sáng kiến kinh nghiệm biện pháp giúp học sinh lớp năm hạn chế sai sót khi làm toán (phần số học)” - Pdf 37

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Phước Lại, ngày 8 tháng 4 năm 2016
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài: “Biện pháp giúp học sinh lớp Năm hạn chế sai sót khi làm toán
(phần số học)”
I SƠ LƯỢC LÝ LỊCH
Bà: Trương Thị Thanh Vân
Năm sinh : 14-10-1973
Nơi thường trú: Ấp Tân Thanh A - Xã Phước Lại - Huyện Cần Giuộc - Tỉnh Long
An.
Chức vụ, đơn vị công tác: giáo viên dạy lớp Năm Trường Tiểu học Phước Lại.
Nhiệm vụ được phân công: giáo viên dạy lớp kiêm Tổ trưởng chuyên môn tổ Năm.
II NỘI DUNG
1. Lí do chọn đề tài:
Môn Toán có vị trí vô cùng quan trọng trong nhà trường tiểu học. Sự quan trọng đó
không chỉ thể hiện ở việc môn Toán chiếm phần lớn thời gian học tập của học sinh
mà còn thể hiện ở khả năng giáo dục nhiều mặt của nó. Môn Toán có khả năng phát
triển tư duy lô-gic, phát triển trí tuệ. Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện
phương pháp suy luận, giải quyết vấn đề có suy luận, mang tính khoa học, chính
xác, toàn diện, phát triển trí thông minh, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt,… góp
phần giáo dục ý chí nhẫn nại, kiên trì, vượt khó của học sinh.
Bên cạnh đó, đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học là dễ nhớ nhưng mau quên,
sự tập trung chú ý trong giờ học toán chưa cao, trí nhớ chưa bền vững, thích học
nhưng cũng chóng chán. Vì vậy, người giáo viên phải làm thế nào để khắc sâu kiến
1


thức cho học sinh và tạo ra không khí sẵn sàng học tập, chủ động tích cực trong
việc tiếp thu kiến thức trong các giờ học, đặc biệt là giờ học toán.
Trong 5 mạch của môn toán, mạch số học là một phần rất quan trọng và xuyên suốt


dạy tốt hơn, hiệu quả hơn để giúp các em dễ hiểu bài và nắm chắc cách làm toán
một cách thuần thục.
5. Nội dung giải quyết của đề tài
a. Thực trạng đề tài:
Đầu tháng 8 năm 2015, tôi được bàn giao chủ nhiệm lớp 5 4 với kết quả khảo sát
chất lượng môn Toán đầu năm như sau:
Tổng

Biết

số HS

thạo( phần số học).

thành thạo ( phần số nhiều( phần số học).

SL
10

học).
SL
14

32

làm

thành Biết làm nhưng chưa Biết làm nhưng còn sai




chú ý để sửa sai. Khả năng ghi nhớ của học sinh còn nhiều hạn chế, tính bền vững
trong tư duy chưa cao, chưa khoa học trong cách trình bày. Trong khi đó, thời gian
dành cho việc ôn tập các kiến thức đã học còn rất ít. Học sinh chưa nắm vững được
cấu tạo số ( số tự nhiên và số thập phân).
b. Biện pháp giải quyết.
Từ thực tế trên, tôi luôn băn khoăn, trăn trở để tìm ra biện pháp tốt nhất, hiệu quả
nhất giúp học sinh học hạn chế sai sót toán( phần số học). Vì thế, tôi đã nghiên cứu
chương trình sách giáo khoa môn toán 5 mà cụ thể là giải toán phần số học để xác
định những nội dung cụ thể, từ đó xác định phương hướng và cách thức giảng dạy,
truyền thụ kiến thức đến các em một cách hiệu quả. Tôi nhận thấy toán phần số học
giữ một vị trí đặc biệt trong chương trình toán 5 bao gồm nhiều dạng toán phong
phú được sắp xếp xen kẽ nhau, trong đó học sinh còn mắc sai lầm các dạng toán
sau:
Sai lầm khi trình bày cách tính cộng, trừ hai phân số khác mẫu số.
Xác định sai giá trị của chữ số trong số thập phân
So sánh sai các số thập phân:
Đặt tính sai khi cộng trừ các số thập phân\\
Bỏ sót chữ số “0” ở thương trong phép chia
Xác định sai số dư trong phép chia số thập phân
Xuất phát từ thực tế giảng dạy, kết quả khảo sát trên tôi đã thực hiện hướng dẫn
học sinh giải các bài toán số học mà các em thường mắc những sai sót sau:
Xác định sai giá trị của chữ số trong số thập phân :
Ví dụ 1 : Đọc số thập phân; nêu phần nguyên, phần thập phân và giá trị theo vị trí
mỗi chữ số ở từng hàng.
Bài 1d/ 0,032 ( trang 38 – SKG Toán 5).
Học sinh đã có những sai sót như sau (Tính từ bên phải qua):
Trường hợp thứ nhất : 2 đơn vị , 3 chục, 0 trăm, 0 nghìn.
Trường hợp thứ hai : 2 phần mười, 3 phần trăm, 0 phần nghìn, 0 đơn vị.

