Kinh nghiệm dạy một số bài khó trong phân môn luyện từ và câu lớp 5 - Pdf 43

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông, tiếng nói dung trong giao tiếp chính thức của
cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam. Bởi thế dạy Tiếng Việt là cực
kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống mỗi con người. Những thay đổi
quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội, văn hóa giáo dục, thành tự nghiên cứu của
các ngành khoa học nói chung đã dần tới những yêu cầu đổi mới trong việc dạy
Tiếng Việt của nhà trường. Chương trình môn Tiếng Việt trong hệ thống các
chương trình môn học mới được ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu trên. Vậy chương
trình Tiếng Việt tiểu học mới nhằm mục tiêu gì? Theo Chương trình Giáo dục phổ
thông cấp Tiểu học (ban hành theo Quyết định số 16/2006/QĐ.BGG&ĐT ngày 055-2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), mục tiêu môn Tiếng Việt ở cấp
Tiểu học là:
Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (đọc, viết,
nghe, nói) để học và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.
Thông qua việc dạy và học của Tiếng Việt, góp phàn rèn luyện các thao tác tư duy.
Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giảng về Tiếng Việt, về tự nhiên, về
xã hội, về con người, về văn hóa văn học của Việt Nam và nước ngoài.
Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,
giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách cách người Việt Nam xã
hội chủ nghĩa.
Để thực hiện mục tiêu trên phân môn LT&C phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
Làm giàu vốn từ cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ, đặt câu cho các em.
Nhiệm vụ này gồm có những công việc sau:
Giải nghĩa từ: Làm cho học sinh nắm nghĩa từ bao gồm việc thêm vào vốn từ của
học sinh những từ mới và nghĩa mới của từ đã biết làm cho các em nắm được tính
nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ. Dạy từ ngữ phải hình thành những kĩ năng
phát hiện ra những từ mới chưa biết trong văn bản cần tiếp nhận, nắm một số thao
tác giải nghĩa từ, phát hiện ra những nghĩa mới của từ đã biết, làm rõ những sắc thái
nghĩa khác nhau trong những ngữ cảnh khác nhau.
Hệ thống hóa vốn từ: Dạy cho học sinh biết xếp các từ một cách có hệ thống
trong trí nhớ của mình để tích lũy được từ nhanh chóng và tạo ra tính thường trực

Vì những lí do nêu trên, tôi chọn “Kinh nghiệm dạy một số bài khó trong
phân môn LT&C lớp 5 ” làm đề tài nghiên cứu của mình.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu phương pháp và thực trạng dạy và học Tiếng Việt ở chương trình
Tiếng Việt 5.
- Nghiên cứu tìm ra phương pháp dạy một số bài khó trong phân môn LT&C lớp
5 nhằm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt
- Phân dạng, đề xuất phương pháp dạy một số bài khó trong phân môn LT&C lớp
5.
- Đưa ra một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 vận dụng vào thực tiễn nói và viết
đúng câu, để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đáp ứng nhu cầu
giáo dục trong thời đại mới.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu, tổng kết về kinh nghiệm dạy một số bài khó trong phân
môn LT&C lớp 5.
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Để viết sáng kiến này, tôi đã áp dụng một số phương pháp sau:
2


- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp điều tra, khảo sát
II. PHẦN NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận
Chương trình và sách giáo khoa.
Tôi xin được đi vào phân tích những mạnh kiến thức của phân môn Luyện từ
và câu lớp 5 để có cái nhìn sâu hơn, đầy đủ hơn về phân môn này .
Phân môn Luyện từ và câu lớp 5 (62 tiết: 32 tiết học kì I, 30 tiết học kì II) bao
gồm những nội dung chính như sau:

