Sáng kiến biện pháp giúp học sinh lớp 5 làm văn miêu tả có hiệu quả
BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 HỌC TẬP CÓ HIỆU QUẢ TẬP LÀM
VĂN MIÊU TẢ
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Dạy tốt phân môn tập làm văn nói chung và kiểu bài văn miêu tả nói riêng là
vấn đề được nhiêu giáo viên tiêu học quan tâm. Chương trình thay sách tiểu học phat
huy bốn kỹ năng nghe, nói, đọc. viết trong môn Tiếng Việt. Học sinh tiểu học ngay
từ lớp 1,2,3 đã được tiếp xúc với nhiều dạng văn bản khác nhau, có nội dung gần gũi
trong cuộc sống và kĩ năng giao tiếp của các em với cộng đồng. Đó là một ưu điểm
không ai phủ nhận. Tuy nhiên, chương trình mới chuyển tải sự thay đổi cả về nội
dung và kỹ năng rèn luyện lẫn hình thức, biện pháp và quy trình lên lớp. Là giáo viên,
nhất là giáo viên dạy lớp 5 không ai tránh khỏi những trăn trở, băn khoăn là làm thế
nào giúp học sinh rèn luyện tốt kỹ năng làm bài tập làm văn nhất là miêu tả.
Qua thực tế những năm giảng dạy lớp 5, tôi hiếm khi khi gặp những bài văn
hay.
Tại sao học sinh giỏi môn tập làm văn lại ít ỏi như vậy? Trong khi Tiếng Việt
là tiếng mẹ đẻ của chúng ta.Từ lúc cất tiếng khóc chào đời các em đã được nghe
những làn điệu hát ru mượt mà của bà của mẹ, đến khi các em chưa tròn một tuổi đã
biết nói, năm sáu tuổi đã biết đọc, biết viết Tiếng Việt. Tất cả đã đi vào kí ức của các
em những nét đẹp rất thuần Việt, nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ lớn lên trong sáng như
sương mai Chúng ta tự hào vì Tiếng Việt của ta rất phong phú, giàu hình ảnh, đa
dạng về nghĩa, có sức biểu cảm sâu sắc. Nhưng một thực tế không như chúng ta
mong muốn vì hoc sinh giỏi môn tập làm văn còn quá khiêm tốn. Khi chấm bài tập
làm văn, tôi thấy đa số học sinh đã biến các bài văn miêu tả thành văn kể, liệt kê một
cách khô khan, nghèo nàn về từ, diễn đạt rườm rà tối nghĩa. Vậy làm thế nào để nâng
cao chất lượng dạy học Tập làm văn nhất là văn miêu tả cho học sinh lớp 4 và lớp 5?
Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi trên là một quá trình và cũng là mục đích cần hướng
đến của các kỹ sư tâm hồn.
Để làm tốt vai trò ngươi tổ chức và hướng dẫn, tôi đã tìm tòi, phân tich thực
trạng và lựa chọn một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tập có hiêu quả Tập làm
văn miêu tả.
Tôi tin rằng đề tài này nếu được áp dụng và vận dụng hợp lý sẽ đem laị hiệu
quả cao cho phân môn tập làm văn, góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt
lớp 4 lớp 5.
III. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 .Thực trạng học sinh:
Năm 2014 -2015, tôi được phân công phụ trách lớp 5 với 23 học sinh. Hầu hết
23 học sinh của lớp 5 tôi chủ nhiệm còn rất hạn chế khi làm bài tập làm văn. Sau khi
nghiên cứu sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tôi nhận thấy học sinh lớp 4 đã học văn miêu
tả đồ vật, cây cối, con vật. Nhưng qua khảo sát chất lượng đầu năm học này đã có
60,8 % học sinh bị điểm yếu về Tập làm văn, dẫn đến môn Tiếng Việt lớp tôi yếu đến
26,1 % .
Các hạn chế cua học sinh là:
• Bài viết của học sinh còn mắc nhiều lỗi chính tả.
• Học sinh chưa xác định được trọng tâm đề bài cần miêu tả.
• Nhiều em thường liệt kê, kể lể dài dòng, diễn đạt vụng về, lủng củng.
Nhiều em chưa biết dừng lại để nói kỹ một chi tiết cụ thể nổi bật.
• Vốn từ ngữ của các em còn nghèo nàn, quan sát sự vật chưa tinh tế. Đặc
biệt chưa có sự sáng tạo .
• Các em chưa biết cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật khi miêu tả.