Ví dụ 2: So sánh 96,4 và 96,38( BT 1b/ trang 42 SGK toán5)
Nhiều học sinh đã có kết quả : 96,4 < 96,38 do nguyên nhân sau:
Học sinh chỉ chú ý dấu hiệu bề ngoài mà không chú ý đến dấu hiệu bản chất
( chỉ dựa vào số các chữ số) .
Học sinh nhầm lẫn giữa cách so sánh các số tự nhiên với cách so sánh các số thập
phân.
Học sinh không nắm vững cấu tạo của số thập phân, giá trị của từng hàng; không
thực hiện đúng quy trình so sánh các số thập phân.
Vậy tôi phải giải thích rõ cách so sánh các số tự nhiên với cách so sánh các số thập
phân.
+ Đối với số tự nhiên khi so sánh các số, số nào có nhiều chữ số hơn thì số đó lơn
hơn. VD: 964 < 9638
5


+ Nhưng đối với số thập phân giáo viên nhấn mạnh: khi so sánh các số thập phân ta
không dựa vào số các chữ số của số đó mà cần thực hiện đúng quy trình so sánh : so
sánh phần nguyên trước, nếu phần nguyên bằng nhau thì so sánh sang phần thập
phân,lần lượt từ hàng phần mười, hàng phần trăm, hàng phần nghìn,…đến cùng một
hàng nào đó, số thập phân nào có chữ số ở hàng tương ứng lơn hơn thì số đó lớn hơn

Khi so sánh 96,4 và 96,38 ta so sánh phần nguyên trước, vì phần nguyên
bằng nhau nên ta so sánh tiếp sang hàng phần mười.
4
3
>
nên 96,4 > 96,38
10
10


Tuy nhiên khi học sinh đã thực hiện thành thạo các phép tính thì việc viết thêm
chữ số 0 vào phần thập phân, giáo viên chỉ yêu cầu học sinh thực hiện nhẩm, không
cần viết vào bài làm.
Chuyển 3,8 thành 3,80 để có:
9,46
+

3,80

13,26
Chuyển 69 thành 69,00 để có :
69,00
_ 7,85
61,15
Bỏ sót chữ số “0” ở thương trong phép chia.
Ví dụ 5: 46,827 : 9 ( SGK Toán 5 trang 64)
Học sinh thực hiện sai như sau:
46,827
18

9
5,23

27
0

Do các em chưa nắm vững quy trình thực hiện phép chia.
7



2,05

14
Vậy 43,19 : 21 = 2,05 dư 14
Do HS chưa phân biệt số dư trong phép chia số tự nhiên với số dư trong phép chia
số thập phân.

8


Mới chỉ dựa vào dấu hiệu bên ngoài, chưa dựa vào dấu hiệu bản chất, các em còn
nhầm lẫn giữa số dư trong phép chia các số tự nhiên và số dư trong phép chia các
số thập phân.
Các em chưa nắm vững cấu tạo của số thập phân, chưa hiểu được ý nghĩa của các
hàng trong số thập phân.
Biện pháp khắc phục :
Dạy học sinh cách đơn giản và dễ nhớ nhất khi xác định số dư : dóng thẳng dấu
phẩy của số bị chia xuống để xác định phần nguyên và phần thập phân của số dư.
Phép tính đúng như sau:
43,19
119

21
2,05

14
Vậy 43,19 : 21 = 2,05 dư 0,14
c. Kết quả chuyển biến đối tượng khi thực hiện đề tài:
Bằng các biện pháp đã thực hiện ở trên, tôi nhận thấy học sinh lớp tôi hứng thú học
tập, làm toán về số học ở lớp tôi có sự tiến bộ rõ rệt:

thạo nhiều (phần số học)

(phần số học)
SL
TL(%)
2
6,25%

6. Kết luận:
9

SL
0

TL(%)


a. Tóm lược giải pháp:
Trong thực tế giảng dạy và qua thời gian nghiên cứu đề tài này, tôi nhận thấy để
nâng cao chất lượng học tập cho học sinh người giáo viên cần phải:
+ Tìm hiểu học sinh để phát hiện ra nguyên nhân khiến học sinh đạt được cũng như
chưa đạt được kết quả trong học tập. Từ đó phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm
yếu ở học sinh. Người giáo viên không những phải có kiến thức vững chắc phương
pháp giảng dạy hay mà giáo viên cần phải cho học sinh rèn luyện, thực hành nhiều.
+ Luôn khảo sát, phân loại học sinh để có phương pháp giảng dạy phù hợp.
+ Luôn học hỏi, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp.
+ Luôn động viên, khuyến khích học sinh đào sâu suy nghĩ.
+ Thường xuyên kiểm tra việc nắm các bước giải toán có lời văn của học sinh
để củng cố khắc sâu cho các em kiến thức ở các giờ luyện tập, thi giải toán
nhanh trong giờ sinh hoạt vui chơi, khi giải toán qua mạng Internet.


Trương Thị Thanh Vân

11




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status