Sáng kiến kinh nghiệm biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn luyện từ và câu - Pdf 30

Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

A- PHẦN MỞ ĐẦU
I.Lý do chọn đề tài:
Phân môn Luyện từ và câu nhằm luyện tập cho các em có một năng lực giao
tiếp.Việc dạy Luyện từ và câu nhằm mở rộng hệ thống hóa làm phong phú vốn từ của
học sinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn luyện cho
học sinh kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình
cảm của mình, đồng thời giúp học sinh có khả năng hiểu biết các câu nói của người
khác. Luyện từ và câu có vai trò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết,
phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em, giúp cho các em học tốt môn Tập làm văn.
Mục tiêu của phân môn Luyện từ và câu là:
Về kiến thức: Mở rộng vốn từ theo chủ điểm, củng cố hiểu biết về các kiểu câu
( thông qua các mô hình) và thành phần câu ( thông qua các câu hỏi) đã học ở lớp hai.
Cung cấp cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về phép tu từ so sánh và nhân hóa
( thông qua các bài tập).
Về kỹ năng: Rèn cho học sinh các kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng một số dấu
câu.
Về thái độ: Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu;
có ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp và thích học Tiếng Việt.
Nội dung chương trình phân môn Luyện từ và câu có vai trò quan trọng hàng
đầu. Với tính chất thực hành toàn diện, tổng hợp và sáng tạo, môn Luyện từ và câu sẽ
giúp các em hình thành, phát triển vốn ngôn ngữ của mình, biết sử dụng Tiếng Việt có
văn hóa, sản sinh văn bản trong tư duy, giao tiếp và học tập, hình thành kỹ năng ứng
xử trong các tình huống giao tiếp cụ thể của cuộc sống, làm cơ sở hình thành kỹ năng
tiếp nhận và sản sinh văn bản ở các lớp trên.
Qua thực tế giảng dạy cho thấy, việc dạy phân môn Luyện từ và câu theo phương
pháp cũ học sinh sẽ học tập thụ động. Các em không được chuẩn bị đúng mức để hoạt
động độc lập và sáng tạo, việc học ít hứng thú, năng lực cá nhân không có điều kiện
bộc lộ và phát triển.
Đối với giáo viên, việc tổ chức cho học sinh học tập chủ động còn nhiều hạn chế,

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp phỏng vấn.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thực nghiệm.
IV. Giới hạn nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu về:
- Thực trạng học phân môn phân môn Luyện từ và câu của học sinh lớp Ba
1
trường Tiểu học Đạo Thạnh A.
- Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy phân môn Luyện từ và câu.
- Rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa.
- Thiết kế trò chơi củng cố kiến thức về từ ngữ.
V. Khách thể và đối tượng nghiên cứu :
1. Khách thể nghiên cứu :
Hoc sinh lớp Ba
1
trường Tiểu học Đạo Thạnh A.
2. Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu
VI. Giả thuyết nghiên cứu:
Nếu áp dụng tốt các biện pháp: Giáo viên nắm vững nội dung chương trình sách
giáo khoa, phương pháp giảng dạy đặc trưng của bộ môn, phát huy tính tích cực của
học sinh trong dạy phân môn Luyện từ và câu; Rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ:
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 2
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

so sánh, nhân hóa; Sử dụng trò chơi củng cố kiến thức về từ ngữ thì chất lượng phân
môn Luyện từ và câu sẽ được nâng cao.
VII. Kế hoạch thực hiện :

Với mục đích như vậy, việc dạy học Luyện từ và câu chiếm vị trí hết sức quan
trọng trong nhà trường cũng như cung cấp cho các em những tri thức hết sức cần thiết
để tìm hiểu và học tốt các môn học khác.
b. Cơ sở thực tiễn:
Phân môn Luyện từ và câu là phân môn quan trọng của môn Tiếng Việt, nhằm
mở rộng vốn từ, cung cấp những hiểu biết sơ giản về từ loại và về kiểu cấu tạo của các
từ thông qua vốn từ các em sẵn có các từ mới học. Đồng thời rèn kỹ năng nói, viết
thành câu, dùng một số dấu câu khi viết, cung cấp những mẫu câu cần thiết đế học
sinh vận dụng trong giao tiếp và học tập.
Đối với học sinh lớp 3 do vốn sống, vốn từ của các em còn quá ít, mà chúng ta
đã biết từ ngữ, ngữ pháp trong tiếng Việt rất phong phú, như nhiều người thường nói “
Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”. Bởi vậy làm cho các em hiểu
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 3
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

