Lưu ý khi soạn thảo VN QPPL - Pdf 43

Các kỹ năng dưới đây sẽ giúp nhà soạn thảo có những văn bản
chuẩn xác về ngôn ngữ và diễn đạt.
4.1. Sử dụng thời hiện tại, quá khứ và tương lai đúng với nội dung
mà văn bản muốn thể hiện: Các hành vi của chủ thể pháp luật xẩy ra ở những
thời điểm khác nhau. Các quy phạm pháp pháp luật phần lớn chỉ áp dụng đối
với các hành vi xảy ra sau khi quy phạm pháp luật được ban hành có hiệu lực
trừ rất ít những quy phạm có hiệu lực hồi tố.
Vì vậy, khi diễn đạt một quy định pháp luật thì cần chú ý đến việc xác
định thời điểm hành vi mà quy định chúng ta cần soạn thảo sẽ điều chỉnh. Điều
này được thực hiện một cách chính xác nếu chúng ta sử dụng đúng các thời
quá khứ, hiện tại, tương lai.
Không ít các văn bản không chú ý đến vấn đề này nên dễ dẫn đến sự
hiểu sai và áp dụng sai các quy định được ban hành:
4.2. Bảo đảm độ chính xác cao nhất về chính tả và thuật ngữ: Cách
diễn đạt một quy phạm pháp luật phải bảo đảm độ chính xác về chính tả và
thuật ngữ. Sai sót chính tả có thể xử lý được dễ dàng bởi đội ngũ biên tập song,
sai sót về thuật ngữ thì chỉ có các nhà soạn thảo mới khắc phục được. Khi soạn
thảo văn bản, người soạn thảo có những tư tưởng riêng của mình nên họ biết
nên dùng thuật ngữ nào cho phù hợp, phản ánh đúng nội dung các quy định
cần soạn thảo.
Một số quy tắc sau đây cần được đặc biệt chú ý để cho văn bản soạn
thảo đạt độ chính xác cao:
4.2.1. Trong văn bản pháp luật mức độ thể hiện tính nghiêm khắc trong
đòi hỏi của pháp luật đối với chủ thể. Cần xác định mức độ đòi hỏi của pháp
luật bằng cách thể hiện nó trong diễn đạt các quy định pháp luật
- Khi nêu các giả định trong các quy phạm pháp luật thì nên dùng các
cụm từ thể hiện khả năng chứ không dùng các từ hoặc cụm từ biểu đạt một sự
khẳng định tuyệt đối. Các từ, ngữ thích hợp nhất và được dùng phổ biến nhất
là: Nếu, Khi, Trong trường hợp, Hoặc, Hay v.v. Việc sử dụng các từ, ngữ này
cũng cần phải linh hoạt để tránh lặp lại trong một quy định.
- Khi quy định những xử sự mà chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện hoặc

đồng tại một cơ quan công chứng.
b) Khi pháp luật đã có các thuật ngữ pháp lý chính thức thì tuyệt đối
phải sử dụng chúng. Nhiều người khi soạn thảo một số văn bản hướng dẫn về
các biện pháp bảo đảm hợp đồng vẫn dùng khái niệm để đương, khế ước trong
lúc Bộ luật dân sự và nhiều văn bản hiện hành khác đã dùng hợp đồng, thế
chấp.
c) Phải tuân thủ nội hàm của khái niệm cần sử dụng và đặt chúng đúng
vào văn cảnh của quy định cần soạn thảo. Ví dụ người nước ngoài và người
Việt Nam định cư ở nước ngoài không phải là một. Người nước ngoài là người
mang quốc tịch một quốc gia khác. Người Việt Nam có thể là người nước
ngoài nếu họ mang quốc tịch nước khác. Tuy nhiên, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài vẫn là người Việt Nam nếu họ không từ bỏ quốc tịch Việt Nam để
gia nhập quốc tịch nước khác. Chính vì vậy, việc dùng khái niệm người nước
ngoài để chỉ cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài là không chính xác và
có thể làm phát sinh nhiều vấn đề pháp lý phức tạp. Điểm 5.5 của Thông tư số
01-NH5/TT ngày 28/4/1995 là một ví dụ cho việc dùng không đúng thuật ngữ
pháp lý. "Văn phòng đại diện phải đăng ký với Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành
phố nơi đóng trụ sở về số người nước ngoài làm việc tại văn phòng đại diện
(bao gồm người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài) theo số
lượng quy định tại Giấy phép". Thuật ngữ pháp lý ý nghĩa rất lớn đối với việc
đạt mục đích và tính chính xác của các quy định, hay văn bản cần soạn thảo.
Việc lựa chọn thuật ngữ phải được người soạn thảo cân nhắc kỹ càng. Chẳng
hạn, không thể dùng khái niệm hậu quả pháp lý để chỉ phí tổn nguyên vật liệu,
tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại; (Điều 19 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế). Hậu
quả pháp lý chính là trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên đối với những phí tổn,
những thiệt hại đó chứ không phải bản thân chúng. Chúng chỉ là những sự kiện
thực tế xảy ra.
4.2.3. Chỉ sử dụng tiếng Việt chuẩn, không sử dụng phương ngữ Bên
cạnh việc sử dụng chính xác các thuật ngữ pháp lý, việc sử dụng chính xác
ngôn ngữ diễn đạt khác cũng là một yêu cầu đáng lưu ý. Người soạn thảo văn

