Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường mầm non thị trấn huyện thường xuân - Pdf 43

Mục lục
Mục lục..................................................................................................................1
1. Mở đầu:..............................................................................................................2
1.1. Lí do chọn đề tài:........................................................................................2
1.2. Mục đích nghiên cứu:.................................................................................3
1.3. Đối tượng nghiên cứu:................................................................................3
1.4. Phương pháp nghiên cứu:...........................................................................3
2. Nội dung............................................................................................................3
2.1. Cơ sở lý luận...............................................................................................3
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu..............................................................4
2.3. Các biện pháp thực hiện.............................................................................6
* Biện pháp 1. Tuyên truyền cho đội ngũ giáo viên,nhân viên về công tác vệ
sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non.....................................................6
* Biện pháp 2. Xây dựng kế hoạch và xây dựng thực đơn khẩu phần cho trẻ
phù hợp với thực tế nhà trường và địa phương.....................................................8
* Biện pháp 3. Hợp đồng mua bán thực phẩm sạch........................................10
* Biện pháp 4. Quản lý chỉ đạo công tác giữ gìn vệ sinh môi trường và phòng
ngừa sự ô nhiễm..................................................................................................11
* Biện pháp 5. Chỉ đạo giáo viên dinh dưỡng thực hiện nghiêm túc quy trình
đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại bếp ăn. Thực hiện nghiêm túc nội qui
trong công tác giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm....................12
* Biện pháp 6. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục nhằm xây dựng bảo
quản cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho công tác vệ sinh dinh dưỡng an toàn
thực phẩm:...........................................................................................................14
2.4. Hiệu quả của sáng kiến.............................................................................16
3. Kết luận, kiến nghị..........................................................................................17

1


1. Mở đầu:

trẻ tính theo lượng cơ thể cao hơn so với người lớn, mặt khác do sức ăn của trẻ
có hạn, bộ máy tiêu hóa, chức năng tiêu hóa hấp thụ chưa hoàn chỉnh, khả năng
miễn dịch của trẻ còn hạn chế. Vì thế các thiếu sót trong nuôi dưỡng và chăm
sóc đều có thể dẫn đến các bệnh về dinh dưỡng. Vì vậy bữa ăn của trẻ cần đặc
biệt chú ý quan tâm chất lượng các loại thức ăn cho trẻ phải dễ tiêu hóa, có giá
trị dinh dưỡng cao.
Các cơ sở giáo dục mầm non là nơi tập trung đông trẻ, bản thân trẻ còn
rất non nớt, sức đề kháng chưa cao, chưa chủ động ý thức được đầy đủ về dinh
2


dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm mà chủ yếu phụ thuộc vào người lớn. Do
vậy giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, để phòng chống ngộ độc
thực phẩm là một vấn đề có ý nghĩa thực tế và vô cùng quan trọng trong trường
mầm non. Để có được những chủ nhân tương lai của đất nước khoẻ mạnh, việc
chăm sóc nuôi dưỡng ngay từ khi còn nhỏ đặc biệt là trẻ em trong độ tuổi mầm
non với việc thực hiện bữa ăn của trẻ tại trường mầm non phải được xây dựng
theo khẩu phần thực đơn, các món ăn thường xuyên được thay đổi để trẻ ăn
ngon miệng, tăng cường các chất kích thích sự tiêu hoá, hấp thu chất dinh dưỡng
giúp trẻ phát triển tốt về thể lực và trí tuệ là việc làm thiết thực giúp giảm tỷ lệ
trẻ em bị suy dinh dưỡng và mắc các bệnh.
Xuất phát từ thực tế trên và qua tìm hiểu thực trạng chất lượng giáo dục
dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm trường mầm non Thị trấn Thường
Xuân cho thấy sự cần thiết phải tìm ra các biện pháp để việc chỉ đạo nâng cao
chất lượng về dinh dưỡng trong trường mầm non, do đó tôi mạnh dạn chọn đề
tài “Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ
sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong Trường mầm non Thị Trấn Thường
Xuân” làm đề tài nghiên cứu mong sao quá trình này sẽ góp phần tích cực trong
việc thực hiện nhiệm vụ được giao.
1.2. Mục đích nghiên cứu:

