Sáng kiến kinh nghiệm: Biện pháp giúp học sinh học tốt môn Luyện từ và câu lớp 5 - Pdf 47

BÁO CÁO NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Lời giới thiệu:
Tiểu học là cấp học quan trọng, được xem là cơ sở ban đầu đặt nền móng
cho sự phát triển toàn diện con người, đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông. Ở cấp
tiểu học phân môn luyện từ và câu có nhiệm vụ làm phong phú
vốn từ và tích cực hóa vốn từ cho học sinh: cung cấp một lượng từ
ngữ nhất định theo quy định của chương trình, giúp học sinh hiểu
được nghĩa của từ trong hệ thống, hiểu đúng nghĩa và cái hay của
nghĩa từ trong hoạt động thực hiện chức năng giao tiếp của mình.
Phân môn luyện từ và câu còn giúp cho các em chiếm lĩnh ngôn
ngữ trong giao tiếp, học tập, hoạt động tạo ra hứng thú và động
cơ học học tập. Hơn thế nữa, nhờ có vốn từ dồi dào, cũng giúp
cho các em trở nên tư duy chính xác và chặt chẽ hơn. Vì lẽ đó, ở
trường tiểu học giáo viên có nhiệm vụ dạy cho học sinh một cách
có hệ thống các phương pháp để hình thành và phát triển năng
lực dùng từ cho học sinh. Phân môn này còn giúp học sinh tích cực
hóa vốn từ, đưa các từ vào tạo câu, tạo lời nói trong học tập vui
chơi, sinh hoạt thường ngày.
Qua thực tế nhiều năm giảng dạy lớp 5 tôi nhận thấy học sinh học và thực hành
phân môn luyện từ và câu chưa thực sự đạt kết quả như mong muốn, học sinh mắc
lỗi khi làm bài tập còn nhiều. vận dụng từ ngữ còn chưa linh hoạt , làm các bài tập
về từ loại còn sai, đặc biệt là học sinh lớp 5C mà tôi đang trực tiếp giảng dạy. Khi
kiểm tra bài tập của học sinh tôi nhận thấy các em còn mắc lỗi dùng từ, về ngữ âm,
ngữ pháp, phong cách ngôn ngữ và các biện pháp tu từ... Tuy nhiên, việc dạy
Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ và câu nói riêng còn nhiều băn khoăn
và trăn trở bởi sự diễn đạt trong Tiếng Việt rất phong phú và đa dạng. Do đó, cần
phải có biện pháp dạy học phù hợp giúp học sinh học tốt phân môn Luyện từ và
câu.



vào áp dụng những biện pháp mới, khác biệt mà trước đây chưa từng được áp dụng
tại lớp tôi và trường tôi như:

- Tìm và phân loại nhỏ ra những lỗi sai phổ biến của từng học sinh như
( lỗi dùng từ, phát âm, diễn đạt,......)Với mỗi loại lỗi, tôi đưa ra những biện pháp
nhằm khắc phục triệt để lỗi đó.
- Bên cạnh những biện pháp sửa lỗi chung cho tất cả các học sinh trong lớp,
tôi còn áp dụng những biện pháp sửa lỗi riêng đối với từng học sinh
- Phát huy cao vai trò học nhóm của các em, tự chủ lĩnh hội kiến thức của
học sinh.
- Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy để các em nhận biết và hiểu
nghĩa của từ triệt để, chính xác hơn. nhằm phát huy trí tưởng tượng, kỹ năng quan
sát nhằm mở rộng vốn từ cho học sinh.
- Dạy học áp dụng trò chơi trong học tập tạo hứng thú cho học sinh.
Các biện pháp mà tôi nghiên cứu và áp dụng đều vừa sức và phù hợp
với mỗi đối tượng nên các em hứng thú, không ngại học, bởi thế nên chất lương
đọc của lớp tôi ngày càng được cải thiện một cách đáng kể.

7.2.Tính khoa học:
Con người muốn tư duy phải có ngôn ngữ, ngôn ngữ là công cụ, là hiện thực của
tư duy. Bởi lẽ đó, tư duy và ngôn ngữ có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua
lại lẫn nhau. Người có tư duy tốt sẽ nói năng mạch lạc, trôi chảy và nếu trau dồi
ngôn ngữ được tỉ mỉ, chu đáo thì sẽ tạo điều kiện cho tư duy phát triển tốt. Trong
giáo dục, việc nắm vững tiếng nói (trước hết là tiếng mẹ đẻ) có ý nghĩa quyết định.
Nếu học sinh yếu kém về ngôn ngữ, nghe nói chỉ hiểu lơ mơ, nói viết không chính
xác không thể hiện được ý mình cho suôn sẻ, thì không thể nào khai thác đầy đủ