và 54 điều gồm các điều từ 590 đến 644. Sẽ chính xác và dễ áp dụng hơn nếu
điều 637 chỉ viện dẫn đến chương VI phần V của BLDS. Các chương còn lại
của phần V BLDS không liên quan đến việc thừa kế quyền sử dụng đất. Một
yêu cầu khác của việc viện dẫn là đảm bảo tính phù hợp của đối tượng điều
chỉnh của quy định viện dẫn và quy định được viện dẫn. Một quy phạm xử
phạt hành chính không thể viện dẫn đến một hình phạt quy định trong Bộ luật
hình sự như là một chế tài cho bản thân nó.
4.4. Dùng câu ngắn với trật tự lôgic: Câu văn dài có thể gây sự khó
hiểu và dễ mất đi tính chính xác. Nhiều người cho rằng pháp luật nước ta
thường hay được diễn đạt dài dòng và khó hiểu. Điều nay là thực tế và có cơ
sở. Lý do chính là nhiều văn bản dùng câu quá dài. Quy định sau đây có thể là
một ví dụ minh hoạ: "Đối với hàng hoá, dịch vụ kinh doanh có điều kiện, các tổ
chức hoặc cá nhân không được phép kinh doanh mà kinh doanh, hoặc được
phép kinh doanh mà trong quá trình kinh doanh không thường xuyên đảm bảo
các điều kiện qui định cho loại hàng hoá, dịch vụ đó, đều coi là hành vi kinh
doanh trái phép, tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc bị truy
cứu trách nhiệm hình sự theo qui định của pháp luật hiện hành" (Điều 15 Nghị
định 36-CP ngày 5 tháng 1 năm 1995 của Chính phủ). Câu văn này dài và khó,
có nhiều chỗ trùng lặp nhau có thể tránh. Trước hết cần tránh cụm từ kinh
doanh, hàng hoá, dịch vụ được lặp lại nhiều lần và sau đó có thể rút ngắn đoạn
văn này như sau: "Việc kinh doanh những hàng hoá, dịch vụ có điều kiện khi
không được phép hoặc không đảm bảo các yêu cầu qui định đối với hàng hoá
dịch vụ đó đều bị coi là hành vi kinh doanh trái phép và có thể bị xử lý hành
chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tuỳ theo mức độ vi phạm" .Quy định
này từ chổ diễn đạt bằng 90 từ được rút ngắn còn 60 từ. Sử dụng các câu ngắn,
tránh các câu dài lê thê cũng là một trong phương pháp làm cho văn bản cần
soạn thảo cô đọng, chính xác, các quy định ban hành ra dễ được hiểu đúng bởi
các đối tượng mà chúng hướng tới.
Có những lý do sau đây khiến chúng ta nên tránh các câu dài:
Thứ nhất, về bản chất, các quy định pháp lý vốn rất khó. Vì vậy việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status