Thực trạng học sinh còn nhiều hạn chế như vậy đã làm cho tiết Tập làm văn trở
thành một gánh nặng, một thách thức với giáo viên tiểu học.Ý nghĩ cho rằng môn tập
làm văn là phân môn khó dạy và khó đạt hiệu quả đã là nhận thức chung của nhiều
giáo viên dạy lớp 4, lớp 5.
Trường tiểu học: Nguyễn Bỉnh Khiêm
2
Sáng kiến biện pháp giúp học sinh lớp 5 làm văn miêu tả có hiệu quả
Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng môn Tập làm văn của
học sinh không đạt yêu cầu? Qua quá trình giảng dạy lớp 5, tôi nhận thấy học sinh
học yếu môn tập làm văn là do nhiều nguyên nhân.
2. Nguyên nhân của thực trạng
đồng thời biết chọn và vận dụng phương pháp phù hợp đẻ truyền thụ kiến thức cho
học sinh. Biết được học sinh cần gì và chưa biết những gì để xác định đúng mục tiêu
bài dạy, xác định được mối quan hệ giữa kiến thức bài dạy với kiến thức cũ và kiến
thức sẽ cung cấp tiếp theo. Cụ thể giáo viên cần nắm vững những vấn đề sau:
a) Nội dung chương trình tập làm văn lớp 5:
Cả năm có 62 tiết trong đó tập làm văn miêu tả 33 tiết ( chiếm hơn 50% số tiết)
với mục tiêu là trang bị kiến thức và rèn kỹ năng làm văn, góp phần cùng với các
môn học khác làm giàu vốn sống, rèn tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ,
hình thành nhân cách cho học sinh.
b) Biện pháp dạy học từng kiểu bài:
Trường tiểu học: Nguyễn Bỉnh Khiêm
3
Sáng kiến biện pháp giúp học sinh lớp 5 làm văn miêu tả có hiệu quả
Hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu và làm bài tập thực hành theo các biện
pháp sau:
- Giúp học sinh nắm vững yêu cầu bài tập.
- Tổ chức cho học sinh thực hiện bài tập.
c) Trình tự tập làm văn:
Trong phần dạy bài mới, giáo viên phải nắm vững trình tự dạy đối với hai loại
bài tập làm văn: Loại bài dạy lý thuyết và loại bài dạy thực hành. Khi dạy từng loại
bài giáo viên cần chú ý đến các đối tượng học sinh của lớp: có nội dung cho học sinh
khá, gioi; có nội dung cho học sinh trung bình, yếu
Ví dụ:
Muốn dạy học sinh làm văn miêu tả đạt yêu cầu thì giáo viên cần biết thế nào
là văn miêu tả, đặc điểm thể loại văn miêu tả, biết yếu tố nào là quan trọng và cần
thiết để giupc học sinh làm được bài văn miêu tả sinh động thông qua quan sat đối
tượng miêu tả ( nội dung này nằm trong bước chuẩn bị bài mới của giáo viên).
2. Rèn kỹ năng quan sát cho học sinh:
Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc biệt nổi bật của cảnh, của người để giúp
người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy, tức là lấy câu văn để biếu
Sáng kiến biện pháp giúp học sinh lớp 5 làm văn miêu tả có hiệu quả
c) Tả theo trình tự tâm lý:
Khi quan sát cần thấy những đặc điểm riêng, nổi bật nhất, thu hút và gây cảm
xúc mạnh nhất đến bản thaanthif quan sát tả trước, các bộ phận khác tả sau. Khi miêu
tả đồ vật, loài vật, tả người nên vân dụng trình tự này nhưng chỉ tả những điểm đặc
trưng nhất, không cần tả đày đủ chi tiết như nhau của đối tượng.
Ví dụ 1:
" Bà tôi ngồi cạnh tôi chải đầu. Tóc đen và dày kỳ lạ, phủ kín cả hai vai, xõa
xuống ngực, xuống đầu gối. Một tay khẽ nâng mớ tóc lên và ướm trên bàn tay, bà đưa
một cách khó khăn chiếc lược thưa bằng gỗ vào mớ tóc dày.
Giọng bà trầm bổng, ngân nga như tiếng chuông. Nó khắc sâu vào trí nhớ tôi
dễ dàng, và như những đóa hoa, dịu dàng, rực rỡ, đầy nhựa sống. Khi bà mỉm cười,
hai con ngươi đen sẫm nở ra long lanh, dịu hiền đến khó tả, "(Bà tôi - Tiếng việt -
Tập I).