các thông tin tiếp nhận từ người thầy, từ sách vở được. Bởi vậy, trong nội dung giáo
dục, chúng ta cần phải hết sức coi trọng việc đào tạo về mặt ngôn ngữ, xem đó là



lúng túng chưa thực sự thu hút. Hiệu quả dạy - học giờ Luyện từ và câu nhìn chung
còn thấp. Học sinh chưa có hứng thú học tập phân môn này, việc vận dụng thực
hành còn gặp nhiều khó khăn.
7.3.2. Nguyên nhân của thực trạng.
a. Giáo viên
- Vốn từ ngữ của một số giáo viên chưa phong phú, chưa đáp ứng được yêu
cầu hướng dẫn học sinh mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ. Đa số giáo viên còn lúng
túng khi miêu tả, giải thích nghĩa của từ. Vì vậy việc giáo viên hướng dẫn học sinh
tập giải nghĩa từ, làm bài tập giải nghĩa từ cũng chưa đạt hiệu quả cao. Kiến thức về
từ vựng - ngữ nghĩa học của một số giáo viên còn hạn chế, nên bộc lộ những sơ
suất, sai sót về kiến thức.
- Phương pháp dạy của nhiều giáo viên trong giờ Luyện từ và câu còn đơn
điệu, lệ thuộc một cách máy móc vào sách giáo viên, hầu như rất ít sáng tạo, chưa
sinh động, chưa cuốn hút được học sinh.
- Điều kiện giảng dạy của giáo viên còn hạn chế, các tài liệu tham khảo phục
vụ việc giảng dạy Luyện từ và câu cũng như tranh ảnh, vật chất và các đồ dùng dạy
học khác chưa phong phú.
b. Học sinh:
- Học sinh ít hứng thú học phân môn này. Hầu hết các em được hỏi ý kiến
đều cho rằng: Luyện từ và câu là một môn học khô khan và khó. Một số chủ đề còn
trừu tượng, khó hiểu, không gần gũi quen thuộc. Trong sách giáo khoa, có những
loại bài tập hoặc xuất hiện quá nhiều, gây tâm lý nhàm chán cho học sinh (BT điền
từ)
- Hoặc yêu cầu được nêu ra trong bài tập không rõ ràng, không tường minh và
khó thực hiện (bài tập dùng từ viết thành đoạn văn ngắn). Và như đã nói ở trên,
cách dạy của giáo viên đôi khi còn nặng về giảng giải khô khăn, nặng nề về áp đặt
gây tâm lý mệt mỏi, ngại học phân môn này.
* Những sai lầm thường mắc khi học luyện từ và câu:

Điểm 5 và 6
SL
TL
14
38,9%

Điểm dưới 5
SL
TL
9
25%

Nhìn bảng thông kê cho thấy các em học luyện từ và câu còn có nhiều hạn chế mặc
dù đã được học các bài lý thuyết về từ nhưng kết quả cho thấy có nhiều em còn yếu
khi vận dụng thực hành vào luyện tập dẫn đến chất lượng môn Tiếng Việt của lớp
còn thấp.
7.4. Biện pháp thực hiện:
Để tiết dạy - học Luyện từ và câu ở lớp 5 đạt hiệu quả cao, Để đưa chất lượng
dùng từ, câu đúng, phong phú và có sự thay đổi về vốn từ ở học
sinh, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số biện pháp sau:
7.4.1. Hướng dẫn HS hình thành kiến thức mới.
* Việc hình thành kiến thức mới để học sinh nắm vững khái niệm và vận dụng
vào thực hành là việc làm hết sức quan trọng trong việc cung cấp kiến thức cho học
sinh. Do vậy giáo viên cần làm tốt:
- Bài dạy kiến thức mới ( Bài dạy lý thuyết) về từ và câu thường gồm 3 phần:
Nhận xét, Ghi nhớ và Luyện tập.
- Nhận xét là phần cung cấp ngữ liệu có liên quan đến nội dung bài học nhằm giúp
các em tự hình thành kiến thức
* GV tổ chức cho HS khai thác ngữ liệu ở phần nhận xét theo các hình thức:
+ Trao đổi chung cả lớp.