uống đối với trẻ mầm non đã được quan tâm từ rất sớm.
Vì thế việc chăm sóc nuôi dưỡng để trẻ phát triển và lớn lên trong một môi
trường giáo dục tốt thì nhiệm vụ của mỗi chúng ta phải chăm sóc nuôi dưỡng trẻ
mầm non ngay từ khi còn nhỏ. Như chúng ta đã biết cơ thể trẻ em đang ở trạng
thái phát triển dần dần các cơ quan chưa ổn định. Vì vậy khi chăm sóc nuôi
dưỡng trẻ mầm non phải đảm bảo về nhu cầu dinh dưỡng, đảm bảo bữa ăn hợp
lý, đủ lượng, đủ chất, muốn đảm bảo được chất lượng bữa ăn cho trẻ tốt, thì việc
quan trọng đầu tiên phải là đảm bảo an toàn thực phẩm ngay từ trong quá trình
giao nhận thực phẩm, sơ chế, và chế biến thực phẩm.
Trẻ khỏe mạnh mới tham gia chơi đùa cùng bạn bè và học tập mới được
tốt. Vì thế việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ để trẻ phát triển và lớn lên trong một
môi trường giáo dục tốt thì nhiệm vụ của mỗi chúng ta phải chăm sóc nuôi
dưỡng trẻ từ khi còn nhỏ, chăm sóc nuôi dưỡng trẻ không đảm bảo về nhu cầu
dinh dưỡng và rèn luyện thân thể không hợp lý sẽ kìm hãm sự phát triển của trẻ,
trẻ sẽ dễ ốm đau bệnh tật. Việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ không chu đáo, khoa
học sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển thể chất, phát triển toàn diện cho
trẻ (Vì vậy, việc tổ chức tốt hoạt động nuôi dưỡng cho trẻ tại trường mầm non sẽ
giúp cho trẻ phát triển tốt về thể lực cũng như trí tuệ, góp phần nâng cao chất
lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở các trường mầm non). [2]
Trường mầm non Thị trấn Thường Xuân từ nhiều năm nay đã tổ chức
thực hiện tốt công tác tổ chức cho trẻ ăn bán trú tại nhà trường, để đảm bảo vệ
sinh dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường, trong nhiều năm
nhà trường đã đưa ra nhiều biện pháp nhằm khắc phục tình trạng suy dinh dưỡng
cho trẻ. Để cho trẻ có một cơ thể khoẻ mạnh và phát triển toàn diện tôi tập trung
nghiên cứu áp dụng nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng dinh dưỡng và đảm
bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ, nhằm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và tình
trạng ngộ độc thức ăn trong nhà trường, tăng cường vệ sinh dinh dưỡng giúp trẻ
phát triển toàn diện. Năm học 2015- 2016 với tình hình thực tế của nhà trường,
kết hợp với nghiên cứu đặc điểm của địa phương về công tác giáo dục dinh
dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm của trường mầm non Thị trấn trong những

