
thiếu ánh sáng năng suất cà chua thường giảm, do vậy việc trồng thưa làm tăng
hiệu quả sử dụng ánh sáng kết hợp với ánh sáng bổ sung sẽ làm tăng tỷ lệ đậu quả,
12
12
tăng số quả trên cây, tăng trọng lượng quả và làm tăng năng suất. Nhiều nghiên cứu
đã chỉ ra rằng cà chua không phản ứng với độ dài ngày, quang chu kỳ trong thời kỳ
tấn/cm/ha. Nghiên cứu trong điều kiện California, Claude cho rằng để tạo 1 kg
quả cà chua cần 32,3 kg nước.
Nhiều tài liệu cho thấy độ ẩm đất thích hợp cho cà chua là 60-65%
(Barehyi,1971) và độ ẩm không khí là 70-80%. Khi đất quá khô hay quá ẩm đều
ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất của cà chua. Biểu hiện của
thiếu nước hay thừa nước đều làm cho cây bị héo. Khi ruộng bị ngập nước,
trong đất thiếu oxy, thừa khí cacbonic làm cho rễ cà chua bị ngộ độc dẫn đến cây
héo. Khi thiếu nước quả cà chua chậm lớn thường xảy ra hiện tượng thối đáy
quả, quả dễ bị rám do canxi bị giữ chặt ở các bộ phận già không vận chuyển đến
các bộ phận non. Độ ẩm không khí quá cao (> 90%) dễ làm cho hạt phấn bị
trương nứt, hoa cà chua không thụ phấn được sẽ rụng (Tạ Thu Cúc, 1983). Tuy
nhiên, trong điều kiện gió khô cũng thường làm tăng tỷ lệ rụng hoa. Nhiệt độ đất
và không khí phụ thuộc rất lớn vào lượng mưa, đặc biệt là các thời điểm trái vụ,
mưa nhiều là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng phát triển của cây kể từ
khi gieo hạt đến khi thu hoạch.
2.5.Yêu cầu dinh dưỡng của cây cà chua
Cà chua là cây có thời gian sinh trưởng dài, thân lá sinh trưởng mạnh, khả
năng ra hoa, ra quả nhiều, tiềm năng cho năng suất rất lớn. Vì vậy cung cấp đầy đủ
chất dinh dưỡng là yếu tố có tính chất quyết định đến năng suất và chất lượng quả.
Cũng như các cây trồng khác cà chua cần ít nhất 20 nguyên tố dinh dưỡng cho quá
trình sinh trưởng phát triển bình thường của nó. Trong các nguyên tố đa lượng cà
chua cần nhiều kali hơn cả, sau đó là đạm và lân. Mỗi nguyên tố dinh dưỡng khác
nhau có ảnh hưởng khác nhau đến sinh trưởng, phát triển của cây cà chua.
Đạm: Trong suốt quá trình sinh trưởng, đạm có ảnh hưởng lớn đến sinh
dưỡng và năng suất quả hơn tất cả các yếu tố dinh dưỡng khác. Nó có tác dụng
thúc đẩy sự sinh trưởng, ra hoa, đậu quả của cà chua nhưng lại làm kéo dài thời
gian chín. Trong điều kiện nhiệt độ cao, thiếu đạm sẽ làm cho tỉ lệ rụng hoa
tăng. Trong đất thiếu đạm dẫn đến sinh trưởng thân lá bị kìm hãm, lá vàng úa,
cây còi cọc, sinh trưởng kém, giảm năng suất và chất lượng quả. Khi lượng đạm
Bo: Bo thường có khối lượng lớn trong cây, Bo ảnh hưởng tới sự nảy
mầm của hạt phấn, sự phát triển của ống phấn, thiếu Bo làm giảm sự phát triển
của bộ rễ, lá mầm giòn, dễ gãy, chồi ngọn bị thối, quả bị biến dạng, làm rụng
15
15
quả. Đất càng có cấu trúc nhẹ cây càng cần ít Bo.