Tác giả đã quan sat và tập trung tả mái tóc, giọng nói rồi đến ánh mắt. Mái tóc
" dày kỳ lạ".
Ví dụ 2:
"Sầu riêng là loại trái quý ở miền Nam. Hương vị của nó hết sức đặc biệt, mùi
thơm đậm, bay rất xa Hoa sẩu riêng trổ vào cuối năm Hoa đậu từng chùm màu
trắng ngà. Đứng ngắm cây sầu riêng, tôi cứ nghĩ mãi về dáng cây kỳ lạ này. Thân nó
khẳng khiu, cao vút, cành ngay thẳng đuột ".
Tác giả đã tả nét đặc sắc nhất của quả, hoa và dáng cây của sầu riêng.
Ngoài các trình tự miêu tả trên, giáo viên cần hướng dẫn và rèn luyện cho học
sinh kỹ năng sử dụng các giác quan ( thính giác, thị giác, xúc giác, vị giác, ) để quan
sát, cảm nhận sự vật, hiện tượng miêu tả.
Ví dụ 1:
Phân tích bài " Mưa rào" ( Tiếng việt lớp 5 Tập I) ta thấy tác giả đã quan sát
bằng giác quan như sau:
+ Thị giác: Thấy những đám mây biến đổi trước cơn mưa, thấy mưa roi.
+ Xúc giác: Gió bỗng thấy mát lạnh, nguốm hơi nước.
thể loại cho trước, khi luyên tập. Giáo viên cũng cần lưu ý nhắc nhở các em nắm
vững các đặc điểm của mỗi thể loại, mỗi dạng đề bài và xác dịnhđối tượng miêu tả.
Trong mỗi bài văn phải thể hiện cái mới, cái hay, cái riêng và cảm xuc của mình.
KIỂU BÀI TẢ CẢNH: Cần xác định các yêu cầu sau:
a) Xác định không gian thời gian nhất định:
Sau khi xác định thời gian, không gian nhất định học sinh cần biết lựa chon
trình tự quan sát. Việc quan sát có thể tiến hành ở các vị trí khác nhau nhưng vẫn phải
có một vị tric chủ yếu làm cho cảnh được quan sát bộc lộ ra những điều cơ bản nhất
của nó. Khi xác định được vị trí quan sát rồi, ta nên có cái nhìn bao quát toàn cảnh
đồng thời phải biết phân chia ra thành từng mảng, từng phần để quan sát.
b) Xác định trình tự miêu tả:
Khi tả phải xác định một trình tự miêu tả phù hợp với cảnh được tả. Tả từ trên
xuống hay từ dưới lên, từ phải sang trái hay từ ngoài vào trong là tùy thuộc đặc
điểm của cảnh.
c) Chọn nét tiêu biểu:
Chỉ nên chọn nét tiêu biểu nhất của cảnh để tả, tập trung làm nổi bật đặc điểm
đó lên, có thể tả xen hoạt động cảu người, của vật, trong cảnh để góp phần làm cho
cảnh sinh động hơn, đẹp hơn.
d) Tả cảnh gắn với cảm xúc riêng bằng nhiều giác quan:
Tả cảnh luôn luôn gắn với cảm xúc của người viết. Cảnh vật mang theo trong
nó cuộc sống riêng với những đặc điểm riêng. Con người cảm nhận cảnh như thé nào
sẽ đem đến những tình cảm như thế. Nhà thơ Lê Anh Xuân, trong niềm vui của ngày
Tổ quốc hoàn toàn thống nhất, đất nước thoát khỏi giặc ngoại xâm, bằng tâm trạng
hạnh phúc nhất, ông đã thốt lên:
" Bỗng thấy nội tôi trẻ lại
Như thời con gái tuổi đôi mươi."
Đây chính là phần hồn của cảnh. Cảnh không có hồn sẽ trơ trọi, thiếu sức sống.
e) Chọn từ ngữ thích hợp khi tả cảnh:
Khi làm văn miêu tả cần biết lựa chọn từ ngữ gợi tả, dùng hình ảnh so sánh
Ta thấy tác giả quan sat rất kĩ và miêu tả sinh động làm nổi bật hình ảnh người
thợ rèn như một người đang chinh phục dũng mãnh và thấy quá trình biến thỏi thép
thành một lưỡi rựa.