đạo địa phương và đặc biệt là các bậc phụ huynh tin tưởng giúp đỡ tạo điều kiện
đầu tư vào công tác nuôi dưỡng. Vì vậy mà trong năm học chất lượng chăm sóc
giáo dục của trẻ đạt hiệu quả cao. Không có trường hợp trẻ bị ngộ độc thức ăn
xảy ra.
Nhà trường có nhân viên kế toán nên theo dõi thu, chi tiền ăn của trẻ theo
đúng nguyên tắc tài chính hiện hành.
Hội phụ huynh chấp hành đầy đủ các nội quy, quy định, hưởng ứng tích
cực trong việc tổ chức bán trú cho trẻ, nâng mức ăn cho trẻ theo yêu cầu, nhiệt
tình tham gia các phong trào và các hoạt động của nhóm, lớp.
Tuy vậy, trong năm học 2016-2017 nhà trường còn gặp một số khó khăn sau đây:
* Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên nhà trường vẫn còn gặp không ít
những khó khăn như: Phòng nhóm lớp chặt hẹp chưa đủ, số trẻ trên lớp đông so
với quy định. Đa số các cháu gửi đến trường là con em của công nhân viên chức,
người lao động, không có thời gian quan tâm chăm sóc tốt cho trẻ, nhiều trẻ thể
lực chưa đạt yêu cầu so với độ tuổi. Kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm của
một số nhân viên hợp đồng còn hạn chế.
Kỹ năng chăm sóc con cái của đa số các bà mẹ còn thiếu hiểu biết, chưa
phù hợp, chưa phân biệt được thế nào là bữa ăn đủ dinh dưỡng, đáp ứng được
nhu cầu về chất. Và một nguyên nhân nữa là điều kiện kinh tế, đời sống của
nhân dân còn nhiều khó khăn, họ chỉ mới nghĩ đến bữa ăn đủ no chứ chưa có
điều kiện để đảm bảo một bữa ăn đủ chất dinh dưỡng. Do vậy mà ngay từ đầu
năm học tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng đến trường còn khá cao.
* Kết quả thực trạng:
Qua khảo sát của trường năm học 2015-2016 thì số lượng trẻ suy dinh
dưỡng đang còn ở mức cao, kết quả đánh giá như sau:
5


- Tổng số trẻ đến trường: 485 trẻ

* Biện pháp 1. Tuyên truyền cho đội ngũ giáo viên,nhân viên về công
tác vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non.
Là quản lý phụ trách công tác chăm sóc nuôi dưỡng bán trú trong nhà
trường tôi tham mưu với lãnh đạo nhà trường đưa nội dung tuyên truyền các tài
liệu về vệ sinh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm lồng ghép trong các cuộc họp,
trong các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ, đối với các cháu suy dinh dưỡng nhà
trường phối hợp với các phụ huynh tăng cường nguồn dinh dưỡng trong các bữa
ăn hàng ngày của trẻ để trẻ phát triển tốt. Bên cạnh đó chỉ đạo giáo viên tích hợp
nội dung giáo dục dinh dưỡng vào chương trình giảng dạy theo các chủ đề.
- Đưa nội dung vệ sinh an toàn thực phẩm vào chương trình chăm sóc
giáo dục trẻ phù hợp với từng độ tuổi để giám sát công tác vệ sinh chung vệ sinh
an toàn thực phẩm nói riêng theo từng chủ đề.
- Chỉ đạo giáo viên lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường, vệ
sinh an toàn thực phẩm vào các giờ học, giờ ăn.
- Làm quen với các món ăn tại trường, tập ăn hết suất, rèn luyện hành vi
văn minh trong ăn uống. Biết mời cô và các bạn trước khi ăn; ngồi ăn ngay
ngắn, không quay ngang, quay dọc; cầm thìa bằng tay phải tự xúc ăn gọn gàng,
tránh đổ vãi, ăn từ tốn, nhai kỹ, không nói chuyện và đùa nghịch trong khi ăn.