c, Chung lưng đấu cật
( Hữu nghị - Hợp tác – SGK Tiếng Việt 5 tập 1 – trang 56)
- Một số bài tập sáng tạo có chủ đề khó đối với học sinh.
Ví dụ: Dựa vào nội dung câu nói của Bác Hồ “các Vua Hùng đã có công dựng
nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Em hãy viết một đoạn văn khoảng
5 câu về nghĩa vụ bảo vệ Tổ Quốc của mỗi công dân.
* Nghĩa của từ (11 tiết)
Phần này cung cấp một số kiến thức sơ giản về các lớp từ có quan hệ về ngữ ( là
từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa) và cách thức sử dụng các lớp từ này.
Ở các bài kiến thức mới, ngữ liệu thường được rút ra từ các bài tập đọc mà học
sinh đã học, ngữ liệu mang tính điển hình cao.
Những bài học, bài tập còn khó ở nội dung này, chúng tôi xin được đề cập đến
ở phần minh họa cho bài khó và cách dạy bài khó ở chương II.
* Từ loại (5 tiết)
Phần này cung cấp một số kiện thức sơ giản về loại có tính chất công cụ trong
hoạt động giao tiếp của người Việt ( Đại từ và quan hệ từ), luyện tập sử dụng hai từ
loại.
Nội dung về đại từ và quan hệ từ trong sách Tiếng Việt 5
là những điều rất cơ bản, có tác dụng bồi dưỡng năng lực tư duy và giao tiếp. Thời
gian cho phần luyện tập bao giờ cũng nhiều hơn thời gian cho phần cung cấp khái
niệm.
Ở nội dung này, học sinh thường gặp khó khăn trong việc phân biệt danh từ với
danh từ làm đại từ xưng hô nên xác định đại từ chưa chính xác.
* Câu ghép (8 tiết) Phần này cung cấp kiến thức sơ giản về câu ghép
Các bài tập ở phần câu ghép nhìn chung vừa sức đối với học sinh. Hầu hết
học sinh đều nhận diện được câu ghép, xác định được các phương tiện nối các vế
câu ghép (dấu câu, quan hệ từ) thực hành tương đối tốt các dạng bài tập trong sách
giáo khoa.
Ở nội dung này học sinh đang còn lúng túng khi sử dụng các cặp quan hệ từ
biểu thị nguyên nhân – kết quả , điều kiện – kết quả , giả thiết – kết quả , quan hệ

tìm được từ ngữ để thay thế cho phù hợp.
Ngoài ra, ở nội dung này có ít bài tập sáng tạo nên học sinh không có điều
kiện vân dụng các kiến thức về liên kết câu cho việc viết đoạn văn ngắn cho các
chủ đề quen thuộc. Để rèn luyện kĩ năng liên kết câu.
* Ôn tập ( 15 tiết )
Là lớp cuối cấp bậc Tiểu học, phân môn LT&C có phần ôn tập, hệ thống hóa
tất cả các nội dung về từ và câu mà học sinh được học ở cấp Tiểu học. Cụ thể :
Đây là cơ hội để học sinh hệ thống hóa, khái quát hóa tất cả những kiến thức
về từ và câu đã học.
Ở nội dung này nhìn chung kiến thức hợp lý, vừa sức với học sinh, chỉ
còn một số bài tập khó như bài tập về đại từ và bài tập có ngữ liệu dài.
Ví dụ: + Tìm đại từ xưng hô trong đoạn văn ở bài tập 1.
( SGK Tiếng Việt 5 tập 2 trang 137)
Ở bài tập này học sing thường nhầm lẫn giữa danh từ và đại từ xưng hô.
+ Đọc bài văn sau:
Chữ nghĩa trong văn miêu tả.
Trong miêu tả, người ta thường hay so sánh. So sánh thì vô cùng …
… Rồi sau đó mới đến cái mới, cái riêng trong tình cảm trong tư tưởng.
Theo Phạm Hổ
5