đúng đắn về từ, câu để có thể phát triển một cách đồng đều về mọi mặt là một việc
không dễ.
Chính vì nhận thức trên, chúng tôi nghĩ rằng muốn học sinh học tốt phân môn
Luyện từ và câu giai đọan đầu ở bậc tiểu học, không gì hơn phải thiết kế và giảng dạy
sao cho tiết học diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả cao mà vẫn đảm bảo được
nguyên tắc học sinh là nhân vật trung tâm, phát huy được tính chủ động tích cực của
từng học sinh, của tập thể học sinh trong giờ học.
II. Thực trạng của vấn đề:
1. Thuận lợi:
- Sĩ số học sinh không quá nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra
(chấm bài viết thường xuyên, phát hiện lỗi sai kịp thời để học sinh sữa chữa và khắc
phục khi sử dụng vốn từ trong hoạt động nói và viết).
- Học sinh có đầy đủ vở Luyện từ và câu và vở bài tập Tiếng Việt (ghi đầy đủ
nội dung bài tập Luyện từ và câu).
- Giáo viên có kế hoạch rèn học sinh thói quen dùng từ, đặt câu trong học tập,

vững chương trình và phương pháp giảng dạy đặc trưng của phân môn này. Có nắm
vững nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy, người giáo viên mới đi sâu
vào nghiên cứu, giảng dạy tốt phân môn Luyện từ và câu.
a.Về nội dung:
Trong chương trình tiểu học mới, môn Tiếng Việt đạt được mục tiêu rèn luyện
kỹ năng lên hàng đầu, các bài học không có tiết học lý thuyết riêng. Cách đặt vấn đề
của chương trình mới tỏ ra phù hợp với đặc điểm, với trình độ nhận thức của học sinh
Tiểu học. Phân môn Luyện từ và câu được biên soạn theo quan điểm giao tiếp, tích
hợp, tích cực hóa hoạt động của người học. Mặt khác, học sinh lớp 3 phải hoàn thành
tốt kiến thức đã học ở lớp 2 về từ loại, các kiểu câu, các thành phần câu và dấu câu.
Học sinh lớp 3 tiếp tục được trang bị những hiểu biết đầu tiên về biện pháp tu từ so
sánh, nhân hóa để phục vụ việc đọc hiểu các loại văn bản và làm văn.
Như vậy, việc dạy học Luyện từ và câu để đạt mục tiêu trên cần cho em tiếp xúc
với các loại bài tập cụ thể, để qua đó các em được rèn luyện những kỹ năng cần thiết
và bước đầu tiếp xúc với ngôn ngữ hình tượng văn học, rung động trước cái hay, cái
đẹp của cuộc sống của con người, của thiên nhiên, từ đó hình thành và phát triển nhận
thức, tình cảm, thái độ đúng đắn trước cuộc sống. Nội dung kiến thức được sách giáo
khoa trình bày rõ ràng, khoa học, có hệ thống tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên tổ
chức giờ học.
Chương trình Luyện từ và câu ở lớp 3 có những loại bài tập sau:
a.1) Mở rộng vốn từ:
- Gắn với các chủ điểm được học : Măng non, Mái âm, Tới trường, Cộng đồng, Quê
hương, Bắc – Trung – Nam, Anh em một nhà, Thành thị - nông thôn, Bảo vệ Tổ quốc,
Sáng tạo, Nghệ thuật, Lễ hội, Thể thao, Ngôi nhà chung, Bầu trời và mặt đất.
- Thông qua các bài tập
+ Tìm từ ngữ theo chủ điểm.
+ Tìm hiểu, giải nghĩa của từ;
+ Hệ thống, phân loại vốn từ;
+ Luyện cách sử dụng từ
a.2) Ôn luyện kiến thức đã học ở lớp 2

giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh.
Phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ rèn cho học sinh dùng từ đúng, nói viết thành
câu. Ở lớp 3, học sinh không phải học những kiến thức lý thuyết vế Tiếng Việt. Trong
sách giáo khoa, các kiến thức sơ giản về từ và câu được thực hiện qua các bài tập thực
hành, luyện tập về dùng từ đặt câu; qua việc rèn kỹ năng sử dụng từ ngữ, ngữ pháp
dần dẩn hình thành ở học sinh một cách tự nhiên các nhận biết ban đầu về các đơn vị
kiến thức, về từ ngữ, ngữ pháp sẽ học ở các lớp trên.
Cũng như các phân môn học khác trong môn học Tiếng Việt, khi dạy học Luyện
từ và câu các phương pháp thường được sử dụng rộng rãi là:
- Phương pháp luyện tập theo mẫu, đấy là phương pháp được sử dụng nhiều
nhất khi dạy Luyện từ và câu lớp 3. Thông qua việc hướng dẫn học sinh làm mẫu một
phần của bài tập, giáo viên giúp các em nhận biết cách làm bài tập để từ mình hoàn
thành bài tập.
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ, thường được sử dụng khi hướng dẫn học
sinh giải nghĩa từ hoặc mở rộng vố từ theo cấu tạo,…
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 6
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