Vì thế để làm dược bài văn tả người thành công, giáo viên cần giúp học sinh
xác định các yêu cầu sau:
a) Chú ý tả ngoại hình hoạt động:
Khi tả người cần chú ý đến tuổi tác - mỗi lứa tuổi khác nhau có sự phát triển về
cơ thể, tâm lý riêng biệt khác nhau và có những cử chỉ hành động thể hiện theo
giwois tính, thói quen sinh hoạt, hoàn cảnh sống Khi miêu tả cần tập chung vào
việc làm sao nêu được cái chung và cái riêng của người dược miêu tả.
b) Quan sát trò chuyện trực tiếp:
Khi tả người, điều cần nhất là quan sát trực tiếp hoặc trò chuyện, trao đổi ý
kiến với người đó. Quan sát khuôn mặt, dáng đi, nghe giọng nói, xem cách nói, cư chỉ
thao tác lúc làm việc để rút ra nét nổi bật ( chon và quan sat người định tả trong
thời gian chuẩn bị bài mới ở nhà). Ta cũng cần dùng cách quan sat gián teieepslaf
thông qua trí nhớ hoặc nhận xét của một người khác về người định tả để bổ sung
những thông tin cần thiết.
c) Tả kết hợp ngoại hình, tính nết, hoạt động:
Khi miêu tả có thể tách riêng từng mặt, từng bộ phận để tả nhưng để bài văn
miêu tả đạt được sự gắn bó, súc tích ta nên kết hợp tả ngoại hình, tính nết đan xen với
tả hoạt động.
d) Tả những nét tiêu biểu bằng tình cảm chân thật của mình:
Trường tiểu học: Nguyễn Bỉnh Khiêm
7
Sáng kiến biện pháp giúp học sinh lớp 5 làm văn miêu tả có hiệu quả
Khi tả người, điều quan trọng là cần tả chân thật những nét tiêu biểu về người
đó, không cần phải tô điểm người mình tả bằng những hình ảnh hoa mĩ, vẽ nên một
hình ảnh toàn diện và vì làm như vậy bài văn se trở nên khuôn sáo, thiếu sự chân thật
làm người đọc cảm thấy khó chịu, giáo viên cầm lưu ý học sinh rằng, trong mỗi con
người ai cũng có chỗ khiếm khuyết nhưng nét đẹp thì bao giờ cũng nhiều hơn ( đẹp
từ theo đề tài nhỏ.
Ví dụ 1:
Tìm từ láy gợi tả âm tahnh trên dòng sông (bì bọp, ì ọp, ì ầm, xôn xao, ào ào )
Ví dụ 2:
Tìm những hình ảnh so sánh để so sánh với dòng sông: dòng sông như dải lụa,
dòng sông như con trăn khổng lồ, dòng sông như người mẹ hiền ôm ấp dồng lúa chín
vàng, dòng sông lấp lánh như dát bạc
b) Sử dụng từ ngữ trong miêu tả:
Trường tiểu học: Nguyễn Bỉnh Khiêm
8
Sáng kiến biện pháp giúp học sinh lớp 5 làm văn miêu tả có hiệu quả
Sau khi học sinh đã có một vốn từ nhất định, giáo viên giúp học sinh cách sử
dụng vốn từ trong miêu tả như: sử dụng từ láy, sử dụng tính từ tuyệt đối (đỏ mọng,
đặc sệt, trong suốt ), sử dụng các biện pháp nghệ thuật ( so sánh, nhân hóa, ẩn dụ )
Ví dụ 1:
Cho các từ "ríu tít, líu lo, liếp chiếp, rộn ràng, tấp nập, là là, từ từ ".
Hãy chon từ thích hợp điền vào chỗ trống trong đoạn văn sau: " Tiếng chim
báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Ông mặt trời nhô lên sau lũy tre xanh. Khói bếp nhà
ai bay trong gió. Đàn gà con gọi nhau, theo chân gà mẹ. Đường làng đã người
qua lại,"
Ví dụ 2:
Hãy chọn từ ngữ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống để được các câu văn
có hình ảnh so sánh phù hợp nhất ( tiếng chuông, chùm sao, thủy tinh, dải lụa, giọng
bà tiên).
- Hoa xoan nở từng chùm trông giống như ( những chùm sao)
- Nắng cứ như xối xuống mặt đường ( Thủy tinh)
- Giọng bag trầm ấm ngân nga như ( tiếng chuông)
Ở ví dụ 1 và ví dụ 2, cho số từ nhiều hơn số chỗ trống cần điền, buộc HS phải
suy nghĩ kỹ hơn khi chọn từ.