( SGK Tiếng Việt 5 tập 1 – trang 159 )
Bài văn trên là một bài văn rất hay về nghệ thuật miêu tả, về vẻ đẹp đầy
sống động, rất riêng rất mới của sự vật qua những hình ảnh so sánh, nhân hóa và
cách sang tạo ra những hình ảnh đó. Nhưng do thời gian cho một tiết học có hạn và
ngữ liệu của bài quá dài nên không đủ thời gian giúp học sinh hiểu đầy đủ ý nghĩa
của bài viết.
Trên đây, tôi đã hệ thống toàn bộ chương trình sách giáo khoa phân môn
Luyện từ và câu lớp 5. Với việc phân tích những ưu điểm cơ bản và một số hạn chế

6


+ Dạy đủ, dạy đúng kiến thức, đúng đặc trưng loại bài, tiến trình hợp lí.
+ Tổ chức được các hoạt động học tập cho học sinh tích cực hoạt động để
tìm ra kiến thức.
+ Hình thức tổ chức dạy học phù hợp, phương pháp dạy học linh hoạt.
Nhược điểm: Trong một số giờ dạy học, một số giáo viên còn:
+ Chưa thực sự chủ động trong toàn bộ tiến trình bài học, chưa làm chủ kiến
thức, còn lung túng trong việc giải quyết các tình huống sư phạm.
+ Máy móc thực hiện các hoạt động như sách giáo viên, sách thiết kế đưa
ra, chưa tác động được đến tất cả các đối tượng học sinh
+ Nhiều giáo viên chưa quan tâm đến việc mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ
cho học sinh, giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết phong phú về Tiếng Việt.
+ Tổ chức các hình thức dạy học cho có chứ chưa hay, chưa đổi mới
phương pháp, hình thức dạy học.
2.2.2 Khó khăn từ phía học sinh:
+ Học sinh chưa thực sự có hứng thú học phân môn Luyện từ và câu. Các
em đều cho đây là phân môn vừa “khô” vừa “khó”.
- Ở phần lí thuyết thì các em trả lời tương đối trôi chảy nhưng khi làm bài tập
thực hành thì lúng túng, chưa vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các bài tập
một cách linh hoạt nhất là đối với các bài tập khó, soos học sinh hoàn thành được
các dạng bài tập này chiếm tỉ lệ nhỏ trong lớp.
+ Vốn từ về Tiếng Việt ở các em còn hạn chế đặc biệt khi hoc các bài về
nghĩa của từ, mở rộng vốn từ.
Đây là bảng khảo sát kết quả học luyện từ và câu của học sinh đầu năm :

Số HS
32 em


2.3 Dạy một số bài khó, trong phân môn Luyện từ và câu Lớp 5:
Các bài tập khó trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 cũng không phải là
nhiều nhưng làm thế nào để giáp học sinh tiếp thu, hiểu và nắm bắt được kiến thức
của các bài tập này một cách tốt nhất thì không phải là điều dễ. Từ thực tế giảng
dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 5 nhiều năm, tôi đã đúc rút được một số kinh
nghiệm dạy một số bài khó.
7


Sau đây, tôi chọn 5 bài để minh họa cho những kinh nghiệm của mình về cách
dạy bài khó trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5.
Bài 1: Từ đồng âm (tuần 5 )
* Đây là dạng bài dạy lí thuyết.
Nội dung bài gồm 3 phần Nhận xét, ghi nhớ và luyện tập. Phân môn Luyện tập
có 4 bài tập.
Mục đích của bài tập là giúp học sinh nhận diện được một số từ đồng âm trong
giao tiếp, biết phân biệt nghĩa một số từ đồng âm.
Bài tập 1: Phân biệt nghĩa của các từ đồng âm trong các cụm từ sau:
a, Cách đồng âm – tương đồng – một nghìn đồng
b, Hòn đá – đá bóng
c, Ba và má – ba tuổi
Bài tập 2 : Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm bàn, cờ, nước .
Bài tập 3 : Đọc mẩu chuyện vui “Tiền tiêu” và cho biết vì sao Nam tưởng ba
mình đã chuyển sang làm việc tại ngân hàng.
Bài tập 4: Đố vui:
a,
Trùng trục như con chó thui
Chín mắt, chin mũi, chín đuôi, chín đầu. (Là con gì ?)
b, Hai cây…
… mặt hồ .

