SKKN hướng dẫn học sinh rèn kỹ năng học tốt môn địa lí ở bậc THCS - Pdf 43

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG PT DÂN TỘC NỘI TRÚ LIÊN HUYỆN
TÂN PHÚ – ĐỊNH QUÁN
Mã số: ………………..

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH RÈN KỸ NĂNG HỌC TỐT MÔN
ĐỊA LÍ BẬC TRUNG HỌC CƠ SƠ

Người thực hiện: Nguyễn Hồng Hải
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục:
- Phương pháp dạy học bộ môn: Địa li
- Phương pháp giáo dục:
- Lĩnh vực khác:

Có đinh kèm
Mô hình 

Phần mềm 

Phim ảnh 






Hiện vật khác 

Năm học: 2016 - 2017

MỤC LỤC
7. PHỤ LỤC.... . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 27

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: “HƯỚNG DẪN HỌC SINH RÈN
KỸ NĂNG HỌC TỐT MÔN ĐỊA LÍ BẬC THCS”
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

X

ã hội luôn luôn vận động và phát triển, tư duy của loài người không một
giây phút “ngủ yên” sự thăng tiến của loài người từ xưa tới nay đã chứng
minh điều đó. Chính vì vậy, mở rộng tri thức là việc làm cấp bách đối với tất cả
mọi người và đặc biệt quan trọng hơn đối với thế hệ trẻ mà điển hình là các em
học sinh. Điều đó lại càng quan trọng và cấp bách hơn bao giờ hết khi chúng ta đã
và đang đặt chân bước lên bậc thềm thế kỉ XXI và toàn cầu hoá thị trường thế giới.
Thế nhưng trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh với sự bùng nổ thông tin,
khoa học kĩ thuật công nghệ phát triển như vũ bão, thì không thể nhồi nhét vào
đầu óc trẻ khối lượng kiến thức càng nhiều. Nếu cứ tiếp tục dạy và học (D&H) thụ
động như thế, giáo dục sẽ không đáp ứng được nhu cầu mới của xã hội. Sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu trên
con đường tiến vào thế kỉ XXI bằng cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi đổi mới giáo
dục, trong đó có sự đổi mới về căn bản dạy và học. Đây không phải là vấn đề riêng
của nước ta mà là vấn đề quan trọng ở mọi quốc gia trong chiến lược phát triền
nguồn lực con người phục vụ mục tiêu kinh tế, xã hội.
Chính vì thế những năm gần đây sau cải cách giáo dục ở trường phổ thông
đã dấy lên phong trào đổi mới phương pháp dạy và học nhằm phát huy tính tích
cực, chủ động, tư duy sáng tạo, độc lập trong học tập của học sinh, “lấy trò làm
trung tâm”. Nhiều cuộc hội thảo đã xoay quanh vấn đề sử dung sách giáo khoa
mới như thế nào cho tốt, lựa chọn câu hỏi đàm thoại với học sinh ra sao? Sử dụng
phương pháp giảng dạy theo chương trình đổi mới để phát triển năng lực tư duy

trong dạy học Địa lí giáo viên cần đặc biệt coi trọng các vấn đề sau:
Hình thành cho học sinh hệ thống các biểu tượng, khái niệm địa lí, các mối
quan hệ địa lí, nhất là mối quan hệ nhân quả.
Phát triển cho học sinh tư duy địa lí đó là tư duy liên hệ tổng hợp xét đoán
dựa trên bản đồ.
Tận dụng triệt để các thiết bị dạy học Địa lí như tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ,
bảng thống kê, băng đĩa hình, trong đó quan trọng nhất là bản đồ. Qua bản đồ, học
sinh dễ dàng có được các biểu tượng trong không gian đồng thời phát triển tư duy
Địa lí.
Tăng cường hướng dẫn học sinh quan sát, thu thập thông tin, vận dụng kiến
thức, kĩ năng Địa lí để giải quyết vấn đề có liên quan trong cuộc sống.
Trang 4