*Chẳng hạn
+ Đất: Chất rắn, ở trên đó người và các loại động vật đi lại , sinh sống, cây
cỏ mọc.
+ Công nhân: Người lao động chân tay, làm việc ăn lương.
Nghĩa của từ được miêu tả, giải thích rất rõ ràng trong các sách từ điển .
* Khi dạy về nghĩa của từ, chúng ta cần:
- Tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc với sự vật, hoạt động, tính chất mà nó
biểu thị.
*Ví dụ: Giải thích từ “Sầu riêng”, Tôi cho học sinh nhìn thấy quả sầu riêng
(quả có gai cứng ở vỏ, khi chín vỏ có màu xanh, múi vàng tựa như múi mít, ngọt
như quả vải).
Giải nghĩa từ “mang”,vác” chúng tôi cho các em làm động tác để quan sát.
- Ngoài ra, có thể dùng tranh ảnh, mô hình...cho quan sát, từ đó nêu nghĩa
của từ (bằng cách này học sinh có thể hiểu nghĩa của từ chỉ các sự vật, hiện tượng
không trực tiếp nhìn thấy hoặc diễn ra ở xung quanh).
- Mặt khác, tôi còn tìm cách giải thích nghĩa của từ sát hợp với tâm sinh lý
lứa tuổi học sinh tiểu học. Cụ thể lối miêu tả, trực quan khi giải nghĩa từ. Bên cạnh


đó, tôi còn chấp nhận và khuyến khích cách giải nghĩa từ theo lối “khôi phục các
biểu tượng”, hoặc giải nghĩa từ một cách “mộc mạc, gần gũi”...của học sinh.
* Ví dụ:
+ Giang sơn: Đất nước mình.

+ Ông ngoại: Người sinh ra mẹ.

*Ví dụ: dạy bài Từ trái nghĩa (tiết 1- tuần 4).
Khi dạy loại bài này, tôi dùng bài thơ sau để giúp học sinh nhận biết từ trái
nghĩa.
Dòng sông bên lở bên bồi

Ở dạng bài tập điền từ, học sinh cần được dựa vào từ cho sẵn (từ in đậm
trong câu thơ), coi đó là từ “điểm tựa” để tìm từ có nghĩa trái ngược, tạo nên một
cặp từ trái nghĩa hoàn chỉnh. Còn ở dạng bài tập đặt câu, học sinh cần căn cứ vào
đặc trưng về nghĩa của cặp từ trái nghĩa đó để đặt câu có nội dung thích hợp.
Hình thức vừa dạy vừa tổ chức trò chơi như vậy ngay trong không gian lớp
học, tại thời gian của lớp học làm cho học sinh đỡ căng thẳng, tạo được hứng thú và
niềm tin trong học tập. Cứ mỗi khi tôi cho các em tiếp xúc với đoạn thơ, câu đố,
các em chăm chú theo dõi. Những đôi mắt ánh lên niềm vui thích
*Ví dụ: dạy về nghĩa của từ qua bài Từ nhiều nghĩa
Để chuyển tải được khái niệm nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ khi dạy bài
khái niệm về nghĩa của từ, tôi đã tìm cách đặt từ vào trong câu, nói rộng hơn là đặt
từ trong ngữ cảnh. Ngữ cảnh có tác dụng hiện thực hoá, cụ thể hoá nghĩa của từ và
để học sinh hiểu vấn đề, chúng tôi cung cấp: trong các nghĩa khác nhau của từ
nhiều nghĩa, nghĩa nào là nghĩa trực tiếp, gần gũi, quen thuộc “dễ hiểu” thì đó là
nghĩa gốc; còn nghĩa nào là nghĩa gián tiếp, phải suy ra, hiểu rộng ra từ nghĩa gốc,
không thật gần gũi quen thuộc lắm, có phần “khó hiểu” thì đó là nghĩa chuyển.
- Ví dụ: Để phân biệt nghĩa gốc hay nghĩa chuyển của từ “Mắt” thì các em dựa
vào nghĩa của chúng trong ngữ cảnh, và phải hiểu “mắt” dùng để làm gì? có
nghĩa gốc là gì?
* Mắt: - Đôi mắt em rất đẹp.
- Quả na mở mắt.
Với cách dẫn dắt cụ thể như vậy, học sinh đã nhận biết được nghĩa gốc, nghĩa
chuyển của từ rất nhạy bén.
Hay là khi dạy bài “Từ đồng nghĩa” chẳng hạn. Mặc dù sách giáo viên có
hướng dẫn nhưng để học sinh dễ nắm bắt kiến thức về từ đồng nghĩa, hiểu dễ dàng
thế nào là từ đồng nghĩa, tôi đã tiến hành như sau:
- Đầu tiên tôi cho học sinh quan sát tranh một chiếc máy bay bay trên bầu
trời. Để tìm từ thay thế cho từ máy bay, bất ngờ chúng tôi lại đưa ra một
chiếc tàu bay gấp bằng giấy rồi mô hình một chiếc phi cơ...để các em nhận biết và
so sánh nghĩa của từ máy bay, tàu bay, phi cơ, các em dễ dàng hiểu được thế nào là