6- Lập và hoàn thiện dàn ý:
sách giáo khoa xác định có 3 hoạt động chính:
1. Nghe thầy (cô) nhận xét chung về kết quả bài làm của lớp.
2. Chữa bài.
3. Đọc tham khảo các bài văn hay được thầy (cô) khen để học tập và rút kinh
nghiệm. ( TV 5 -T1 - T53).
Để tiết trả bài viết đạt hiệu quả, giáo viên cần lấy thông tin từ bài viết của học
sinh ( đã chấm và ghi ở sổ chấm bài) và thực hiện các hoạt động trả bài một cách bài
bản, có linh hoạt tù theo tình huống chất lượng Tập làm văn của lớp.
Hoạt động 1:Nhận xét chung về bài làm của lớp gồm các bước sau:
- Bước 1: Đánh giá việc nắm vững các yêu cầu của đề bài ( ghi đề, học sinh
đọc đề bài, xác định 3 yêu cầu: thể loại, nội dung và trọng tâm). Đánh giá tình hình
làm bài của lớp về mặt nhận thức đề ( số bài đã đạt 3 yêu cầu của đề, số bài chưa đạt
hoặc đạt chưa đủ 3 yêu cầu. Biểu dương cá nhân, cả lớp ).
- Bước 2: Đánh giá về nội dung bài viết ( cho học sinh nêu dàn ý chung của
kiểu bài tả cảnh, (tả người) Đọc một đoạn văn đã chọn sẵn cho học sinh nghe và
nhận xét, cuối cùng giáo viên đánh giá chung về nội dung đoạn văn đó.
Hoạt động 2: Chữa bài:
Nội dung và cách thức thực hiện sửa chữa lỗi diễn đạt:
+ Việc sửa chữa lỗi diễn đạt dựa trê cơ sở bài làm của cả lớp trong quá trinhg
chấm bài, giáo viên đã ghi ra các câu có vấn đề về ngữ pháp, các lỗi chính tả Đến
lúc này GV tổ chức, hướng dẫn cho học sinh nhận xét, sửa chữa. Định hướng như vậy
sẽ giúp cho việc sửa chữa lỗi sát hợp và kịp thời uốn nắn kỹ năng diễn đạt cho lớp.
Tuy nhiên, sửa chữa như vậy sẽ dẫn đến tình trạng nhàm chán trong HS vì tiết trả bài
nào cũng sửa chữa những lỗi đó.
+ Riêng tôi, ngay từ đầu năm học đã lên kế hoạch sửa lỗi diễn đạt cho lớp, mối
tiết trả bà viết tập trung sửa chữa cho một hoặc hai lỗi nào đó một cách bền vững,
tức là cần có trọng tâm sửa lỗi cho từng tiết.
* Hoạt động 2 này tiến hành theo 3 bước:
+ Bước 1:Tham gia sửa lỗi cho cả lớp.
Ví dụ:
Diễn biến chất lượng môn Tiếng việt ( Điếm kiểm tra):
Thời điểm Số
HS
Điểm
9 - 10
Điểm
7 - 8
Điểm 3
5 - 6
Điểm
1,2,3,4
Khảo sát đầu
năm
2014 - 2015
Giữa kỳ I
Cuối kỳ I
Diễn biến chất lượng mônTập làm văn sau khi áp dụng đề tài này thật đáng
phấn khởi, đây là kết quả của một quá trình phấn đấu của cô và trò. Chất lượng phân
môn tập làm văn đi lên rõ rệt đã góp phần quan trongjvaof việc nâng cao chất lượng
môn Tiếng Việt của lớp.
VII. KẾT LUẬN.
Sau một học kỳ áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này, thành công tuy nhỏ
nhưng tôi ý thức được rằng để giúp học sinh lớp 5 làm được bài văn miêu tả sinh
động, đung kiểu bài, đòi hỏi giáo viên phải dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu
soạn giảng, có lòng nhiệt tình với học sinh và thật sự tâm huyết với nghề. Thầy cô
giáo đã miệt mài, tận tụy. Thì việc mong muốn có nhiều học sinh giỏi văn sẽ không
còn là khó. Sau thời gian đầu tư nghiên cứu và áp dụng những biện pháp dạy học như
trên, học sinh lớp tôi đã có chuyên biến đi lên về chất lượng phân môn Tập làm văn
nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung.
Tập làm văn đúng là môn có tính chất tổng hợp và tính sang tạo cao. Cho nên
ngữ và giữ gìn sự trong sáng trong Tiếng Việt.
Trường tiểu học: Nguyễn Bỉnh Khiêm
12