6


Hình ảnh: Các cháu tự phục vụ trong sinh hoạt ăn trưa, ngủ trưa
- Tập cho trẻ tự phục vụ trong sinh hoạt hàng ngày tại trường như: Tự cất,
dọn đồ dùng ăn uống sau khi ăn, lấy gối lên giường đi ngủ.
Bên cạnh đó giấc ngủ trưa ở trường mầm non có ý nghĩa thiết thực quan
trọng cho sức khỏe và hệ thần kinh của trẻ, trẻ ngủ ngon sẽ trở nên điềm tĩnh,
vui vẻ, có biểu hiện nhu cầu và vận động hoạt động. Ngược lại nếu vi phạm chế
độ ngủ của trẻ sẽ dẫn đến trạng thái không cân bằng, trẻ hay thay đổi tính tình
mệt mỏi, kém ăn, chất lượng học chương trình buổi chiều sẽ bị hạn chế. Vì vậy,

“Phân nhóm thực phẩm” thì cần phải chuẩn bị những lô tô về các loại thực phẩm
(đủ 4 nhóm dinh dưỡng) và trò chơi“Thi xem ai nhanh” yêu cầu trẻ lấy đúng và
xếp nhanh phân loại nhóm dinh dưỡng theo yêu cầu của cô giáo. Qua các trò
chơi giúp trẻ nhận biết và nhớ lâu các nhóm thực phẩm trẻ biết nhóm nào nên ăn
7


nhiều và nhóm nào ăn hạn chế. Tổ chức bồi dưỡng kiến thức, cập nhập thông tin
về vệ sinh dinh dưỡng an toàn thực phẩm thường xuyên cho đội ngũ cấp dưỡng,
giáo viên mầm non.

Hình ảnh: Cô cho trẻ chơi “cửa hàng rau quả” hoạt động góc
* Biện pháp 2. Xây dựng kế hoạch và xây dựng thực đơn khẩu phần
cho trẻ phù hợp với thực tế nhà trường và địa phương.
Ngay từ đầu năm học theo sự chỉ đạo của cấp trên tôi đã xây dựng kế
hoạch chăm sóc nuôi dưỡng và nội dung vệ sinh an toàn thực phẩm phù hợp với
đặc điểm thực tế của nhà trường. Thành lập ban chỉ đạo y tế trường học. Ban chỉ
đạo có trách nhiệm đẩy mạnh công tác vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng
chống các dịch bệnh trong nhà trường, theo sự chỉ đạo của nhà trường ban chỉ
đạo xây dựng kiểm tra hàng ngày, tuần, định kỳ cụ thể và đột xuất.
Việc xây dựng thực đơn và khẩu phần ăn theo khẩu phần hàng ngày, hàng
tuần, theo mùa, cân đối hợp lý là rất quan trọng. Được sự quan tâm của Sở giáo
dục và Đào tạo, Phòng giáo dục và đào tạo tổ chức những buổi tập huấn, hướng
dẫn nhà trường áp dụng khoa học dinh dưỡng trong cơ cấu khẩu phần cho các
lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo. Được tập huấn hướng dẫn phần mềm dinh dưỡng 3.2
nên công việc tính ăn được nhanh và đúng so với trước đây phải tính bằng tay
vừa chậm vừa mất nhiều thời gian và cân đối các chất khó đạt theo yêu cầu.
Thực đơn được xây dựng trên máy giúp nhà trường rút được nhiều kinh
nghiệm và có nhiều thực đơn mẫu, căn cứ vào mục thực đơn mẫu, để đi chợ, đặt
hàng rồi làm bảng kiểm tra khẩu phần thực tế.