Kẽm: Trong quá trình tổng hợp auxin, Zn có vai trò quan trọng. Theo Pauli
A.W. và cộng sự (1968) sự tổng hợp và lưu thông Zn trong cây phụ thuộc vào sự
có mặt hoặc vắng mặt của lân và canxi. Biểu hiện của sự thiếu Zn là lá nhỏ, ráp,
cây cứng và sinh trưởng kém. Đất có pH cao thường thiếu Zn.
Molipden: Mo là nguyên tố vi lượng có rất ít trong cây. Theo P.Nedelcu
(1975) lượng này chỉ vào khoảng 0,012-4,1 mg/kg chất khô. Mo rất cần thiết
cho quá trình đồng hoá đạm của cây, thúc đẩy quá trình hình thành và chín của
quả. Thiếu Mo cây sinh trưởng kém, chiều cao cây giảm.
Theo More (1978) để có 1 tấn cà chua cần 2,9 kg N, 0,4 kg P 2O5, 4 kg
K2O và 0,45 kg Mg. Theo Becseev để tạo 1 tấn quả cà chua cần 3,8 kg N, 6 kg
P2O5 và 7,9 kg K2O (Kiều Thị Thư trích dẫn - 1998). Theo Geraldson (1957) để
đạt năng suất 50 tấn/ha cần bón 320 kg N, 60 kg P 2O5 và 440 kg K2O. Theo L.H
Aung (1979) khuyến cáo để cà chua đạt năng suất 40 tấn/ha cần bón 150 kg N,
30 kg P2O5 và 160 kg K2O. Theo Kuo và cộng sự (1998) thì đối với cà chua vô
hạn nên bón với mức 180 kg N, 80 kg P2O5 và 180 kg K2O còn với cà chua hữu
hạn thì lượng tương ứng là 120: 80 và 150. Theo nghiên cứu của Trần Khắc Thi
và cộng sự (1999) thì trong điều kiện Việt Nam lượng phân bón cho 1 ha cà chua
là 25 tấn phân chuồng, 150 kg N, 90 kg P2O5 và 150 kg K2O.
2.6. Kỹ thuật bón phân cho cà chua
Các loại và dạng phân bón
– Cần bón vôi cho đất trồng cà chua có pH nhỏ hơn 5,5. Nên dùng nguyên liệu
vôi dạng đôlômit để vừa trung hòa độ chua cho đất vừa cung cấp cả Ca, Mg cho
17
17
dưỡng dạng dễ tiêu để bón cho cây. Các đợt bón thúc phân vào thời kỳ cây có
quả cần tránh bón phân trước thu hoạch 7-10 ngày.
+ Bón thúc lần 1: khoảng 15-20 ngày sau trồng khi cà chua bắt đầu phát
triển thân lá. Bón phân đạm với khoảng 1/10 tổng lượng N. Khi sử dụng phân
khô để bón cần bón phân cách cây khoảng 7-10 cm, kết hợp vun xới để vùi phân
xuống độ sâu 5-7 cm.
+ Bón thúc lần 2: khoảng 35-45 ngày sau trồng khi cây bắt đầu có nụ.
Thường sử dụng 1/5 tổng lượng đạm, 1/5 lượng kali. Bón phân vào sát gốc cây
rồi kết hợp xới xáo, làm cỏ, lấp phân xuống.
+ Bón thúc lần 3: cách bón thúc lần 2 từ 10-12 ngày, khi cây ra hoa rộ.
Thường bón 1/3 lượng đạm, 1/3 lượng kali. Nên hòa phân vào nước để tưới cho
cây.
+ Bón thúc lần 4: Sau khi thu hoạch quả đợt 1. Thường bón 1/5 lượng
đạm, 1/5 lượng kali. Nên hòa phân vào nước tưới cho cây.
Bón phân cân đối cho cà chua
– Trong bón phân cho cà chua, cân đối đạm và kali là yếu tố quan trọng
nhất trong dinh dưỡng của cà chua. Bón phân lân và kali cân đối với đạm ngoài
việc làm năng suất tăng thêm còn làm tăng kích thước quả, tăng tỷ lệ đường
trong quả, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh.