2.2. Cơ sở thực tiễn:
Từ trước đến nay, trong dạy học Địa lí, giáo viên chủ yếu sử dụng các
phương pháp dạy học như phương pháp dùng lời, phương pháp sử dụng các
phương tiện trực quan (mô hình, bản đồ, tranh ảnh, các loại biểu bảng…).Có thể
nói một số không ít giáo viên có tâm huyết với nghề nghiệp, có hiểu biết sâu sắc
về bộ môn đã sử dụng các phương pháp này khá tốt, kích thích suy nghĩ, tìm tòi,
tự lực của học sinh. Tuy nhiên, cũng không ít giáo viên còn ít quan tâm tới việc
phát huy tính tích cực học tập của học sinh khi sử dụng các phương pháp dạy học
nói trên. Có thể nhận thấy những nét chung của giáo viên hiện nay là vẫn sử dụng
phương pháp cũ trong dạy học môn địa lí như:
Phương pháp dùng lời cho đến nay vẫn được coi là một trong những phương
pháp chính để chỉ đạo học sinh lĩnh hội kiến thức và kĩ năng địa lí, đặc biệt là khâu
nắm kiến thức mới. Lời ở đây chủ yếu là lời của thầy để mô tả, giải thích các sự
vật, hiện tượng địa lí, phân tích mối quan hệ giữa các hiện tượng, sự vật địa lí kết
hợp với việc tổ chức học sinh quan sát khi sử dụng các đồ dùng trực quan. Phương
pháp vấn đáp cũng là một trong những phương pháp dùng lời được sử dụng phổ

điểm: Thế nào là đổi mới phương pháp dạy học Địa lí? Chưa có sự triển khai đồng
bộ trong các khâu: Bồi dưỡng giáo viên, đổi mới cách viết sách giáo khoa, sách
giáo viên, cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá…trong đó
chế độ thi cử còn chia ra các môn “chính phụ” là những trở ngại lớn. Nhiều giáo
viên chưa tâm huyết với nghề nghiệp, chưa đầu tư nhiều vào chuyên môn vì quan
niệm môn Địa lí là môn phụ.

Trang 6


3. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ
3.1 GIẢI PHÁP 1: HƯỚNG DẪN HỌC SINH HỌC TẬP ĐỊA LÍ :
3.1.1. Hướng dẫn học sinh kĩ năng sử dụng các phương tiện và thiết bị dạy
học:
Thiết bị và phương tiện dạy học phong phú, hiện đại, thực sự là công cụ
cho học sinh trong việc nghiên cứu khám phá kiến thức một cách nhanh chóng và
có hiệu quả nhất. Do vậy, giáo viên cần tổ chức hướng dẫn học sinh tiến hành các
hoạt động học tập nhằm khai thác và lĩnh hội kiến thức với phương tiện dạy học
Địa lí sau:
3.1.2. Bản đồ, lược đồ:
Đối với việc dạy học Địa lí, bản đồ là nguồn kiến thức quan trọng và được
coi như quyển sách thứ hai của học sinh. Tổ chức cho học sinh làm việc với bản
đồ giáo viên cần lưu ý hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức trên bản đồ theo các
bước sau:
Đọc tên bản đồ để biết đối tượng địa lí thể hiện trên bản đồ là gì ?
Vi dụ: Bản đồ địa hình thì đối tượng thể hiện trên bản đồ chủ yếu là địa
hình ( các dạng địa hình và sự phân bố của chúng); bản đồ khí hậu thì đối tượng
thể hiện chủ yếu của bản đồ sẽ là các yếu tố khí hậu ( Nhiệt độ, khí áp, gió, mưa...)
hoặc bản đồ công nghiệp thì đối tượng thể hiện chủ yếu sẽ là các trung tâm và các
ngành công nghiệp. . .

hậu từ đó giải thích vì sao các hoang mạc lại thường nằm dọc theo hai đường chí
tuyến, ở sâu trong lục địa.
3.1.3. Biểu đồ:
Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh phân tích biểu đồ theo các bước:
- Đọc tiêu đề phía trên hoặc phía dưới biểu đồ, xem biểu đồ thể hiện, hiện
tượng gì ? (khí hậu, cơ cấu kinh tế, phát triển dân số...).
- Tìm hiểu xem các đại lượng thể hiện trên biểu đồ là gì?(nhiệt độ, lượng
mưa, các ngành kinh tế, dân số...) trên lãnh thổ nào và thời gian nào, được thể hiện
Trang 8


trên biểu đồ như thế nào? (theo đường, cột, hình quạt...) và trị số các đại lượng
được tính bằng gì ? (mm, %, triệu người...).
- Dựa vào các số liệu thống kê đã được trực quan hóa trên biểu đồ, đối
chiếu, so sánh chúng với nhau và rút ra nhận xét về các đối tượng và hiện tượng
địa lí được thể hiện.
Vi dụ 2:
Khi dạy Bài 21:Thực hành: Phân tích biểu đồ nhiệt độ, lượng mưa (Lớp 6).
Bài tập 1: Phân tích biểu đồ nhiệt độ lượng mưa của Hà Nội (Hình 55SGK/65).