chất bột đường có trong thức ăn chế biến từ gạo như: Bánh phở, cháo, cơm,
mỳ.... chất này cung cấp năng lượng cho trẻ và giúp chuyển hoá chất trong cơ
thể. Chất đạm có trong thịt, trứng, cá, tôm, cua các loại đậu... giúp xây dựng cơ
bắp, tạo kháng thể. Chất béo có trong mỡ, dầu, lạc, vừng, bơ... dự trữ, cung cấp
cho bé năng lượng và các vitamin.
Chất xơ có trong các loại rau củ, trái cây, giúp cơ thể bé chuyển hoá chất
và tăng cường chất đề kháng cung cấp vitamin, khoáng chất.
- Nước nhu cầu nước của trẻ chiếm từ 10-15% trọng lượng cơ thể. Một trẻ
em thì trung bình cần 1,5- 2 lít nước/1 ngày. Mùa nóng trẻ cần lượng nước nhiều
hơn mùa lạnh. Nếu cha mẹ cho trẻ ăn thức ăn quá mặn hoặc không cho trẻ uống
đủ nước thì sự tiêu hóa và hấp thụ của trẻ sẽ kém.
- Thực phẩm an toàn đây là một vấn đề đặc biệt quan trọng trong quá trình
lựa chọn và chế biến thức ăn cho trẻ. Thịt, cá, rau, trái cây phải tươi sống đảm
bảo không có thuốc sâu hay hoá chất, các thực phẩm chế biến sẵn nên lựa chọn
những thương hiệu có uy tín về chất lượng và an toàn thực phẩm, thức ăn nấu
chín nếu chưa dùng phải đậy kín.
Đối với thực phẩm thịt, cá, rau, trái cây không nên cắt nhỏ ngâm trong
nước sẽ làm mất đi một số vitamin, đối với các loại củ nên rửa nhẹ nhàng sau
9


khi đó gọt sạch vỏ để giảm thiểu việc mất vitamin do các vitamin làm ngay dưới
lớp vỏ.
* Xây dựng thực đơn
THỰC ĐƠN TRONG TUẦN
Thứ
Bữa
BỮA
CHÍNH
BỮA

nấu tôm hoặc
(ngao)
- Uống sữa
bột pha +
Bánh mì

THỨ 5

THỨ 6

- Cơm mềm
- Cá thu rim,
lạc, vừng
- Canh bí đỏ
hầm xương

- Bún
ngan
(hoặc
gà)

- Cháo vịt

- Xôi,
gấc,lạc,
(đậu
xanh)

* Biện pháp 3. Hợp đồng mua bán thực phẩm sạch.
Để làm tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm nâng cao chất lượng bữa

Bếp nấu ăn đảm bảo đủ ánh sáng và thoáng khí
Bếp ăn thực hiện quy trình 1 chiều đảm bảo vệ sinh.
Tổ chức bồi dưỡng kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm cho toàn thể nhân viên
người chế biến thực phẩm và phục vụ ăn uống: Giáo viên trực tiếp chế biến thực
phẩm, phục vụ ăn uống phải được học tập kiến thức về vệ sinh an toàn thực
phẩm và phải nắm vững trách nhiệm đối với công việc của mình, phải khám sức
khỏe định kỳ. Phải giữ vệ sinh cá nhân sạch sẽ, cắt ngắn và giữ sạch móng tay,
không được đeo đồ trang sức để không lây truyền các sinh vật gây ngộ độc sang
thực phẩm. Vì tất cả mọi người đều có thẻ mang sinh vật độc hại trong cơ thể
đặc biệt trong phân, miệng, mũi, tai và trong vết thương bị nhiễm trùng. Người
mạnh khỏe cũng có thể mang sinh vật gây ngộ độc.

Hình ảnh: Sơ chế và chế biến thực phẩm
+ Trong khu chế biến thực phẩm:
- Không ho, hắt sì hơi vào thực phẩm;
- Mặc quần áo sạch sẽ, đeo tạp dề;
- Không ăn uống trong nhà bếp;
- Đội mũ và buộc tóc gọn gàng để tóc không rơi vào thực phẩm;
- Thực hiện rửa tay theo qui định; (Rửa tay sau khi đi vệ sinh, tiếp xúc với
thực phẩm sống, chạm tay vào rác, sau mỗi lần nghỉ. Rửa tay trước khi chế biến,
tiếp xúc với thực phẩm, chia thức ăn cho trẻ.)
- Sử dụng găng tay an toàn khi tiếp xúc với thực phẩm;
11