– Phối hợp một tỷ lệ và khối lượng thích hợp giữa phân vi sinh A2 và
phân vô cơ là điều kiện quan trọng đảm bảo năng suất và chất lượng cà chua
– Chế độ bón phân hợp lý cho cà chua thay đổi tùy thuộc vào mức năng
suất và loại cà chua trồng. Khi tăng năng suất thì phải chú ý tới việc cung cấp đủ
và cân đối dinh dưỡng không chỉ đa lượng mà cả trung lượng và vi lượng.
18
18
- Sợi nấm lưu tồn trên tàn dư cây bệnh, lan truyền theo gió,mưa lây lan ra
diện rộng.
Biện pháp phòng trừ:
- Vệ sinh đồng ruộng, thu gom và tiêu hủy tàn dư cây bệnh.
- Trồng giống kháng bệnh.
- Bón vôi, phân hữu cơ, phân gà trước khi gieo trồng.
- Luân canh với cây trồng khác, không luân canh với khoai tây.
- Ngắt và tiêu hủy lá già, lá bị bệnh.
- Khi có đợt gió lạnh kèm theo mưa phùn hoặc sương giá nên phun thuốc
phòng.bệnh
Bệnh Thán thư (Colletotrichum phomoides)
Điều kiện phát sinh, phát triển:
Bệnh thường gây hại nặng trong mùa mưa hoặc trong ruộng tưới nhiều
nước. Trên các bộ phận cây trồng, bệnh thường gây hại trên trái đang hoặc đã
chín, đôi khi trên trái già khi có mưa nhiều hoặc ẩm độ không khí cao.
Khả năng gây hại:
Đốm bệnh lúc đầu hình tròn, úng nước, hơi lõm xuống. Sau đó đốm bệnh
lan dần ra, có đường kính 0,5-2 cm, tâm vết bệnh có màu nâu đen, viền màu nâu
xám. Bên trong vết bệnh có nhiều vòng đồng tâm, và có những chấm nhỏ li ti
màu đen nhô lên.
Biện pháp quản lý:
- Thu gom và tiêu hủy các trái bị bệnh.
- Chọn giống ít nhiễm bệnh hoặc tránh cây cho trái vào lúc mưa nhiều.
- Trồng thưa và làm giàn chống đỡ tạo sự thoáng khí cho cây.
- Phun trị bằng thuốc có hoạt chất Azoxystrobin, Metalaxyl hay các hỗn
20
20
hợp (Mandipropamid + Chlorothalonil)…
bên cây, sau đó lan ra toàn cây; lá héo rủ màu vàng không bị rụng. Vết bệnh ở
trên thân sát mặt đất hoặc ở cổ rễ màu nâu, vết bệnh lớn dần làm khô tóp cả
đoạn thân sát mặt đất, bộ rễ phát triển kém, rễ bị thối dần. Khi trời ẩm trên mặt
vết bệnh có lớp nấm màu hồng nhạt, chẻ dọc thân thấy bó mạch libe có màu nâu.
Đặc trưng của bệnh này là các lá dưới bị vàng trước sau đó vàng lan lên
các lá trên.
Biện pháp quản lý:
- Luân canh cây trồng khác họ.
- Sử dụng giống kháng. Bón vôi trước khi trồng.
- Xử lý hạt giống bằng nước nóng 500C trong 25 phút.
- Dùng phân hữu cơ hoai mục, có nhiều vi sinh vật đối kháng.
- Nhổ bỏ cây bị bệnh, tránh tạo vết thương cho cây.
- Nên chọn đất có điều kiện thoát nước tốt.
Bệnh chết cây con (Pythium sp., Phytopthora sp., Rhizoctonia solani)
Điều kiện phát sinh, phát triển:
Nấm gây bệnh tồn tại trong đất, thích hợp với ẩm độ và nhiệt độ cao.