- Phương pháp giao tiếp: Thông qua việc dạy từ dựa vào lời nói vào những
thông báo sinh động, vào giao tiếp ngôn ngữ, giáo viên hướng học sinh vào những tình
huống để tạo ra sản phẩm giao tiếp (là việc hiểu và dùng từ đúng và hay của học sinh)
- Phương pháp thảo luận nhóm, trò chơi học tập …
Dạy Luyện từ và câu ở lớp 3 thực chất là việc tổ chức cho học sinh thực hiện
các bài tập. Do vậy khi dạy Luyện từ và câu, dể học sinh hứng thú học tập, tôi thường
vận dụng các biện pháp phù hợp với từng loại bài.
b.1. Tổ chức cho học sinh thực hiện các bài tập mở rộng vốn từ và hệ thống hoá
vốn từ:
Từ tồn tại trong đầu óc con người được sắp xếp theo một hệ thống liên tưởng
nhất định. Nhờ quy luật này, từ được tích luỹ nhanh chóng hơn. Cũng nhờ quy luật
này, từ mới có thể sử dụng được trong lời nói, vì khi sử dụng từ, nhờ hệ thống liên

v.v… để giải nghĩa từ.
Ví dụ: Tôi đưa ra bức tranh vẽ hình quả na, củ sắn, cho học sinh tôi xem và nói
“Đây là quả mãng cầu dai”. “Đây là củ khoai mì”. Khi đọc bài “Hạt gạo làng ta”, tôi
cho học sinh xem tranh cái quang để giúp học sinh nắm nghĩa của từ.
Trực quan chiếm vị trí quan trọng trong giải nghĩa từ ở tiểu học vì nó giúp học
sinh hiểu nghĩa từ một cách dễ dàng nhưng cách giải nghĩa này đòi hỏi giáo viên phải
chuẩn bị khá công phu và không thể dùng để giải thích những từ trừu tượng. Biện
pháp này nên dùng ở các lớp đầu cấp. Tương ứng với biện pháp giải nghĩa từ bằng
trực quan có các bài tập giải nghĩa từ.
Ví dụ: Bài tập yêu cầu học sinh “Nhìn vào hình vẽ chỉ xem đâu là đỉnh núi,
sườn núi, chân núi” hoặc đưa tranh, yêu cầu học sinh tìm một nét nghĩa: “Dựa vào
tranh em hãy nói xe làm là loại xe dùng để làm gì?”.
+ Giải nghĩa từ bằng ngữ cảnh là để cho từ xuất hiện trong một nhóm từ, một
câu, một bài để làm rõ nghĩa của từ. Tôi không cần giải thích, nghĩa của từ được bộc
lộ nhờ ngữ cảnh.
Ví dụ: Để giải nghĩa từ “rực rỡ”, tôi đưa ra câu “Những đoá hồng rực rỡ đang
đón chào nắng sớm”.
+ Giải nghĩa từ bằng đối chiếu, so sánh với từ khác.
Ví dụ: Giải nghĩa từ “đồi” bằng cách so sánh “đồi” với “núi”: đồi thấp hơn núi,
sườn thoai thoải hơn”. Cách giải nghĩa này sẽ được xây dựng thành các bài tập kiểu
“Đồi khác núi như thế nào?”…
+ Giải nghĩa bằng các từ đồng nghĩa, trái nghĩa. Ví dụ: Hãy giải nghĩa các từ
dưới đây bằng từ trái nghĩa với nó: trẻ con, cuối cùng, xuất hiện, bình tĩnh.
+ Giải nghĩa bằng cách phân tích thành các từ tố (tiếng). Ví dụ: “Tâm sự là một
từ ghép gốc Hán, có nghĩa là nỗi lòng (tâm: lòng, sự: nỗi)
+ Giải nghĩa bằng định nghĩa là biện pháp giải nghĩa bằng cách nêu nội dung
nghĩa bằng một định nghĩa. Ví dụ: “cộng đồng là những người cùng sống trong một
tập thể hoặc một khu vực, gắn bó với nhau”. Đây là biện pháp giải nghĩa phổ biến
nhất, là biện pháp giải nghĩa làm cơ sở cho rất nhiều bài tập dạy nghĩa khác nhau.
Hình thức giải nghĩa này có 3 dạng bài tập theo từ tực từ dễ đến khó như sau:

sao cho phù hợp với đối tượng học sinh, phải kiểm tra được các hoạt động thực hành
của học sinh để tránh tình trạng học sinh làm sai từ đầu đến cuối hoặc không tham gia
thực hành.
Khi sử dụng phương pháp thực hành trong dạy luyện từ và câu, tôi sử dụng biện
pháp và kĩ thuật sau: Liên hệ với thực tế để biết mục đích của bài học, nêu rõ nhiệm
vụ của học sinh cần làm, hướng dẫn học sinh huy động kiến thức đã học và kinh
nghiệm của cá nhân để hình thành kiến thức đã học và kinh nghiệm của các nhân để
hình thành kiến thức kĩ năng mới.
b.4) Phương pháp trò chơi học tập:
Trò chơi học tập là một trò chơi đặc biệt không chỉ nhằm giải trí mà còn góp
phần củng cố tri thức, kĩ năng đã học.
Nội dung trò chơi học tập phải gắn với các tri thức, kĩ năng của môn học, trò
chơi học tập cần phải có luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, không đòi
hỏi phải có thời gian dài cho việc huấn luyện, phù hợp với trình độ của học sinh,
không quá khó. Ví dụ: Thi đặt câu theo mẫu, thi phân loại từ nhanh…
b.5) Phương pháp học nhóm:
Dạy luyện từ và câu theo phương pháp hợp tác nhóm nhằm hình thành ở học
sinh khả năng giao tiếp, khả năng hợp tác, thích ứng và độc lập suy nghĩ.
Dạy học luyện từ và câu theo phương pháp hợp tác nhóm phải đáp ứng yêu cầu:
Đề tài đưa ra thảo luận có tác dụng kích thích sự suy nghĩ, tò mò của các em học sinh,
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 9
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

hiểu được những gì được học thông qua thảo luận và khuyến khích động viên học sinh
mạnh dạn tham gia thảo luận.
Cần lưu ý rằng không nên lạm dụng hình thức thảo luận nếu bài tập không quá
khó với học sinh, lạm dụng thảo luận nhóm sẽ lãng phí thời gian của lớp.
b.6) Phương pháp sử dụng tình huống có vấn đề trong tổ chức hoạt động:
Nhằm hình thành ở học sinh khả năng tư duy tự giải quyết vấn đề, khả năng thích
ứng, khả năng hợp tác trong đời sống, đặc biệt trong giao tiếp.

 Cuối tiết học bình chọn, nhận xét tuyên dương để khích lệ tinh thần học tập
của các em, hạn chế học lười học, chán học.
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 10
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

 Thường xuyên gặp gỡ trao đổi tình hình học tập của các em với phụ huynh đề
nghị cùng phối hợp.
 Trong giảng dạy, chúng tôi chú ý tìm ra những vấn đề vướng mắc khó khăn,
xác định cần giúp đỡ học sinh ra sao, sử dụng những phương pháp nào phù hợp để
phát huy được tính tích cực học tập của các em, nhằm khuyến khích các em tự giác,
thích thú thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của giáo viên. Tôi lập kế hoạch thật chi tiết
cụ thể, chọn phương pháp phù hợp cho từng hoạt động, từng loại bài, từng đối tượng
học sinh. Có những bài, tôi sắp xếp lại cho phù hợp với trình độ tâm sinh lý của học
sinh. Đảm bảo kiến thức theo hệ thống từ thấp đến cao, từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng.
b)Phương pháp dạy từng dạng bài:
Phân môn Luyện từ và câu chủ yếu là cho học sinh thực hành, luyện tập nhiều
để hình thành kĩ năng sử dụng từ và câu. Bài tập Luyện từ và câu được xây dựng
thông qua hệ thống bài tập sắp xếp hợp lí. Chính vì vậy, nhiệm vụ quan trọng của giáo
viên trong giờ học này là hướng dẫn học sinh làm bài tập sao cho phát huy cao độ tính
tích cực, sáng tạo của các em; cung cấp một số tri thức sơ giản về từ, câu và dấu câu.
Quy trình chung tôi thường hướng dẫn học sinh làm bài tập theo các bước sau:
- Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập ( bằng câu hỏi, lời giải thích hoặc
tranh, ảnh…)
- Hướng dẫn học sinh làm một phần của bài tập làm mẫu ( Tôi trực tiếp làm mẫu
hoặc hướng dẫn 1 học sinh chữa mẫu trên lớp; cũng có thể với gợi ý của tôi, cả lớp tự
làm thử một phần của bài tập rồi cùng chữa bài làm mẫu)
- Tôi tổ chức cho học sinh làm các bài tập còn lại (theo cá nhân, nhóm…)
- Tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét về kết quả, rút ra những điểm ghi nhớ về
tri thức ( tôi hướng dẫn học sinh nhận xét kết quả làm bài của bạn, tự đánh giá kết quả

