MỤC LỤC
Nội dung
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận
2.2. Thực trạng.
2.2.1. Thuận lợi
2.2.2. Khó khăn
2.2.3. Chất lượng khảo sát trước khi áp dụng đề tài
2.3. Một số biện pháp và tổ chức thực hiện
2.3.1. Biện pháp 1: Luyện nói chuẩn tiếng phổ thông
2.3.2. Biện pháp 2: Ôn luyện các quy tắc viết chính tả tiếng Việt
2.3.3. Biện pháp 3: Cung cấp một số mẹo luật viết chính tả
2.3.4. Biện pháp 4: Làm bài tập để luyện viết chính tả
2.3.5. Biện pháp 5: Tổ chức luyện viết chính tả
2.3.6. Biện pháp 6: Kiểm tra việc luyện viết chính tả
2.3.7. Biện pháp 7: Lập sổ tay chính tả
2.4. Hiệu quả
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị và đề xuất
Trang
1
1
1
1
phổ biến trong các nhà trường nói chung và Trường THCS Hoằng Long nói
riêng. Việc viết không đúng chính tả không chỉ diễn ra ở những đối tượng học
sinh trung bình hay yếu, kém mà ngay cả đối tượng học sinh khá giỏi. Điều đó
sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập của bản thân các em cũng như
thành tích chung của lớp và nhà trường, bởi việc viết sai chính tả rất dễ dẫn đến
hiện tượng kiến thức trong vở ghi không rõ ràng, hoặc sai, khi về nhà ôn bài các
em sẽ khó hiểu hoặc hiểu sai kiến thức; sai lỗi chính tả trong các bài kiểm tra,
bài thi sẽ còn bị trừ điểm bài làm, dẫn đến kết quả học tập sẽ không cao, nhất là
môn Ngữ văn.
Như vậy, dù ở góc độ nào, việc các em viết sai lỗi chính tả sẽ ảnh hưởng
đến thành tích của cá nhân và tập thể. Nhưng quan trọng hơn nữa, nó sẽ làm
giảm đi sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, làm giảm đi hiệu qủa giao tiếp
của cộng đồng.
Vấn đề trên đã đặt ra cho mỗi giáo viên THCS, nhất là với giáo viên Ngữ
văn, ngoài việc cung cấp cho học sinh kiến thức về bộ môn, rèn các kĩ năng tạo
lập văn bản còn phải luyện cho các em viết đúng chính tả.
Bản thân vừa làm công tác quản lý vừa tham gia giảng dạy, sau nhiều năm
nghiên cứu, thực hiện, tôi đã tích lũy được một số biện pháp giúp học sinh lớp 6
khắc phục lỗi chính tả và đạt được những kết quả khả quan. Đó cũng là lý do tôi
chọn đề tài: “Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 6A
Trường THCS Hoằng Long” để nghiên cứu và áp dụng.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nâng cao chất lượng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 6A trường THCS
Hoằng Long.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 6A ở trường
THCS Hoằng Long.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
năng, thể chất, ý thức cộng đồng và tuân thủ pháp luật, viết chuẩn, nói chuẩn
tiếng phổ thông…”
3
Để nói chuẩn, viết chuẩn tiếng phổ thông thì việc rèn luyện các kỹ năng:
nghe, nói, đọc, viết là rất quan trọng. Rèn nét chữ cho HS không chỉ là công việc
ngày một ngày hai, cũng không phải một thầy cô giáo dạy môn Ngữ văn rèn
luyện là có thể thành công đối với các em. Mà đó là một quá trình nỗ lực tự bản
thân học sinh cố gắng rèn luyện, có người hướng dẫn là các giáo viên dạy môn
Ngữ văn, sự giám sát nhắc nhở của các thầy cô giáo bộ môn cùng phối hợp với
phụ huynh của học sinh mới tạo nên sự thành công ấy. Tục ngữ xưa đã nói: “Nét
chữ nết người”, công việc rèn nét chữ cho các em không phải kết quả thu được
là vở sạch chữ đẹp mà còn rèn luyện đức tính kiên trì, nhẫn nại, không bỏ cuộc
giữa chừng cho các em. Đó là đức tính mà mỗi con người muốn thành công
không thể không có.