sinh tìm từ đồng âm với từ chín hiểu theo nghĩa trên. Như vậy, chín cũng có thể
được hiểu là thức ăn được nấu nướng kĩ đến độ ăn được ( trái nghĩa với sống ) .
Nghĩa này ứng với nội dung của câu đố “ chín ” là nướng chín . Đó là “con chó
thui”.
Bài 2 : Từ nhiều nghĩa – tuần 7
( SGK Tiếng Việt 5 tập 1 – trang 66 )
* Dạng bài lí thuyết . Phần luyện tập có 2 bài tập. Mục đích của bài tập là : Giúp
học sinh phân biệt được nghĩa gốc, nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa trong một số
câu văn, tìm được ví dụ về sự chuyển nghĩa của một số danh từ chỉ bộ phận cơ thể
người .
Bài tâp 1 : Trong những câu nào, các từ mắt, chân, đầu mang nghĩa gốc và trong
những câu nào chúng mang nghĩa chuyển
a, Mắt : - Đôi mắt của bé mở to.
- Quả na mở mắt.
b, Chân : - Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân.
- Bé đau chân.
c, Đầu :- Khi viết, em đừng ngoẹo đầu.
- Nước suối đầu nguồn rất trong.
* Khó khăn và cách tháo gỡ .
Ở bài tập này, một số học sinh tiếp thu chậm không thực hiện được yêu cầu.
Giáo viên cần giúp học sinh hiểu: Nghĩa gốc là nghĩa ban đầu của từ. Vì vậy, khi từ
đứng một mình, ta vẫn nhận ra nghĩa gốc, còn nghĩa chuyển, ta chỉ nhận ra khi kết
hợp với các từ từ ngữ khác. Với cách hiểu như trên, học sinh chỉ cần tách từ ra khỏi
văn cảnh để xem nghĩa của từ khi đó có giống nghĩa từ trong văn bản hay không.
Nếu giống thì từ đó được dùng với nghĩa đen, nếu không giống, từ đó được dùng
với nghĩa chuyển.
Đối với những học sinh có khả năng tiếp thu nhanh, giáo viên có thể giúp các
em hiểu nghĩa gốc của từ và chỉ ra nhiều nghĩa chuyển của nó.
Chẳng hạn : - Từ mắt.
+ Nghĩa gốc: Bộ phận trên mặt người, loài vật, dùng để nhìn.

+ Miệng núi lửa, miệng hố, miệng giếng …
+ Cổ lọ, cổ tay, cổ chai…
+ Tay sung cừ, tay cày, ong tay áo …
+ Lưng ghế, lưng đồi, lưng đê, lưng trời …
Như vậy, tuy nhiên theo đối tượng học sinh giáo viên giúp học sinh mở rộng
kiến thức nhiều hay ít, tạo điều kiện để các em hiểu sâu sắc bản chất từ nhiều nghĩa,
từ đó làm tốt các bài tập ở nội dung này.
Bài 3: Luyện tập về từ nhiều nghĩa – tuần 7
( SGK Tiếng Việt 5 tập 1 – trang 73 )
* Dạng bài luyện tập thực hành.
Bài có 4 bài tập.
10