mẫu câu với những bộ phận được diễn đạt dưới dạng câu hỏi như: “Ai làm gì? Ai thế
nào? Ai là gì?” Mặt khác, thành phần phụ trạng ngữ cũng được giới thiệu theo cách
tương tự với những từ hỏi cụ thể như: “ Ở đâu? Khi nào? Làm gì? Do vậy khi tiến
hành các biện pháp dạy học các bài tập sử dụng dấu phẩy, tôi sử dụng thích hợp các
tên gọi và đặc điểm của thành phần câu hay từ loại như vừa nêu.
Sau đây, tôi xin trình bày một số biện pháp tổ chức cho học sinh thực hiện các
bài tập sử dụng dấu trong câu:
* Cách 1: Giáo viên đặt những câu hỏi phù hợp để giúp học sinh phát hiện ra
chỗ cần đặt dấu câu theo yêu cầu.
Ví dụ: Có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong mỗi câu sau?
a) Lớp em học tập tốt lao động tốt.
b) Cô giáo chúng em rất yêu thương quý mến học sinh.
c) Chúng em luôn kính trọng biết ơn thầy giáo cô giáo.
- Để giúp học sinh nhận diện được những cụm từ/ từ cấn phân cách bằng dấu
phẩy, giáo viên đặt câu hỏi: “ Lớp em làm gì?” (cho câu a), “Cô giáo chúng em như
thế nào?” (cho câu b), “ Chúng em như thế nào đối với thầy cô?” (cho câu c). Một câu
hỏi được hỏi nhiều lần; số lần hỏi phù hợp với số lượng yếu tổ cần phân cách dấu
phẩy. Với câu a sau khi học sinh đã trả lời được “học tập tốt lao động tốt” thì giáo viên
nhanh tay ghi riêng bộ phận đó lên bảng rồi hướng dẫn tiếp.Theo các em, ta nên đặt
dấu phẩy vào chỗ nào trong bộ phận này?, Học sinh lần lượt nêu ý kiến. Tôi tổng hợp
lại và sử dụng một bìa cứng nhỏ có viết sẵn dấu phẩy ( viết bằng mực đỏ) cùng học
sinh thử nghiệm lại bằng cách đặt dấu phẩy lần lượt vào sau những bộ phận “học”,
“học tốt”, “ học tập tốt”, “học tập tốt lao động”, …rồi hỏi các em cảm thấy thế nào khi
đặt dấu phẩy vào sau những bộ phận ấy.Học sinh nêu ý kiến, giáo viên chốt lại; Chúng
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 12
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

ta sẽ đặt dấu phẩy sau cụm từ “Học tập tốt” bởi vì “ học tập tốt” và “lao động tốt” là 2
hoạt động của lớp em nên đặt dấu phẩy để ngăm cách 2 hoạt động nêu trên,
- Tiến hành tương tự với câu (b) và (c).

hỏi.
Câu c có phần trạng ngữ chỉ nguyên nhân khá phức tạp, (ở lớp 3 các em tìm bộ
phận trả lời cho câu hỏi vì sao?) với 3 cụm từ chỉ đặc điểm đi liền nhau (Tại thiếu
kinh nghiệm, nôn nóng và coi thường đối thủ Quắm đen đã bị thua.). Vì vậy, cần có
mô hình hỗ trợ khác để giúp các em tìm ra chỗ cần phân cách bằng dấu phẩy. Cách
tiến hành:
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 13
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