nghĩa.
+ Cách thực hiện: Các nhóm thảo luận (nhóm 2) tìm cặp từ
trái nghĩa trong từng dòng thơ, sau đó học sinh các nhóm đố nhau
(nhóm 1 đọc 1 dòng thơ, nhóm 2 tìm cặp từ trái nghĩa trong dòng
thơ đó. Sau đó nhóm 2 sẽ làm ngược lại…và cứ tiếp tục cho đến
hết).
Anh em trên dưới một lòng
Thuyền bè xuôi ngược trên sông sớm chiều


Nghe giảng em hiểu ít nhiều
Đừng nói nặng nhẹ những điều chẳng hay
Đảm đang lo việc trước sau
Thì thầm to nhỏ kề tai dành dành….
+ Muốn tìm được cặp từ trái nghĩa, trước các cặp từ còn
đang “Nghi vấn”, học sinh cần trả lời 2 câu hỏi nhỏ sau: thứ nhất
“nghĩa của 2 từ trong mỗi câu thơ có đối lập nhau không, trái
ngược nhau không?”, thứ hai : “cơ sở chung của sự đối lập về
nghĩa của 2 từ là gì ?”. Trả lời được 2 câu hỏi trên, học sinh đã xác
định có cơ sở chắc chắn về từ trái nghĩa.
* Cuối tiết, tôi củng cố kiến thức bằng cách tổ chức thi sử
dụng từ trái nghĩa dưới dạng 2 loại bài tập sau:
+ Loại bài tập 1: Điền từ trái nghĩa vào chỗ trống trong từng
câu thơ sau
Ví dụ :

Yếu trâu còn hơn …………… bò .( khoẻ)
Bé lại xé ra ............đáng buồn .(to)
Lành làm gáo, ……. làm muôi . (vỡ)
Ở ……. người cười, ở hẹp người chê. ( rộng)

…………………………………………………….
*Ví dụ: tìm một số từ có tiếng “cổ” (xưa, cũ).
Giáo viên nói: Người ta coi đồ cổ là vật quí, nhưng nhiều thứ cổ khác lại quí
hơn nhiều. Em đọc bài thơ sau và hãy tìm từ thích hợp điền vào chỗ trống để thấm
thía hơn về giá trị của những thứ “cổ” ấy.
Đầu xuân vui tết .......cổ truyền).
Hội làng: vật võ, đu tiên, chọi gà.
Ngôi chùa……………làng ta (cổ kính).
Mùa hè gió mát là đà bóng cây
Quê mình đẹp nhất nơi đây
Cây đa ………..hồ đầy nước trong (cổ thụ)


a. Phương pháp liên tưởng: Từ 1 từ hoặc cụm từ cho trước sẽ cho ra 1 từ mới
cùng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa với từ cho sẵn.
Loại bài tập này bao gồm một số dạng sau:
Ÿ Dạng 1: Điền từ vào chỗ trống.
Sạch sẽ là không ..................
............là không lộn xộn
.............là không luộm thuộm.
Ÿ Dạng 2: Tìm từ cùng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa được nêu trực tiếp.
Loại bài tập này giúp học sinh thu thập thêm những từ đồng nghĩa, trái nghĩa
mà trước nay bản thân chưa biết hoặc chưa nhận ra, đồng thời tạo cho học sinh một
sự nhạy cảm, để đến khi có nhu cầu giáo tiếp ngôn từ thì có thể dễ dàng huy động
các từ đồng nghĩa, trái nghĩa có như vậy vốn từ của học sinh mới ngày càng phong
phú, mới đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong hoạt động nói - viết của học sinh.
b. Phương pháp láy: Tìm ra từ mới bằng cách lặp lại một bộ phận của từ,
hoặc láy lại từ đã cho.
*Ví dụ: Từ từ gốc “vàng” láy từ sẽ cho ra các từ: Vàng vọt, vàng vàng.
Từ từ gốc “xinh” láy từ sẽ cho ra các từ: Xinh xẻo, xinh xinh, xinh xắn.