Mục đích của bài tập: Xác định được nghĩa cụ thể của các từ nhều nghĩa
trong từng văn cảnh cụ thể và chỉ chung của chúng. Phân biệt được nghĩa gốc và
nghĩa chuyển trong một số câu văn có dùng từ nhiều nghĩa. Biết đặt câu phân biệt
của các từ nhiều nghĩa là động từ.
Bài 1: Tìm ở cột B lời giải nghĩa thích hợp cho từ chạy trong mỗi câu ở cột
A.
Bài 2: Dòng nào dưới đây nêu đúng nét nghĩa chung của từ chạy có trong tất
cả các câu trên?
Sự di chuyển
Sự vận động nhanh
Sự di chuyển bằng chân
Bài 3: Từ ăn trong câu nào dưới đây được dùng với nghĩa gốc?
a, Bác Lê lội ruộng chiều nên bị ăn chân.
b, Cứ chiều chiều, Vũ lại nghe tiếng còi tàu vào cảng ăn than.
c, Hôm nào cũng vậy, cả gia đình tôi cùng ăn bữa cơm tối rất vui.
Bài 4: Chọn trong hai từ dưới đây và đặt câu để phân biệt các nghĩa của từ

Ở bài tập 4, để thực hiện được yêu cầu, đòi hỏi học sinh phải xác định được
từ, xác định được văn cảnh rồi mới đặt câu phân biệt các nghĩa của từ đó.
Chẳng hạn câu a, nghĩa 2: đi giày, đi dép, đi tất.
Đặt câu:
- Nghĩa 1: Bé chập chững tập đi.
- Nghĩa 2: Em đi đôi giày mới.
Đối với học sinh có năng lực giáo viên có thể gợi ý giúp các em tìm thêm
một số nghĩa của từ đi, đứng.
Bài 4 : Luyện tập về từ nhiều nghĩa – tuần 8
( SGK Tiếng Việt 5 tập 1 – trang 82 )
* Dạng bài luyện tập với 3 bài tập.
Mục đích của các bài tập là: Giúp học sinh
- Phân biệt được từ nhiều nghĩa với từ đồng âm.
- Hiểu được nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa và mối quan hệ
giữa chùng.
- Biết đặt câu phân biệt nghĩa của một số từ nhiều nghĩa là tính từ .
* Khó khăn và cách tháo gỡ .
Bài tập 1: Trong các từ in đậm sau đây, những từ nào là từ đồng âm, những từ
nào là từ nhiều nghĩa?
a, Chín : - Lúa ngoài đồng đã chin (1)
- Tổ em có chin (2) học sinh
-Nghĩ cho chin (3) rồi hãy nói.
b, Đường : - Bát chè này nhiều đường(1) nên rất ngọt .
- Các chú công nhân đang chữa đường (2) day điện thoại
- Ngoài đường (3) mọi người đã đi lại nhộn nhịp.
c, Vạt : - Những vạt (1) nương màu mật
Lúa chín ngập lòng thung
( Ngyễn Đình Ảnh )
- Chú tư lấy dao vạt (2) nhọn đầu chiếc gậy tre
- Vạt (3) áo chàm thấp thoáng.

kết câu.
- Biết sử dụng cách thay thế tữ ngữ để liên kết câu, biết dùng các đại từ thay
thế, viết được đoạn văn có từ ngữ thay thế.
* Khó khăn và cách tháo gỡ : Theo tôi trong bài này khó khăn nằm ở bài tập 2,3
Bài 2: Hãy thay thế những từ ngữ lặp lại trong đoạn văn văn sau bằng đại từ
hoặc từ ngữ đồng nghĩa.
Triệu Thị Trinh quê ỏ vùng núi Quan Yên (Thanh Hóa) Triệu Thị Trinh xinh
xắn, tính cách mạnh mẽ, thích võ nghệ. Triệu Thị Trinh bắn cung rất giỏi, thường
theo các phường săn đi săn thú. Có lần, Triệu Thị Trinh đã bắn hạ một con báo gấm
hung dữ trước sự thán phục của các trai tráng trong vùng.
Ở bài này học sinh gặp khó khăn khi văn bản nói về một nữ tướng anh hùng
thời xưa, sẽ khó cho các em khi lựa chọn đại tù hoặc từ đồng nghĩa phù hợp,
thường các em sẽ lựa các từ như cô, chị… là các từ xưng hô đời thường. Vậy giáo
viên cần giúp học sinh cách lựa chọn đại từ hoặc từ đồng nghĩa thay thế có tác dụng
13