Hơn thế nữa, một học sinh khi ra đời, làm bất cứ một công việc gì cũng
cần đến công việc viết lách. Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, khi công nghệ
thông tin phát triển không ngừng các em có thể nói rằng chữ xấu thì có thể đánh
máy, song không thể viết đúng nếu như các em không hiểu luật, và các quy tắc
chính tả. Bởi vậy, tôi mạnh dạn đi sâu vào vấn đề có thể xem là vấn nạn không
chỉ ở học đường mà của toàn xã hội khi các biển quảng cáo, các bản tin, các
phương tiện thông tin đại chúng ngày càng sai nhiều lỗi chính tả một cách ngớ
ngẩn.
2.2. Thực trạng
Năm học 2016- 2017, khối 6 Trường THCS Hoằng Long có tổng số 47
học sinh được biên chế thành 02 lớp, lớp 6A có 24 học sinh, trong đó có 13
nam, 11 nữ.
2.2.1 Thuận lợi
hồn nhin, quang cảnh -> qoang cảnh, nhiệt huyết -> nhiệt huýt, canh hến, rau
dền -> canh hếnh, rau dềnh
- Viết sai thanh điệu, phổ biến nhất là lẫn lộn giữa thanh hỏi và thanh ngã:
Ví dụ: như: sạch sẽ -> sạch sẻ, nỗi buồn -> nổi buồn, bãi biển -> bải biển,
giữ gìn -> giử gìn, nghỉ bão-> nghĩ bảo…
- Không viết hoa theo quy định như: không viết hoa chữ cái đứng đầu các
câu, không viết hoa tên người, tên các tổ chức, các địa danh, tên tác phẩm, hoặc
có thể viết hoa tùy tiện.
Ví dụ: Em Sơn lớp 6A viết nhãn vở: trường trung học cơ sở hoằng long
(Trường Trung học cơ sở Hoằng Long).
Kết quả khảo sát cụ thể:
STT
Các lỗi thường gặp
Số lượng
Tỉ lệ
Viết sai phụ âm đầu
10/24
41.6
2
Viết sai phần vần (âm chính, âm cuối)
12/24
Có nhiều nguyên nhân để dẫn đến tình trạng các em viết sai lỗi chính tả
nhiều như đã nói ở trên, cụ thể như sau:
- Do ở bậc THCS các em thay đổi phương pháp học, các em không được
cô giáo ghi hết các đơn vị kiến thức lên bảng hoặc đọc bài cho chép. Chủ yếu là
các em vừa nghe cô giáo giảng bài vừa ghi mà lượng kiến thức nhiều các em
phải ghi nhanh mới kịp nên rất dễ viết sai.
- Do các em phát âm chưa chuẩn- phát âm tiếng địa phương, nên khi viết
dẫn đến sai chính tả.
- Do các em chưa nắm vững quy tắc viết chính tả tiếng Việt (quy tắc viết
hoa, quy tắc viết các con chữ và liên kết chúng, cách đánh dấu thanh…) đã được
học ở lớp dưới.
- Do một bộ phận học sinh viết ẩu, viết nhanh cho xong để làm việc riêng
cũng dẫn đến viết sai chính tả.
Như vậy có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên thế nhưng thời
lượng chương trình dành cho việc luyện viết đúng của các em trong chương
trình Ngữ văn THCS rất ít: ngoài 4 bài tập chính tả xen vào các bài học ở sách
Ngữ văn 6, và mấy tiết chữa lỗi dùng từ, diễn đạt ở các khối lớp 6,7,8 nên thời
gian luyện viết chính tả cho các em rất hạn chế.