- Giáo viên đưa ra sơ đồ: Vì sao? Ai……………thế nào?
- Sau khi học sinh phân cách các phần của câu theo mô hình trên, tôi đưa ra mô
hình phụ “Vì mấy điều?” để học sinh dựa vào đó nhận ra chỗ cần dùng dấu phẩy.
- Học sinh phân cách theo sơ đồ xong, tôi hướng dẫn học sinh đặt dấu phẩy
bằng cách đặt câu hỏi “ Như vậy, ta có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong câu
c?”.
* Ở đây, lưu ý học sinh cụm từ đi trước nó là từ “và” thì không cần phân cách
bằng dấu phẩy.
Câu d có cấu trúc tương tự câu c với phần trạng ngữ cũng gồm 3 cụm từ chỉ
đặc điểm đi liền nhau và cụm cuối cùng đi trước nó là từ “và”. Do vậy, tôi đề nghị học
sinh vận dụng cách làm ở câu c để tìm ra chỗ cần dùng dấu phẩy trong câu d.
* Cách 3:Tổ chức cho học sinh đặt câu hỏi cho nhóm nhỏ để tự phát hiện ra
các chỗ cần đặt dấu trong câu.
- Tôi đưa ra một số câu hỏi trong bảng phụ, yêu cầu học sinh chọn câu hỏi
thích hợp cho từng câu trong bài.
- Học sinh hỏi và trả lời theo nhóm.
- Dựa vào câu trả lời xác định chỗ cần đặt dấu câu mà bài tập yêu cầu.
*Cách 4: Khai thác kinh nghiệm của học sinh.
Cho học sinh đọc lớn trong nhóm hay cặp, đến chỗ nào các em dừng thì gạch
xổ (/) phân cách, sau đó trao đổi sửa chữa với cả lớp và xác định lại chỗ đặt dấu câu
theo yêu cầu. Với biện pháp này, tôi khai thác vốn hiểu biết đối với Tiếng Việt của các

bố?
- Đúng đấy  con ạ? – Bố Tuấn đáp.
- Thế ban đêm không có mặt trời thì sao?
(TV3/tập 2/ trang 135).
Để giúp học sinh thực hiện dạng bài này một cách tích cực, tôi sử dụng một
trong các biện pháp như đã áp dụng trong kiểu bài yêu cầu điền một loại dấu trong
câu.
 Dạng bài tập nhận diện về biện pháp tu từ nhân hóa:
Với loại bài tập này rèn luyện cho học sinh phát hiện biện pháp nhân hóa có trong
bài văn, đoạn văn, nhằm cung cấp cho các em hiểu biết thế nào là nhân hóa, bài văn có
sử dụng biện pháp nhân hóa hay như thế nào? Từ đó, giúp cho học sinh có ý thức sử
dụng biện pháp nhân hóa vào hoạt động đặt câu, viết văn và trong hoạt động giao tiếp.
Để giúp học sinh học tốt dạng bài tập này, tôi hướng dẫn học sinh thực hiện theo biện
pháp sau đây:
Ví dụ: Bài tập 2 (TV3/tập2 /trang 27).
Cho bài thơ: Ông trời bật lửa.
Chị mây vừa kéo đến.
Trăng sao trốn cả rồi
Đất nóng lòng chờ đợi
Xuống đi nào, mưa ơi!
Mưa! mưa xuống thật rồi !
Đất hả hê uống nước.
Ông sấm vỗ tay cười .
Làm bé chợt tỉnh giấc.
Chớp bỗng lòe chói mắt.
Soi sáng khắp ruộng vườn.
Ơ! Ông trời bật lửa.
Xem lúa vừa trổ bông.
(Đỗ Thanh Xuân).
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 15

……………… ……………………………… ……………………………
b)Trong câu: “ Xuống đi nào, mưa ơi” tác giả nói với mưa thân mật
như………………
* Cách 2: Bài tập nối ghép.
Chẳng hạn: Hãy nói các ô ở bên trái với các ô ở giữa, các ô ở bên phải sao cho
phù hợp để trả lời cho câu hỏi a,b.
Từ chỉ người
dùng để chỉ
sự vật
Các
sự vật
được nhân hóa
Những từ ngữ
miêu tả các sự vật
Ông mây đi trốn
trăng nóng lòng chờ đợi,
hả hê uống nước
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 16
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

sấm bật lửa
Chị
mặt trời soi sáng ruộng vườn
chớp kéo đến
đất vỗ tay cười
Hãy đánh dấu x trước ý kiến em cho là phù hợp nhất để trả lời cho câu hỏi c.
Trong câu: “ Xuống đi nào, mưa ơi!” tác giả nói với mưa thân mật như:
 Một người anh, người chị với một người em.
 Một người cha, một người mẹ với một người con.
 Một người bạn với một người bạn.

Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 17
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

Ở bài tập này học sinh dễ nhầm lẫn giữa các từ trong 3 nhóm vì vốn từ của các
em về chủ đề rất hạn chế, mặt khác đây là một dạng bài tập khó. Vậy để tránh sự nhầm
lẫn về 3 nhóm từ trên và giúp các em có vốn từ rộng về chủ đề này, tôi tiến hành dạy
bài tập này như sau:
* Chuẩn bị:
- Sưu tầm một số bức ảnh về những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật
như: Diễn viên, ca sĩ, nhạc sĩ, người mẫu…
- Các thẻ từ bằng giấy bìa ghi những từ chỉ: người hoạt động nghệ thuật, các
hoạt động nghệ thuật, môn nghệ thuật.
- Kẻ sẵn vào bảng phụ 3 cột (có mẫu như sau).
……………………….…
……………………….…
………………………….
………………………….
………………………….
………………………….
………………………….
……………………….…
……………………….…
………………………….
………………………….
………………………….
………………………….
………………………….
……………………….…
……………………….…
………………………….

mẩu truyện thiếu nhi, tiểu thuyết…mà mọi người yêu thích.
Tôi chốt lại: các từ mà chúng ta tìm được ở cột này gọi chung là những người
hoạt động nghệ thuật, tôi viết cụm từ “Những người hoạt động nghệ thuật vào ô chấm
đầu tiên lúc này trong bảng sẽ có:
Chỉ những người hoạt
động nghệ thuật
Diễn viên
Ca sĩ
Nhạc sĩ
Người mẫu
Họa sĩ
Nhà thơ
Nhà văn
b, Dùng hình thức thảo luận nhóm để rút ra các từ thuộc nhóm 2: từ chỉ các
hoạt động nghệ thuật.
* Các bước tiến hành:
- Chia lớp thành nhóm nhỏ.
- Phát phiếu học tập có nội dung như sau:
Hãy viết vào chỗ chấm những công việc thường ngày của những người hoạt
động nghệ thuật sau:
+ Diễn viên: đóng phim,…………………………………………………
+ Ca sĩ:…………………………………………………………………….
+ Nhạc sĩ:………………………………………………………………….
+ Người mẫu:……………………………………………………………
+ Họa sĩ:…………………………………………………………………
+ Nhà thơ………………………………………………………………….
+ Nhà văn…………………………………………………………………
- Giao nhiệm vụ quy định thời gian thảo luận (4 phút)
- Hết thời gian thảo luận, đại diện các nhóm báo cáo, các nhóm khác nhận xét
bổ sung. Sau ý kiến của các nhóm, tôi cùng học sinh thống nhất đáp án đúng để rút ra

sáng tác nhạc
biểu diễn thời trang
vẽ
viết văn
viết thơ
c) Hướng dẫn học sinh dựa vào 2 nhóm từ trên để tìm ra những từ ngữ thuộc
nhóm nghệ thuật.
Ví dụ: Môn Âm nhạc.
Giáo viên làm mẫu: người nhạc sĩ, ca sĩ hoạt động chính của họ sáng tác nhạc
và ca hát thuộc môn âm nhạc.
- Tôi đính từ âm nhạc lên bảng phụ.
- Tương tự với các từ chỉ môn Nghệ thuật khác, học sinh thảo luận theo nhóm
đôi để tìm và ghi vào phiếu học tập.
- Hết thời gian quy định, đại diện một số nhóm trình bày kết quả. Cả lớp nhận
xét bổ sung, thống nhất.
- Tôi đính lần lượt các từ chỉ môn Nghệ thuật vào bảng phụ tương ứng với
những từ ở hai cột đầu.
Qua các ví dụ về cách sử dụng phương pháp và các hình thức tổ chức dạy – học
của các dạng bài tôi đã nêu, cho thấy rằng:
+ Cách tổ chức hoạt động cá nhân trong tiết học, đã phát huy được tính độc lập,
sáng tạo hình thành cho các em thói quen tự học, tự bổ sung kiến thức gíup các em thu
nhận kiến thức kĩ năng một cách sâu sắc.
+ Theo tôi hoạt động nhóm là một hoạt động phát huiy tính tích cực học tập của
học sinh, cụ thể: đem lại cho học sinh cơ hội được sử dụng các kiến thức và kĩ năng
vốn có mà các em được lĩnh hội và rèn luyện. Cho phép các em được diễn đạt những
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 20
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

ý tưởng, những khám phá của mình, được chia sẻ cùng bạn. Mở rộng suy nghĩ và thực
hành các kĩ năng tư duy phân tích tổng hợp.