Khả năng gây hại:
Phần thân dưới mặt đất bị thối khô và có màu nâu sẫm đến đen. Vết bệnh
thường giới hạn ở phần ngoài của thân và các cây bị nhiễm có thể bị đổ hoặc lá
bị rủ, xám bóng và có màu xanh lục. Những cây bị nhiễm sẽ còi cọc và chết.
Biện pháp quản lý:
- Vệ sinh đồng ruộng triệt để.
- Bón phân đầy đủ, cân đối.
- Phòng trừ bằng các loại thuốc có hoạt chất Metalaxyl, Azoxystrobin hay
các hỗn hợp (Matalaxyl + Mancozeb); (Mandipropamid + Chlorothalonil)…
Cháy lá muộn (Phytopthora infestans)
Điều kiện phát sinh, phát triển:
Bệnh phát triển thuận lợi trong điều kiện thời tiết ẩm và mát, nhiều mưa,
nhiệt độ từ 18-22oC.
thân làm thân thối mềm, úng nước dễ gãy.
- Trên hoa: vết bệnh màu nâu hoặc nâu đen ở đài hoa, sau đó lan rộng làm
cho hoa bị rụng.
23
23
- Trên quả: vùng nhiễm bệnh có màu nâu đậm, cứng và nhăn. Khi trời ẩm
ướt làm cho quả bị thối. Biện pháp quản lý
- Vệ sinh đồng ruộng, thu gom, tiêu hủy quả bị bệnh, cắt tỉa loại bỏ các lá
già, lá bệnh.
- Chọn cây giống sạch bệnh, với mật độ thích hợp.
- Dùng một số loại thuốc BVTV sau để phòng trừ: Revus Opti 440SC
luân phiên với các sản phẩm có hoạt chất Metalaxyl; Azoxystrobin…
Bệnh đốm lá do nấm (Septoria lycopersici)
Điều kiện phát sinh, phát triển:
Bệnh xâm nhiễm ở mọi giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây và
nhiều nhất trong điều kiện thời tiết ẩm ướt, mưa liên tục nhiều ngày. Khi tán lá
cây có độ che phủ lớn, làm hạn chế sự chuyển động không khí trong tán tạo nên
1 tiểu khí hậu có ẩm độ cao, thì diễn tiến của bệnh phát triển rất nhanh.
Khả năng gây hại:
Đây là bệnh khá phổ biến. Ban đầu trên lá xuất hiện những chấm nhỏ,
sũng nước, sau đó phát triển thành những đốm có hình tròn, đường kính khoảng
3-4mm. Vết bệnh màu xám trắng và xung quanh có đường viền màu nâu đen.
Khi gặp điều kiện thuận lợi, quả thể bào tử sẽ phát triển và mọc bên trên vết
bệnh tạo thành những chấm đen trên bề mặt. Bệnh tấn công mặt dưới lá sau đó
dần dần lên phía trên bề mặt lá khi gặp điều kiện mưa nhiều. Lá bị nhiễm bệnh
nặng sẽ có màu vàng, khô héo và sau cùng sẽ rụng.
Biện pháp quản lý:
- Khi phát hiện cây bị bệnh nhanh chóng tiến hành thu gom và tiêu hủy.
Lây nhiễm bởi tay, dụng cụ lao động, hạt giống, sản phẩm thuốc lá khô,
cỏ dại, tàn dư thực vật.
Khả năng gây hại:
Cây bệnh sinh trưởng chậm, lá biến dạng xoăn vào trong hướng lên trên,
lá có thể biến màu vàng hoặc nhợt nhạt, nhỏ lại về kích cỡ, số và chùm hoa
giảm, trái nhỏ, giảm chất lượng, trái có thể chín sớm hoặc bị sượng, năng suất
giảm rõ rệt. Có nhiều loài virus, và gây các triệu chứng khảm khác nhau: lá dạng
dương xỉ; lá đốm sọc, lá đốm héo; lá khảm sần sùi; ngọn chùn ngọn, vàng lá,
chùn ngọn…
25
25