* Giữ vệ sinh nhà bếp: Nhà bếp, phòng ăn, bàn ăn, bàn chế biến thực
phẩm, kho chứa hoặc nơi chứa thực phẩm phải được giữ vệ sinh sạch sẽ; Thùng
chứa rác phải có nắp đậy, không để rác rơi vãi ra xung quanh và nước thải rò rỉ
ra bên ngoài, rác thải phải được tập trung xa nơi chế biến, phục vụ ăn uống phải
chuyển đi hàng ngày không để ứ đọng, cống rãnh phải thường xuyên khai thông,

nội qui trong công tác giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
* Thực hiện tốt các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm:
- Đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ chế biến đạt tiêu chuẩn quy định;
- Bếp được thiết kế một chiều;
- Thực hiện chế độ tự kiểm tra ba bước tại bếp ăn (Ba bước tự kiểm tra bao
gồm):
Bước 1. Kiểm tra nguồn nguyên liệu thực phẩm nhập vào. Việc kiểm tra
nhằm đảm bảo nguồn nguyên liệu nhập vào có nguồn gốc, chứng từ rõ ràng; có
12


tên, địa chỉ cụ thể của người cung cấp thực phẩm, thực phẩm đó được kiểm tra
cảm quan.
Bước 2. Kiểm tra thực phẩm từ quá trình sơ chế, chế biến đến khi ăn: Bao
gồm một quá trình kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm của thực phẩm, từ lúc bắt
đầu sơ chế biến, nấu xong, phân phối thức ăn cho đến lúc bắt đầu ăn. Thực phẩm
trước và sau khi chế biến phải được đánh giá bằng cảm quan, ghi rõ thời gian
thực hiện từng công đoạn.
Bước 3: Kiểm tra mẫu thức ăn lưu: Kiểm tra việc lưu mẫu thực phẩm để
phục vụ cho quá trình điều tra ngộ độc thực phẩm nếu xảy ra. Nội dung kiểm tra
xác định từng thời điểm lưu và hủy thực phẩm đó. Phải đảm bảo 3 đủ.
Có đủ dụng cụ để lưu mẫu, dụng cụ phải được rửa sạch, khử trùng, có nắp
đậy. Mỗi loại thức ăn phải để trong hộp riêng.
Có đủ lượng mẫu tối thiểu: Thức ăn đặc khoảng 150 gam, thức ăn lỏng
khoảng 250ml.
Đủ thời gian lưu mẫu là 24 giờ.
Mẫu lưu được bảo quản ở ngăn mát tủ lạnh (00C đến 50C) [2]

Hình ảnh: Lưu mẫu thực phẩm
Mỗi cán bộ giáo viên nhân viên và học sinh trong nhà trường phải thực

trong nhà trường.
* Biện pháp 6. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục nhằm xây dựng
bảo quản cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho công tác vệ sinh dinh dưỡng an
toàn thực phẩm:
Tuyên truyền rộng rãi với các cấp các ngành mọi tầng lớp nhân dân về
chủ trương xã hội hoá giáo dục. Để họ nhận thức được xã hội hóa giáo dục vừa
là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mọi người.
Xây dựng kế hoạch, chủ động tiến hành nội dung hoạt động xã hội hóa
giáo dục, biết tận dụng vai trò của của người cán bộ quản lý, biến nghị quyết của
14