- Tên biểu đồ: biểu đồ nhiệt độ lượng mưa của Hà Nội.
- Các đại lượng được thể hiện trên biểu đồ là nhiệt độ và lượng mưa của Hà
Nội qua các tháng trong năm. Nhiệt độ được thể hiện bằng đường đồ thị, lượng
mưa được thể hiện bằng hình cột. Trị số của nhiệt độ được tính bằng ( oC), lượng
mưa được tính bằng ( mm).

Trang 9


- Dựa vào đường đồ thị thể hiện nhiệt độ và các cột thể hiện lượng mưa của

- Giáo viên cho học sinh quan sát các mô hình với yêu cầu:
+ Kể tên các hành tinh trong hệ Mặt Trời.
+ Cho biết Trái Đất nằm ở vị trí thứ mấy trong các hành tinh theo thứ tự xa
dần Mặt Trời.
=> Từ đó học sinh nhận biết được Trái Đất ở vị trí thứ ba trong số tám hành tinh
theo thứ tự xa dần Mặt Trời.
3.2.3. Mô hình hệ thống sông và lưu vực sông

- Với mô hình này nhiệm vụ của người giáo viên là làm cho học sinh mô tả
được hệ thống sông qua mô hình để làm được điều này, giáo viên cần phải tiến
hành khai thác trên mô hình bằng phương pháp vấn đáp:
+ Sông là gì ?
+ Sông được thể hiện bằng màu gì trên mô hình?
+ Những bộ phận nào hợp thành một hệ thống sông?
+ Mỗi bộ phận có nhiệm vụ gì?
+ Dòng chảy lớn nhất gọi là gì?
- Từ đó học sinh rất dễ dàng xác định được đâu là phụ lưu, đâu là chi lưu, và
đâu là sông chính của bất kỳ một con sông nào trên bản đồ treo tường.
3.3. GIẢI PHÁP 3:TRANH ẢNH ĐỊA LÍ:
Việc khai thác kiến thức từ tranh ảnh địa lí được tiến hành theo các bước:
- Nêu lên các bức tranh (hoặc ảnh) nhằm xác định xem bức tranh hay bức
ảnh đó thể hiện cái gì? (đối tượng địa lí nào?), ở đâu?.
- Chỉ ra những đặc điểm, thuộc tính của các đối tượng địa lí được thể hiện
trên bức tranh (hoặc ảnh).

Trang 11


- Nêu biểu tượng và khái niệm địa lí trên cơ sở những đặc điểm và thuộc
tính của nó.

Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ-Lớp 9).
Trang 12


Sản lượng thủy sản ở Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ năm 2002
(Nghìn tấn).
Bắc Trung Bộ

Duyên Hải Nam Trung Bộ

Nuôi trồng

38,8

27,6

Khai thác

153,7

493,5

- Đọc rõ số liệu.
- So sánh số liệu và rút ra nhận xét.
+ Sản lượng nuôi trồng Bắc Trung Bộ lớn hơn Duyên hải Nam Trung Bộ.
+ Sản lượng khai thác Duyên hải Nam Trung Bộ lớn hơn Bắc Trung Bộ.
-

Câu hỏi đặt ra cho bảng số liệu.