tránh lặp lại và rút gọn văn bản, cung cấp thêm thông tin để người đọc biết rõ hơn
về đối tượng.
- Giáo viên cho học sinh xác định có bao nhiêu từ Triệu Thi Trinh lặp lại trong
đoạn văn (4 từ), cần thay thế ở những vị trí nào. Các từ thay thế phải đảm bảo sự
liên kết và thể hiện sự tôn trọng đối với nhân vật được nói đến trong đoạn văn.
- Học sinh phải biết: Triệu Thị Trinh là vị chủ tướng kiệt xuất họ Triệu trong sự
nghiệp đánh đuổi quân Ngô, quê ở Nông Cống - Thanh Hóa – Đền thờ Bà ở Hậu
Lộc- Thanh Hóa.
- Từ đây các em sẽ xác định thay thế Từ Triệu Thị Trinh Ở vị trí thứ 2,3,4
- Bà họ Triệu ta có thể thay thế từ Triệu Thị Trinh- Người thiếu nữ họ Triệu (Vị
trí thứ 2). Thời xưa ông bà ta hay gọi những người con gái dòng giỏi quyền quí là
nàng, ta có thể thay thế Triệu Thị Trinh - nàng (Vị trí thứ 3,4)
Qua bài tập này giáo viên giúp học sinh việc dùng từ ngữ thay thế giúp cho diễn

học sinh chia nhóm đối tượng chứa ngôn ngữ cần lĩnh hội để tìm hiểu kĩ hơn, sâu
sắc.
+ Phương pháp thực hành giao tiếp: Phương pháp này rất cần trong giờ luyện từ
và câu bởi vì mọi hiện tượng từ ngữ, ngữ pháp trong SGK không nằm ngoài môi
trường giao tiếp của lứa tuổi học sinh. Đây là cách giúp học sinh vận dụng lí thuyết
vào quá trình giao tiếp. Học sinh biết tận dụng vốn hiểu biết về từ ngữ, ngữ pháp
vào rèn luyện các kĩ năng mới.
+ Phương pháp trò chơi học tập: Trò chơi học tập không chỉ nhằm vui chơi, giải
trí mà còn nhằm góp phần củng cố tri thức, kĩ năng thực hành cho học sinh. Đồng
thời làm cho tiết học đõ khô khan, căng thẳng, tăng thêm phần sinh động hấp dẫn
học sinh tích cực học tập.
Ngoài các phương pháp trên, tùy từng nội dung bài học, điều kiện lớp học, vùng
miền giáo viên có thể vận dụng nhiều phương pháp khác nhau để giờ dạy hiệu quả.
* Bên cạnh các phương pháp dạy học, giáo viên cần linh hoạt sử dụng các hình
thức dạy học phù hợp với nội dung bài học, sát với đối tượng học sinh thì sẽ phát
huy được tính tích cực,chủ động, sang tạo của học sinh
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nhiệm:
Với sáng kiến kinh nghiệm: “Kinh nghiệm dạy một số bài khó trong
phân môn LT&C lớp 5”đã áp dụng dạy học tại lớp 5A, giúp tiết dạy trở nên nhẹ
nhàng mà hiệu quả, góp phần không nhỏ trong việc cải tiến phương pháp dạy học,
nâng cao chất lượng dạy học phân môn luyện từ và câu.
Cuối năm học, học sinh nắm vững kiến thức phần lí thuyết và vận dụng làm
tốt các bài tập một cách linh hoạt. 100% học sinh đã hoàn thành hết các bài tập
luyện từ và câu kể cả các bài tập khó. Vốn từ của các em đã được nâng cao.
Kết quả khảo sát tháng 3 môn luyện từ và câu:
Kết quả