2.3. Một số biện pháp và tổ chức thực hiện
Ở trên lớp thông thường giáo viên dừng việc chữa lỗi chính tả cho học
sinh thông qua việc kiểm tra vở của các em ở mỗi tiết học (mỗi tiết được 1- 2
em, khoảng một hai bài trong vở của các em). Giáo viên còn chú ý tranh thủ thời
gian đọc bài ở mỗi phần bài học để luyện cho các em phát âm chuẩn tiếng Việt:
Mỗi khi có học sinh đọc sai (lẫn lộn phụ âm đầu, lẫn lộn các thanh) giáo viên
yêu cầu học sinh dừng lại và hướng dẫn các em đọc lại cho đúng, bởi các em có
đọc đúng thì mới viết đúng được, và khi chấm bài kiểm tra của các em thì ngoài
việc chữa lỗi về kiến thức, lỗi diễn đạt (dùng từ, đặt câu) thì lỗi chính tả của các
em đều được giáo viên chú trọng: những từ các em viết sai được giáo viên gạch
chân bên dưới rồi viết lại lên trên để các em nhận biết, rút kinh nghiệm. Ngoài
ra, giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện luyện viết chữ đẹp vào bộ vở luyện
Tàu xe đi lại thong dong
Người người tập nập gánh gồng ngược xuôi…”
Ngoài ra học sinh còn được các cô giáo chủ nhiệm lớp triển khai chuyên
đề “ Nói chuẩn, viết chuẩn tiếng phổ thông” đã góp một phần không nhỏ trong
việc nâng cao chất lượng nói chuẩn tiếng phổ thông .
7
Triển khai chuyên đề “ Nói chuẩn, viết chuẩn tiếng phổ thông”
Lớp 6A - GVCN- Cô: Trần Thị Hòa
2.3.2. Biện pháp 2: Ôn luyện các quy tắc viết chính tả của tiếng Việt
Việc tổ chức cho các em ôn luyện lại các quy tắc viết chính tả của tiếng
Việt để viết đúng.Tôi đã cố gắng bố trí dành khoảng 10 phút cuối của các giờ trả
bài kiểm tra hoặc cuối các buổi ôn tập do nhà trường tổ chức để hướng dẫn lại
cho các em quy tắc viết chính tả của tiếng Việt, ví dụ như:
* Dựa vào quy tắc ngữ âm để viết đúng các chữ: k / c / q , ng /ngh, g/ gh
đứng trước:
Đứng trước các nguyên âm: i, iê, e, ê, viết k, gh, ngh. Ví dụ: ghi, ghé, kẻ,
kê, nghiền….
- Đứng trước các nguyên âm: a, ă, u, ư, o, uô, ươ viết c, g , ng. Ví dụ: ca,
căn, cước, gà, gò, guốc, ngà, nguôi, người…
- Đứng trước nguyên âm: u, uơ viết q. Ví dụ: quá, quở …
- N không đứng trước các âm đệm oa, oă, uâ, uy, ây. L đứng trước các âm
đệm trên.
- X kết hợp các vần bắt đầu bằng oa, oă, oe, uê. S không kết hợp với các
vần trên.
- Tr không thể đứng trước chữ có vần bắt đầu bằng oa, oe, uê và đi với
dấu nặng, dấu huyền. Ch đứng trước các vần như trên.
- D có thể đứng trước các vần bắt đầu bằng oa, oă, uâ, oe, uê, uy và đi đôi
- So sánh với từ gần âm, gần nghĩa, trái nghĩa để nhớ cách viết đúng
chính tả, ví dụ: can / gan, san sát / ran rát, lấc cấc/ xấc láo …
- Dùng” i” thay cho” y”ở cuối các âm tiết mở. Ví dụ; hi sinh, hi vọng,
biệt li…Trừ trong các âm tiết “ uy ’’ và các trường hợp sau “ qu ’’ hoặc “y” đứng
một mình hoặc đứng đầu âm tiết. Ví dụ: ý nghĩa, ý chí, yêu mến, huy động, quy
tắc, quý trọng…. Tuy nhiên, một số từ có “ i ” làm thành tố vẫn viết theo thói
quen như : ỉ eo, ầm ĩ; hoặc “ i ” đứng đầu một số âm tiết như: in, im lặng,
ít ỏi, ỉu xìu…
*Hướng dẫn các em nắm lại quy tắc viết hoa trong tiếng Việt để các em
viết đúng chính tả .Cụ thể như sau:
+ Trường hợp thứ nhất: Viết hoa chữ cái đầu các tiếng và không dùng
gạch nối.