Điểm

Điểm


&10

7&8

4

9

5&6

dưới 5

&10

14

9

15

7&8

5&6

dưới 5

TL
17
47,2%
12
33,3%
7
19,5%
0
0

• Kết quả cuối năm học lớp tôi đã đạt được những thành tích đáng kể sau:
- Giải toán qua mạng cấp trường: 2 em, cấp huyện: 1 em
- Giải tiếng Anh trên mạng cấp trường: 2 em, cấp huyện: 1 em.
- Học sinh hoàn thành chương trình tiểu học: 36em đạt 100%
- Học sinh được khen: 28 em đạt: 77,7%
Khi áp dụng những biện pháp đã nêu ở trên cho thấy hiệu quả rất lớn trong giờ
học. Học sinh không còn cảm giác lo sợ chán nản khi học luyện từ và câu, việc sử
dụng từ ngữ hay vốn từ của học sinh cũng được phong phú hơn . Đó cũng là thành
công bước đầu mà đề tài mang lại.
7.6 Khả năng áp dụng của sáng kiến


Sau khi áp dụng các biện pháp đã nêu ở trên trong việc hướng dẫn học sinh
học tốt phân môn, vận dụng thực hành cho học sinh lớp 5C có hiệu quả. Tôi đã
mạnh dạn chia sẻ cùng các bạn đồng nghiệp trong tổ 4 + 5 khi họp tổ chuyên môn
để cùng thảo luận và đều được các đồng chí trong tổ ủng hộ đồng thời cùng triển
khai áp dụng đối với các lớp trong khối 5 và đều có kết quả tốt. Bởi vậy các đồng
nghiệp trong khối đều đánh giá rằng: Sáng kiến kinh nghiệm của tôi rất phù hợp và
sát thực tế, có biện pháp đối với mọi đối tượng học sinh và vận dụng tốt vào giảng
dạy.

nhất.
- Các em có điều kiện để bộc lộ những khả năng tư duy, hiểu biết, khả năng diễn
đạt, phát triển vốn từ, trí thông minh và óc sáng tạo mà ở một số em yếu cũng đã
nhận thức được để thực hiện bài văn thì ta phải thực hiện như thế nào đúng nhất về
phần cấu tạo của thể loại văn.
- Trong văn nói các em mạnh dạn hơn, diễn đạt lưu loát đầy đủ ý. Trong văn viết
các em tiến bộ rõ rệt so với đầu năm học, khắc phục được nhược điểm về đặt câu,
đồng thời biết lựa chọn từ ngữ, hình ảnh phù hợp để đặt câu, làm cho câu văn, đoạn
văn và bài văn thêm sinh động.
- Kết quả học tập của học sinh ở phân môn Luyện từ và câu qua các kì kiểm tra
được nâng lên một cách rõ rệt. Cụ thể :
10.2 Về giáo viên : - Sau mỗi tiết dạy Luyện từ và câu , tôi cảm thấy lòng mình
thanh thản và tự tin khi học sinh học tập tích cực chủ động, sáng tạo, ngày càng tiến
bộ. Bản thân không còn cảm thấy ái ngại và khó khăn mỗi khi dạy phân môn Luyện
từ và câu .
- Việc dạy tốt phân môn Luyện từ và câu là động lực để tôi dạy tốt những môn học
khác. và câu nói riêng, đó là những kỹ năng lao động, kỹ năng sống của mỗi thành
viên trong xã hội.
- GV chủ nhiệm cần kết hợp với các ban ngành đoàn thể, đặc biệt là Tổng phụ
trách Đội, thư viện tổ chức nhiều buổi sinh hoạt ngoại khoá, học tập theo chủ điểm
* So với các biện pháp dạy học trước đây tôi đã từng áp dụng thì nay với việc áp
dụng các biện pháp dạy học này triệt để học sinh của tôi nắm bài nhanh và hứng thú
học tập hơn, vốn từ ngữ được mở rộng, khả năng vận dụng thực hành cũng chính
xác và linh hoạt hơn, tiết kiệm được thì giờ học tập cũng như giảng dạy cửa cô và
trò khi tham gia môn học.
Tuy thời gian không dài, với cách tổ chức dạy học theo các biện pháp nêu
trên, hiệu quả giờ dạy được nâng lên rõ rệt. Học sinh hứng thú học tập, hoạt động
tích cực hơn, các em mạnh dạn hơn, tự tin hơn khi dùng từ, đặt câu và sử dụng từ câu khi làm bài cũng như trong giao
11. Danh sách tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến
Lĩnh vực áp dụng sáng

13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
Tổng

Tạ T Huyền Chi
Dương Văn Duy
Ngọ Hồng Duyên
Trương Tiến Đạt

Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C
Lớp 5C

Phân môn LT&C Lớp 5
Phân môn LT&C Lớp 5
Phân môn LT&C Lớp 5
Phân môn LT&C Lớp 5
Phân môn LT&C Lớp 5





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status