hội đồng thành thực tế trong giáo dục mầm non. Mặt khác đa dạng hóa, chú
trọng đến hiệu quả nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ tại trường mầm non.
Tham mưu với nhà trường có kế hoạch mua sắm sửa chữa trang thiết bị
phục vụ cho việc chế biến thực phẩm đảm bảo cho việc nuôi dưỡng chăm sóc
nuôi dưỡng các cháu hàng ngày, hàng tháng có kiểm kê đánh giá chất lượng đồ
dùng thiết bị nhà bếp có đảm bảo an toàn, đảm bảo vệ sinh trong các khâu chế
biến hay không, có đánh giá khen thưởng kịp thời. Các biện pháp chỉ đạo nâng
cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm trên đã thực
sự đem lại hiệu quả, sự chuyển biến rõ rệt trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng
trẻ ở trường mầm non.
* Làm tốt công tác tuyên truyền với phụ huynh
Nhà trưởng triển khai tới các lớp về kế hoạch tổ chức họp phụ huynh 3
lần/ năm học nhằm tuyên truyền sâu rộng tới các phụ huynh trong việc chăm sóc
nuôi dạy trẻ. Giữa nhà trường và gia đình luôn có mối quan hệ chặt chẽ, thường
xuyên góp ý, trao đổi lẫn nhau trong việc nuôi dạy các cháu.
Ban phụ huynh trưởng phó của các nhóm lớp trong trường được phép đến
xem, kiểm tra các khâu như thực đơn, chế biến thức ăn, chất lượng bữa ăn, cùng
chăm sóc trẻ ăn. Với “ 10 lời khuyên vàng trong ăn uống” và trên các góc tuyên

- Giảm ăn các món chiên, xào, bánh kem, nước ngọt có ga, hạn chế xem
ti vi, tránh ăn vặt, tránh đi ngủ muộn, khuyến khích bữa ăn truyền thống gia đình
là ăn đúng bữa: Cho trẻ ăn đủ bữa sáng, bữa trưa, giảm nhẹ bữa chiều, khuyến
khích trẻ ăn nhiều rau, củ, quả,ngủ đúng giờ.
- Thường xuyên theo dõi cân nặng và chiều cao của trẻ để có can thiệp
hợp lý khi tốc độ tăng cân quá nhanh
- Khuyến khích dộng viên trẻ tích cực tham gia các hoạt động, vận động
thể dục, thể thao.
Làm tốt công tác tuyên truyền tới các bậc phụ huynh về công tác thực
hiện chuyên đề giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm, bằng nhiều hình
thức.

Hình ảnh: Góc tuyên truyền
Thường xuyên trao đổi thông báo tình hình sức khỏe của trẻ cho phụ
huynh được biết để phối hợp điều chỉnh chế độ ăn uống nhất là đối với trẻ
suy dinh dưỡng, trẻ kém ăn.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến
Bước đầu tạo ra sự chuyển biến nhất định của cha mẹ học sinh về việc
nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ ở trường mầm non.
Các bậc cha mẹ đều khẳng định kiến thức nuôi dạy con theo khoa học và tuyên
truyền của nhà trường là bổ ích và đã giúp họ chủ động phối hợp với nhà trường
trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ và đã đạt được những kết quả rõ rệt.
Kết quả được thể hiện: Nhà trường được Trung tâm y tế dự phòng kiểm
tra và cấp giấy chứng nhận bếp đạt vệ sinh an toàn thực phẩm 2/2 bếp. 100%
giáo viên, nhân viên phục vụ tại bếp đều tham gia tập huấn và được cấp chứng
16


nhận cập nhật kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong năm học nhà trường
không có trường hợp ngộ độc dịch bệnh nào xảy ra, 100% trẻ được ăn bán trú tại

(-2&-3)
SL
%

SL

%

SL

%

SL

%

515

92,3

43

7,7

47

8,4

26


5,0% 532 95,3%

Kênh TC

Có được kết quả như trên là có sự nhất trí cao của tập thể cán bộ giáo
viên, nhân viên trong công tác nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ
sinh an toàn thực phẩm cho trẻ.
- Các bộ phận thực hiện đều có tinh thần trách nhiệm và phối hợp nhịp
nhàng, thống nhất trong công tác được giao.
- Các biện pháp thực hiện, rõ ràng, dễ thực hiện, có tác dụng hữu hiệu nên
tạo được niềm tin trong phụ huynh khi gửi con vào trường.
- Được sự đồng tình ủng hộ của phụ huynh khi tiến hành các biện pháp
nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Nhận
thức được tình trạng yếu kém của trẻ để tìm biện pháp khắc phục.
3. Kết luận, kiến nghị
- Kết luận
Qua nghiên cứu, tìm tòi, trao đổi và trải nghiệm thực tế đã chỉ ra một số
biện pháp quản lý, chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng vệ
sinh an toàn thực phẩm ở trường mầm non Thị trấn. Dù kết quả đạt được chưa
17