9
Bao gồm như sau:
- Tên riêng của người Việt Nam (đọc theo âm Hán-Việt) bao gồm tên thật,
tên tự, tên hiệu…, cả trường hợp một số tên người Việt Nam được cấu tạo kết hợp
bởi một danh từ chung với danh từ riêng dùng để gọi như: Ông Gióng, cụ Đồ
Chiểu, Tú Xương…Tên riêng của người Trung Quốc, ví dụ: Mao Trạch Đông…
- Tên các địa danh Việt Nam và tên địa lý đọc theo âm Hán-Việt.
- Tên địa lí thế giới phiên âm gián tiếp qua tiếng Hán và đọc theo âm HánViệt. Ví dụ: Ai Cập, Đan Mạch, Tây Ban Nha…
- Tên các năm âm lịch. Ví dụ: Kỉ Tỵ, Đinh Mão…
+ Trường hợp thứ hai: Viết hoa chữ cái đầu của tiếng thứ nhất và không
dùng gạch nối. Bao gồm như sau:
- Tên các ngày tiết và ngày tết. Ví dụ: tiết Lập xuân, Đại hàn, tết Trung
thu, tết Nguyên đán…
- Tên các thời kì, phong trào, sự kiện lịch sử. Ví dụ: thời kì Phục hưng,
phong trào Cần vương…
- Tên các huân chương ,huy chương, danh hiệu vinh dự…. Ví dụ: Kỉ niệm
Hán-Việt:
+ Sử dụng dấu ngã khi có phụ âm đầu là: d (dũng, dữ, dưỡng...) , l (lãm,
lãnh, lĩnh, lễ, liễu, lỗi...) , m (mẫu, mã, mẫn, mỹ, miễn...), n, nh, ng, ngh (não,
ngã, ngãi, ngũ, nghĩa, nghĩ, nghiễm...), v (vãng, vỹ, võ, vũ, võng...).
+ Sử dụng dấu hỏi khi có phụ âm đầu là: ch (chuẩn, chỉnh, chuyển,
chưởng...), gi (giải, giả, giảng, giản...), kh (khải, khả, khởi, khuẩn, khẩn, khổ,
khuyển...), và các từ Hán- Việt không có phụ âm đầu như: ải, ảm, ảnh, ảo, ẩm,
ấn, ẩu, ổn, uẩn, ủng, uổng, uỷ, uyển, ỷ, yểm, yểu.
- Ghi nhớ những từ ngữ thường dễ mắc lỗi chính tả thông qua thơ và
những đoạn văn để dễ ghi nhớ. Ví dụ :
+ Từ “tấc” (10 cm) chỉ có một trường hợp và phụ âm cuối là “c”, đọc là “xê”:
Thước xê (c) thì tấc cũng xê
Tấc xê có một, tấc xê tới mười
+ Từ “chặt” phụ âm cuối là “t”, đọc là “tê”:
Chặt là tê, tê mà thôi
Ai mà viết trật là tôi đánh đòn
+ Từ “phác” phụ âm cuối là “c”, đọc là “xê”:
Cô C (xê) chất phác hiền lành
Óc luôn phác họa chương trình làm ăn
+ Từ “băn khoăn” và “bâng khuâng”:
Băn khoăn ăn nói ngại ngùng
Bâng khuâng vâng dạ mà lòng quạnh hiu
+ Cách nhớ các tiếng có phụ âm cuối là “c” và “t” thông qua những câu
bình thường như:
. Lác đác đó đây: người mắt lác, kẻ bệnh lác, ngồi chiếu lác.
. Nghe mùi thơm nức mà nghe nức nở trong lòng.
. Tà áo là lượt, đi lượt thượt, qua nhà ba lượt.