+ Ba biểu đồ khí hậu bên cạnh ba kiểu rừng.
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thu thập thông tin qua bài viết, tranh
ảnh, lược đồ để trả lời các câu hỏi trong bài và rút ra các kết luận về:
- Đặc điểm thời tiết bốn mùa và sự thay đổi quang cảnh thiên nhiên theo
mùa ở đới ôn hòa.
- Sự đa dạng của môi trường đới ôn hòa (nhiều loại môi trường).
Trang 14




- Mối quan hệ giữa chế độ nhiệt, mưa với các loại rừng ở đới ôn hòa.
Thông qua hoạt động thu thập, xử lí thông tin để khai thác lĩnh hội kiến thức
học sinh sẽ có được phương pháp học tập, biết cách thu thập và xử lí thông tin từ
các nguồn tài liệu khác, từ đó hình thành năng lực tự học.
3.6. GIẢI PHÁP 6: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH THEO HÌNH
THỨC HỌC TẬP KHÁC NHAU:
Để có thể tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, ngoài hình thức tổ
chức học tập tập trung theo lớp như hiện nay, nên tổ chức cho học sinh học tập cá
nhân và học tập theo nhóm ngay tại lớp.
3.6.1. Hình thức học tập cá nhân.
Dạy học theo định hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh đòi
hỏi có sự cố gắng về trí tuệ và nghị lực cao của mỗi học sinh trong quá trình tự lực
giành lấy kiến thức mới. Do đó, hình thức tự học tập cá nhân là hình thức học tập
cơ bản nhất vì nó tạo điều kiện cho mỗi học sinh trong lớp được tự nghĩ, tự làm
việc một cách tích cực nhằm đạt tới mục tiêu học tập. Học sinh phải vận dụng kiến
thức, kĩ năng đã có để khai thác và lĩnh hội kiến thức mới. Đồng thời hình thức
này cũng tạo điều kiện để học sinh bộc lộ khả năng tự học của mỗi người.
Việc tiến hành dạy học thông qua tổ chức hoạt động học tập cá nhân có thể

* Phân công trong nhóm (cử nhóm trưởng, thư ký của nhóm), phân công
việc cho từng thành viên trong nhóm.
* Từng cá nhân làm việc độc lập.
* Trao đổi, thảo luận trong nhóm và cùng nhau hoàn thiện nhiệm vụ của
nhóm.
* Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm(không nhất thiết là nhóm
trưởng hay thư ký, mà có thể là một thành viên của nhóm đại diện trình bày kết
quả làm việc của nhóm).
Làm việc chung cả lớp (thảo luận, tổng kết trước toàn lớp).
* Đại diện một vài nhóm báo các kết quả làm việc.
* Thảo luận chung(các nhóm nhận xét, đóng góp ý kiến và bổ sung cho
nhau).* Giáo viên tổng kết và chuẩn xác kiển thức.
* Sau cùng giáo viên nên có nhận xét ngắn gọn về tình hình làm việc của
các nhóm để kịp thời động viên khuyến khích các nhóm làm việc tốt và rút kinh
nghiệm cho các nhóm làm việc chưa tốt.
Vi dụ 6: Khi dạy Bài 9: Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa (Địa lí 6).
Phân tích hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa.
Làm việc chung cả lớp:
+ Xác định nhiệm vụ nhận thức.
Quan sát hình 24(SGK/28) và trả lời 5 câu hỏi trong phiếu học tập:

Trang 16


Câu 1: Vì sao đường biểu diễn trục trái đất (BN) và đường phân chia sáng
tối(ST) không trùng nhau?.
Câu 2: Ngày 22/6 và ngày 22/12 nửa cầu nào ngả về phía mặt trời và có
diện tích được chiếu sáng rộng hơn? Độ chênh lệch giữa ngày và đêm ở mọi điểm
của nửa cầu đó sẽ như thế nào?(Ngày dài hơn đêm hay đêm dài hơn ngày?).
Câu 3: Nơi nào trên Trái Đất có độ dài ngày và đêm bằng nhau?