được nhiều nhưng bước đầu đã tạo được sự chuyển biến tích cực trong nhận
thức của lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể. Đặc
biệt là toàn thể phụ huynh, cộng đồng và cán bộ, giáo viên, nhân viên của
trường.
Với điều kiện thực tế hiện nay bản thân tôi nhận thấy để thực hiện tốt
chiến lược phát triển giáo dục mầm non vấn đề mấu chốt là nâng cao chất lượng
chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi cán bộ
quản lý, giáo viên, nhân viên trong nhà trường. Là một cán bộ quản lý phụ trách

phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị.
Thực hiện tốt công tác kiểm tra nội bộ trường học trong đó chú trọng kiểm
tra chế độ dinh dưỡng của trẻ. Trong khi kiểm tra đòi hỏi người cán bộ phải tinh
thông về nghiệp vụ, nhanh nhạy nắm bắt tình hình thực tế, linh hoạt xử lý mọi
tình huống, có kết luận chính xác.
18


Chú trọng vệ sinh an toàn thực phẩm, từ khâu mua thực phẩm tại thị
trường hoặc tại các cơ sở hợp đồng đến khâu sơ, chế biến, bảo quản và tổ chức
cho trẻ ăn.
Năm học 2016-2017 và những năm tiếp theo đội ngũ cán bộ giáo viên
trường Mầm non Thị trấn Thường Xuân sẽ luôn vượt khó để hoàn thành tốt
nhiệm vụ mà cấp trên giao, tạo mọi điều kiện tốt nhất để nâng cao chất lượng về
mọi mặt cho trẻ, đặc biệt là công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ở Trường mầm
non.
Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp quản lý, chỉ đạo
nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm trong
trường mầm non Thị trấn Thường Xuân” trong lĩnh vực quản lý chăm sóc
nuôi dưỡng trẻ ở trường mầm non. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp chia sẻ
của các đồng nghiệp để sáng kiến áp được áp dụng rộng rãi trong các trường
mầm non đạt hiệu quả cao vào những năm tiếp theo.
- Kiến nghị
* Đối với nhà trường
Hàng năm nhà trường cần tổ chức bồi dưỡng cho cán bộ giáo viên những
kiến thức cơ bản về cách giữ vệ sinh và an toàn thực phẩm trong nhà trường.
Tuyên truyền giáo dục các bậc cha mẹ trẻ về nội dung chăm sóc giáo dinh
dưỡng và hình thức giữ vệ sinh, an toàn thực phẩm ở gia đình, cũng như ở
Trường nầm non Thị trấn.
Xây dựng các giờ hoạt động có lồng ghép các nội dung vệ sinh an toàn

DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG KHOA HỌC ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI
Họ và tên tác giả: Hoàng Thị Dung
Chức vụ và đơn vị công tác: Phó hiệu trưởng, trường Mầm non Thị Trấn
Thường Xuân, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh hóa.
TT
1

2

3

4

5

Tên đề tài SKKN
Một số biện pháp chỉ đạo
chuyên đề giáo dục bảo vệ
môi trường ở trường Mầm
non Xuân Cẩm
Một số biện pháp thực hiện
chỉ đạo việc chuẩn bị cho trẻ
5 tuổi vào lớp 1 ở trường
Mầm non Xuân Cẩm
Một số biện pháp chỉ đạo
chương trình giáo dục mầm
non mới nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục trẻ của phó


C

2010-2011

Phòng
GD&ĐT

B

2012-2013

Phòng
GD&ĐT

B

2014-2015

Phòng
GD&ĐT

B

2016- 2017

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status