+ Cách nhớ các tiếng có phụ âm đầu là “gi” và “d” thông qua đoạn văn:
11
thường mắc những lỗi chính tả nào sau đây. Điền dấu (X) vào ô trống để trả lời.
A. Viết tr = ch và ngược lại
B. Viết x = s và ngược lại
C.
Viết v = d (vui vẻ + dui dẻ)
D.
Viết r = d = gi và ngược lại
E.
Viết n = l và ngược lại
F.
Viết lẫn lộn dấu hỏi và dấu ngã
G. Viết âm i = iê; uô = u (trái tim=trái tiêm; nuốt=nút)
H. Ươt = ươc (xanh mướt=xanh mước)
12
+ Dạng bài tập thứ năm: đặt câu với các từ cho trước:
Ví dụ: đặt câu với mỗi từ sau: giành, dành, man mát, man mác…
+ Dạng bài tập thứ sáu: chép lại đoạn thơ (bài thơ) hoặc đoạn văn trong
các văn bản đã học.
Hàng tuần, tôi có thể giao cho các em từ 1-3 bài tập để các em làm và
tôi thu chấm, chữa cho các em, có thể thu xác xuất, cũng có thể cả lớp. Hình
thức này đòi hỏi các em phải thường xuyên luyện viết nên tăng cường được ý
thức luyện tập của học sinh.
2.3.5. Biện pháp 5: Tổ chức cho học sinh luyện viết đúng chính tả
* Tổ chức cho học sinh luyện viết đúng chính tả theo nhóm:
Ngay từ đầu năm học tôi đã phân loại đối tượng học sinh trong lớp thành
các nhóm để thông báo tới các bậc phụ huynh, các giáo viên bộ môn cùng kết
hợp theo dõi, nhắc nhở, kiểm tra việc luyện viết cũng như kết quả luyện tập của
các em hàng tháng, hàng kì và có động viên khen thưởng kịp thời đối với nhóm
vào bảng phụ, yêu cầu học sinh của 01 bàn hoặc nhóm nào đó làm bài vào giấy
trong thời gian 5- 7 phút.
Ví dụ: Câu hỏi kiểm tra việc học bài“ Đêm nay Bác không ngủ” của Minh
Huệ (SGK Ngữ văn 6 tập 2) như sau:
? Hãy chép theo trí nhớ khổ 3, khổ 4 bài thơ“ Đêm nay Bác không ngủ”
của Minh Huệ.
Hoặc: Nêu giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ“ Đêm nay Bác
không ngủ” của Minh Huệ.
Hình thức 2: Kiểm tra nhiều nội dung trong cùng một bài theo từng bàn,
từng nhóm:
Ở hình thức này giáo viên phải chuẩn bị nhiều câu hỏi trong cùng một bài
học, cũng đưa ra các câu hỏi kiểm tra bài cũ đã chuẩn bị vào bảng phụ (hoặc phô
tô vào giấy phát cho các em ) và yêu cầu học sinh của từng bàn hoặc nhóm nào
đó làm câu nào cụ thể.
Ví dụ : Giáo viên cho câu hỏi kiểm tra việc học bài “Lượm” của Tố Hữu
(SGK Ngữ văn 6 tập 2) như sau :
Câu 1: Hãy chép lại khổ đầu bài thơ bài “Lượm” và cho biết tác giả đã sử
dụng biện pháp tu từ gì trong khổ thơ trên? Tác dụng của biện pháp tu từ đó?
Câu 2: Hình ảnh chú bé Lượm được thể hiện ở khổ thơ nào? Hãy chép lại
khổ thơ đó và nêu cảm nghĩ của em về hình ảnh đó ?
Câu 3: Em cảm nhận được gì về nội dung và nghệ thuật của bài thơ “Lượm”?