Hoàn thành tốt

Số bài

túng khi luyện tập, tạo cho các em tâm lý tự tin vững vàng và hứng thú, say mê,
yêu thích môn học này.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1 Kết luận
Trên đây, qua hai chương, tôi đã phân tích Nội dung và Phương pháp dạy học
của phân môn LT&C ở lớp 5; nêu một số ví dụ cụ thể về khó khăn mà giáo viên và
học sinh thường gặp khi dạy LT&C lớp 5.
Tôi cũng khảo sát thức tiễn dạy học và chỉ ra ưu, nhược điểm của giáo viên và
học sinh, những lỗi mà học sinh hay mắc trong quá trình sử dụng Tiếng Việt. Kết
quả khảo sát đã được chúng tôi lấy làm căn cứ để đề xuất cách dạy những bài khó
trong phân môn LT&C lớp 5. Trong điều kiện thời gian không cho phép phân tích
sâu tất cả các bài học, tôi chọn 5 bài ví dụ minh họa cho những kinh nghiệm của
mình về cách dạy bài khó cho phù hợp với đối tượng học sinh lớp 5 ở địa phương.
3.2 Kiến nghị - đề xuất:
Để hoạt động dạy học Tiếng Việt ở lớp 5 nói riêng và Tiểu học nói chung đạt
được hiểu quả cao, tôi có một số kiến nghị sau
*Đối với học sinh: Các em cần được động viên, khích lệ kịp thời của mọi người
để kích thích các em cố gắng vươn lên trong học tập, đó chính là gia đình – nhà
trường – xã hội.
*Đối với giáo viên: Không ngừng học hỏi, tìm tòi tích lũy kinh nghiệm từ đồng
nghiệp, từ thông tin, sách vở và từ chính học sinh.
- Nắm chắc nội dung chương trình,ý đồ sách giáo khoa, dạy sát đối tượng học
sinh, lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức phù hợp với từng bài.
* Đối với nhà trường và các cấp quản lí:
- Các cấp quản lí chuyên môn tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn định kỳ
để bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên.
- Các cấp quản lí cho phép giáo viên chủ động, sáng tạo hơn trong lựa chọn
nội dung dạy học.
- Các cấp quản lí chuyên môn trang bị thêm tài liệu bổ trợ cho giáo viên và học
sinh.

Phần thứ nhất: Phần mở đầu

1

1.1.

Lí do chọn đề tài:

1

1.2.

Mục đích nghiên cứu

2

Phần thứ hai: Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm

3

2.1 Cơ sở lí luận:

3

2.2. Thực trạng

6

2.3. Các kinh nghiệm dạy một số bài khó trong phân môn
luyện từ và câu.

2
3

GS -T S Lê Phương Nga
( Chủ biên)
Giáo trình tâm lí lứa tuổi học sinh Đặng Vũ Hoạt ( Chủ
Tiểu học
biên ) - Phó Đức Hòa
Tiếng Việt thực hành
Nguyễn Minh Thuyết
( Chủ biên)

4

Sách giáo viên Tiếng Việt 5

5

Tiếng Việt thực hành

Nguyễn Minh Thuyết
( Chủ biên)

8

Bùi Minh Toán
Lê A
GS-T S Lê Phương Nga
Tiếng Việt Nâng cao lớp 5
( Chủ biên)

năm 2000
NXB Giáo dục
năm 2002
NXB Giáo dục
năm 2003
NXB Giáo dục
năm 1999
NXB Đại học Sư
phạm
NXB Giáo dục
năm 2012
NXB Giáo dục
năm 1999
NXB Giáo dục
năm 2002

19


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN

Họ và tên tác giả: Lê Thị Bích
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trường Tiểu học Đông Vệ 2,

TT

Tên đề tài SKKN

Xương

Loại B

2008 – 2009

3.

Giúp học sinh lớp 5 giải toán
tính nhanh

Thành phố

Loại B

2015 – 2016

20


21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status