điều khiển nhóm thảo luận, thư ký nhóm ghi lại ý kiến của từng cá nhân và ý kiến
thống nhất của cả nhóm.
Làm việc chung cả lớp:
Hai học sinh đại diện cho hai nhóm báo cáo kết quả làm việc của nhóm
(một nhóm báo cáo kết quả về ngày 22/6 và một nhóm báo cáo kết quả về ngày
22/12).
Các nhóm khác theo dõi góp ý và bổ sung.
Giáo viên tổng kết, chuẩn xác kiến thức và nhận xét tinh thần làm việc của cả các
nhóm, giáo viên tuyên dương những nhóm có ý kiến hay, tinh thần tập thể cao,
đồng thời nhắc nhở các nhóm còn thụ động để học sinh rút kinh nghiệm trong
những tiết sau.Để tổ chức các hoạt động học tập của học sinh được thuận lợi và đỡ
mất thời gian, nếu có điều kiện nên sử dụng phiếu học tập. Phiếu học tập là những
tờ giấy rời, bảng phụ hoặc phim trong trên đó xác định nhiệm vụ nhận thức (Các
câu hỏi, bài tập…) mà học sinh phải hoàn thành nhiệm vụ đó trong một thời gian
ngắn.
3.7. GIẢI PHÁP 7: HƯỚNG DẪN HỌC SINH SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY
TRONG HỌC TẬP:
Hiện nay do nội dung học tập ở trường phổ thông nói chung và môn Địa lí
nói riêng quá nhiều vì vậy việc ghi nhớ nội dung là vấn đề mà nhiều học sinh lo
lắng. Để giảm áp lực cho học sinh đồng thời giúp các em ghi nhớ nội dung một
cách nhanh chóng và lâu dài giáo viên cần sử dụng bản đồ tư duy trong các bài
dạy đặc biệt là các bài ôn tập đồng thời hướng dẫn học sinh biết cách vẽ bản đồ tư
duy sau mỗi bài, mỗi chương hay cả chương trình học tập

Trang 18


Vi dụ 7: Để ghi nhớ nội dung bài 36 “Thiên nhiên Bắc Mỹ” – Địa lí 7 giáo
viên hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy từ đó giúp học sinh dễ nhớ và nhớ lâu
Vi dụ 8: Để ghi nhớ nội dung tình hình phát triển kinh tế vùng Đông Nam Bộ (Bài


Trang 21


Hình 2: BĐTD Cơ cấu ngành dịch vụ ( đủ thông tin)
Sau khi đã hoàn thiện bản đồ, học sinh cần rút ra nhận xét về cơ cấu ngành
dịch vụ hay nói cách khác là nhận xét về mối quan hệ giữa các nhánh thông tin với
từ khoá trung tâm. Đây chính là phần hiểu bài của học sinh mà giáo viên nên căn
cứ vào đó để đánh giá và nhận xét.

Trang 22


4. HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN
Qua việc thực hiện đổi mới phương pháp day học tôi thấy đã đạt được
những kết quả tích cực sau:
4. 1. Đối với giáo viên:
- Giáo viên tích cực nghiên cứu, suy nghĩ, tìm ra những phương pháp phù
hợp với nội dung từng bài, từng phần, từng loại kiến thức.
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày một nâng cao.
4.2. Đối với học sinh:
- Phát huy được tính tích cực sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học cho
người học, bỏ được thói quen học thụ động, ghi nhớ.
- Học sinh ngoài việc tự học còn biết trao đổi thảo luận với bạn trong
nhóm, trên lớp, đề xuất ý kiến.
4.3. Hiệu quả tiết dạy:
Trong một vài năm gân đây một số giờ lên lớp giảng dạy môn Địa lí, tôi
thực hiện rèn luyện kỹ năng hướng dẫn học sinh học tốt môn Địa lí, kết hợp đổi
mới phương pháp dạy và học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, tư duy sáng
tạo, độc lập trong học tập của học sinh, lấy trò làm trung tâm, chất lượng giờ lên

thú

Bình thường

Rất hứng thú

được khảo sát

SL

%

SL

%

SL

%

69

07

10

52

75



%

69

29

42

33

47,8

7

10,2

KẾT QUẢ KHẢO SÁT SAU KHI ĐÃ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Qua thực tế khảo sát 62 học sinh khối 9 ở nhiều tiết giảng dạy bằng Hướng
dẫn học sinh rèn luyện kỹ năng học tốt môn Địa lí trong năm 2016 - 2017 về thái
độ học tập và mức độ tiếp thu bài học môn Địa lí mà cho thấy hầu hết học sinh có
thái độ tích cực và rất hứng thú học môn Địa lí với số liệu cụ thể như sau:
* Thái độ học tập:
Tổng sô

Không hứng
thú

Bình thường


Học sinh khối 9

* Mức độ tiếp thu:
Trang 24


Tổng sô
Học sinh khối 9

Nhớ được kiến
thức

Hiểu được kiến
thức

Vận dụng được
kiến thức

được khảo sát

SL

%

SL

%

SL


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status