Yêu cầu : Bàn 1 làm câu 1
Bàn 2 làm câu 2
Bàn 3 làm câu 3
lần lượt cho đến hết dãy bàn học hoặc có thể chọn sole các dãy bàn bất kì ở 2
dãy cho các em làm, hay:
Nhóm 1 làm câu 1
Nhóm 2 làm câu 2
Nhóm 3 làm câu 3
3/24
12.5
2
Viết sai phần vần (âm chính, âm cuối)
4/24
16.6
3
Viết lẫn lộn giữa thanh hỏi và thanh ngã
5/24
20.8
4
Viết hoa sai quy tắc
2/24
8.3
Ghi chú
Vì vậy, không phải giờ học nào, buổi học nào cũng có thể áp dụng được
các hình thức luyện viết này mà theo tôi cần vận dụng linh hoạt các hình thức
trên vào thời gian trên lớp cũng như ở nhà. Ví dụ: Ở lớp 6 mỗi tuần có 4 tiết
Ngữ văn thì có thể kết hợp kiểm tra bài cũ và luyện viết vào giấy (trong thời
gian 5 -7 phút) trong hai tiết học, còn lại các hình thức luyện viết khác thì tranh
thủ thời gian của các buổi ôn tập do trường tổ chức để hướng dẫn và kiểm tra
việc thực hiện của học sinh.
3.1.2. Khả năng áp dụng đề tài
Với đề tài sáng kiến kinh nghiệm này có thể áp dụng cho tất cả học sinh
cấp trung học cơ sở từ lớp 6 đến lớp 9.
- Giáo viên lớp đầu cấp (lớp 6) nên áp dụng nội dung đề tài này vào hoạt
động dạy học xuyên suốt cả năm học sẽ thu được những kết quả khả quan trong
việc giúp học sinh khắc phục lỗi chính tả.
- Giáo viên các khối lớp khác (lớp 7,8,9) nếu thực hiện đề tài này cũng sẽ
thu được những kết quả không nhỏ trong việc khắc phục lỗi chính tả cho học
sinh. (Nhiều học sinh chưa được biết về mẹo chính tả nên rất lúng túng trước
những từ khó, không ít học sinh viết theo cảm tính mà không biết chắc là từ
mình viết đúng hay sai).
- Trong chương trình Ngữ văn bậc THCS hiện nay không có bài dạy cho
học sinh về các quy tắc chính tả, mẹo chính tả. Vì thế việc cung cấp quy tắc,
mẹo chính tả cho học sinh, giúp học sinh dần dần khắc phục lỗi chính tả là việc
nên làm của giáo viên Ngữ văn. Hiệu quả của công việc này tùy thuộc vào sự
linh hoạt, tinh thần quyết tâm và sự sáng tạo của giáo viên.
16
3.2. Kiến nghị và đề xuất
3.2.1. Đối với giáo viên
- Trong trường học, nhất thiết ngôn ngữ dùng để viết, đọc, nói (giảng dạy,
học tập, hội họp, sinh hoạt chuyên môn...) phải chuẩn tiếng Việt phổ thông (trừ
17
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Hoằng Long, ngày 11 tháng 4 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến
kinh nghiệm của mình viết, không sao
chép nội dung của người khác.
Người viết
Nguyễn Thị Hồng Thoa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. “Báo cáo chính trị” của Ban chấp hành Đảng bộ thành phố Thanh Hóa
khóa XIX, tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XX, nhiệm kỳ 20152020.
2. Sách giáo khoa Ngữ văn 6 tập 1- NXB giáo dục Việt Nam năm 2016.
18
3. Sách “Thiết kế bài giảng Ngữ văn 6 Tập 2-Tác giả: Nguyễn Văn Đường
- Nhà Xuất bản Hà Nội năm 2009.
4. Tài liệu dạy học kiến thức địa phương Ngữ văn và Lịch sử lớp 7 - Chủ
biên: Lê Xuân Đồng - NXB: Thanh Hóa năm 2006.
5. Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6,7 (Chương trình địa phương) - Chủ
biên: Lê Xuân Đồng - NXB Giáo dục Việt Nam năm 2016.
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÁNH GIA XẾP LOẠI CẤP
nghị luận văn học thông qua
các bước làm bài cho học sinh
lớp 9B trường THCS Hoằng
Long”.
Kết quả
đánh giá Năm học
xếp loại
Loại B
2009-2010
Loại A
2012-2013
Loại A
2014-2015
20