A chẳng bằng B.
A x B; x triệt tiêu (Từ chỉ quan hệ so sánh triệt tiêu).
* Ví dụ: Tìm sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn dưới đây:
"Hai bàn tay em
Như hoa đầu cành"
(Huy Cận)
"Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch"
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 21
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

(Vũ Tú Nam)
"Cánh diều như dấu á
Ai vừa tung lên trời"
(Lương Vĩnh Phúc)
"Ơ cái dấu hỏi
Trông ngộ ngộ ghê
Như vành tai nhỏ
Hỏi rồi lắng nghe"
(Phạm Như Hà)
Để làm tốt bài tập này học sinh phải nắm chắc các từ chỉ sự vật, từ đó học sinh sẽ
tìm được sự vật so sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn trên là:
+ "Hai bàn tay em" so sánh với "hoa đầu cành"
+ "Mặt biển" so sánh với "tấm thảm khổng lồ".
+ "Cánh diều" so sánh với "dấu á"
+ "Dấu hỏi" so sánh với "vành tai nhỏ".
Nếu giáo viên hỏi ngược lại là vì sao "Hai bàn tay em" được so sánh với "Hoa
đầu cành" hay vì sao nói "Mặt biển" như "tấm thảm khổng lồ"? Lúc đó giáo viên phải
hướng học sinh tìm xem các sự vật so sánh này đều có điểm nào giống nhau, chẳng
hạn:
+ Hai bàn tay của bé nhỏ xinh như một bông hoa.

* Ví dụ: Trong các đoạn trích sau, những hoạt động nào được so sánh với nhau:
+ "Con trâu đen lông mượt
Cái sừng nó vênh vênh
Nó cao lớn lênh khênh
Chân đi như đập đất"
(Trần Đăng Khoa)
+ "Cau cao, cao mãi
Tàu vươn giữa trời
Như tay ai vẫy
Hứng làn mưa rơi"
(Ngô Viết Dinh)
Dạng bài này giáo viên giúp học sinh nắm chắc được từ chỉ hoạt động, từ đó học
sinh sẽ tìm được các hoạt động được so sánh với nhau. Chẳng hạn:
+ Hoạt động "đi" so sánh với hoạt động "đập đất" qua từ "như".
d) Mô hình 4:
- So sánh: Âm thanh - Âm thanh:
Mô hình này có dạng sau:
A như B: + A là âm thanh thứ 1.
+ B là âm thanh thứ 2.
* Ví dụ: Tìm những âm thanh được so sánh với nhau trong mỗi câu thơ văn dưới đây:
Với dạng bài tập này giáo viên giúp học sinh nhận biết được âm thanh thứ nhất và
âm thanh thứ hai được so sánh với nhau qua từ "như". Chẳng hạn:
+ "Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai"
(Nguyễn Trãi)
"Tiếng suối" được so sánh với "Tiếng đàn cầm" qua từ "như".
Ngoài các mô hình so sánh trên học sinh còn được làm quen với kiểu so sánh:
Ngang bằng và hơn kém. Chẳng hạn:
+ Trong câu: "Cháu khỏe hơn ông nhiều!"
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 23

( Phần chuẩn bị để thực hiện giải các ô chữ giống nhau)
Dựa vào từ hàng dọc trong ô chữ hãy tìm các từ hàng ngang, mỗi hàng ngang là
là từ chỉ đức tính tốt của trẻ em.
Gợi ý: Các từ ở hàng ngang số 1, 4, 6 được ghi trong " 5 điều Bác Hồ dạy". Nếu
HS gặp khó khăn khi giải ô chữ, GV có thể gợi ý bằng chữ cái.
1 M
2 Ă
3 N
4 G
5 N
Trường Tiểu học Đạo Thạnh A Trang 24
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh lớp ba học tốt phân môn Luyện từ và câu

6 O
7 N
Đáp án: Các từ hàng ngang lần lượt là: khiêm tốn, chăm chỉ, siêng năng, dũng
cảm, ngoan ngoãn, đoàn kết, cần cù.
CHỦ ĐIỂM CỘNG ĐỒNG
Ô chữ: CỘNG ĐỒNG
MỤC ĐÍCH:
- Rèn kĩ năng đoán nhanh từ khi biết nghĩa;
- Củng cố nghĩa từ và mở rộng vốn từ ngữ cho HS đồng thời rèn trí thông minh
và khả năng phản ứng nhanh.
Hãy tìm từ hàng dọc trong ô chữ với những gợi ý về các từ hàng ngang theo thứ
tự. Các từ hàng ngang là những từ có tiếng cộng hoặc tiếng đồng có nghĩa chung là
những người trong cộng đồng.
1. Những người cùng chí hướng
2. Những người cùng làm một việc
3. Những người cùng tuổi
4. Những người cùng học một khoá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status