MỤC LỤC
Tran
g
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến
3. Các biện pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Danh mục cácđề tài SKKN đã được đánh giá xếp loại
1
1
2
2
2
4
4
7
9
18
21
học và là một khâu quan trọng trong quá trình dạy- học. Việc đọc tác phẩm có
tác dụng rất cao mang lại hiệu quả lớn trong quá trình dạy học bộ môn ngữ văn
ở trường THCS. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên Ngữ văn phải đổi mới phương
pháp dạy học nhất là khâu đọc và hướng dẫn đọc tác phẩm. Có như vậy mới góp
phần làm cho việc dạy học môn học này ngày càng trở nên hấp dẫn, tạo được sự
hứng thú cho người học.
Ngữ văn luôn luôn đóng vai trò là một trong những bộ môn chính yếu
trong trường THCS. Hơn thế nữa, với đặc thù riêng về sự chính xác tương đối,
sự phụ thuộc vào cảm xúc của người dạy và người học mà vấn đề dạy và học
Ngữ văn luôn được quan tâm đặc biệt. Mục tiêu chung của môn Ngữ văn là bồi
dưỡng năng lực Ngữ văn cho học sinh, bao gồm năng lực đọc, hiểu các văn bản
thông dụng (văn, thơ, truyện), năng lực viết một số văn bản thông dụng… Đồng
thời cung cấp một hệ thống tri thức phong phú về văn học. Học sinh luôn tiếp
xúc trước hết với văn bản và chính vì thế mà định hướng phương pháp đọc là vô
cùng cần thiết.
Hoạt động đọc của học sinh hiện nay đã trở thành trọng tâm khi bình giá,
phân tích, cắt nghĩa tác phẩm văn chương và học sinh là độc giả tác phẩm văn
học. Mỗi nền văn học, mỗi thể loại, giai đoạn văn học khác nhau lại cần có
những đặc trưng về kĩ năng đọc riêng.. Nguyễn Thanh Hùng đã viết “Dạy đọc là
nền tảng văn hóa cho người đọc” [3, tr.13]. Điều này đặc biệt đúng khi áp dụng
vào giảng dạy các tác phẩm văn học.
Khi xét nội dung của tác phẩm cần tìm hiểu một cách tương đối kĩ về
những kinh nghiệm văn hóa lịch sử, phát hiện được những mối tương đồng tạo
điều kiện cho học sinh chiếm lĩnh tác phẩm. Việc dạy đọc hiểu để khám phá, để
2
hiều đúng văn bản chính là một yêu cầu quan trọng trong quá trình giảng dạy
phần văn học.
Từ những lí do như trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Một số biện
Khảo sát tình hình học tập phân môn văn học của học sinh lớp 8 trường
THCS Yên Trung. Đặc biệt là kết quả của học sinh qua giờ học văn bản trong
quá trình dạy học.
b. Phương pháp thống kê xử lí số liệu:
Thống kê tỉ lệ học sinh đọc ở đối tượng học sinh nghiên cứu (lớp 8A, 8B
trường THCS Yên Trung) và tỉ lệ giáo viên hướng dẫn đọc ở đối tượng giáo viên
nghiên cứu ( giáo viên Ngữ văn trường THCS Yên Trung )
c. Nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu tài liệu nghiệp vụ dạy học môn Ngữ văn 8, sách giáo khoa,
sách giáo viên, tài liệu tham khảo, ý kiến của các nhà nghiên cứu, các nhà quản
3
lí giáo dục, quản lí chuyên môn, các giáo viên giỏi trong lĩnh vực giảng dạy của
mình, của đồng nghiệp trong tỉnh, huyện và các trường bạn xung quanh, các bài
viết đăng trên các tạp chí khoa học.
d. Phân tích đối chiếu:
Phân tích đối chiếu giữa yêu cầu chuẩn kiến thức, kĩ năng đối với học sinh
lớp 8 bậc THCS với những bài đọc thực tế của học sinh, tìm ra những hạn chế
chủ yếu của học sinh khi đọc tác phẩm văn học.
e. Giả thiết khoa học
Đưa ra những giải pháp những đề xuất có tính khoa học để giáo viên vận
dụng vào việc rèn kĩ năng đọc tác phẩm văn học cho học sinh nhằm phát huy
khả năng tư duy, sáng tạo, tính tích cực trong giờ học của các em trước những
tác phẩm văn học.
g. Sử dụng mẫu:
Sau khi cung cấp kiến thức lí thuyết cho học sinh, sử dụng những cách
đọc mẫu thực hành giúp học sinh nhận biết, tự điều chỉnh cách đọc của mình cho
đúng, hợp lí.
h. Hỏi ý kiến chuyên gia, tham khảo kinh nghiệm của đồng nhiệp:
từ ghi khắc sang âm thanh lời nói, âm vang trong óc.
Với tư cách là một môn học nhằm “phát triển cảm thụ nghệ thuật, hình
thành những thể nghiệm, những khuynh hướng và năng khiếu nghệ thuật cho
học sinh bằng phương diện nghệ thuật” [4, tr.38]. Quan niệm phân tích tác phẩm
văn học trong nhà trường là một quá trình sáng tạo, tác giả còn trình bày các
biện pháp bộc lộ và thúc đẩy sự đồng sáng tạo của người đọc, trong đó đọc diễn
cảm được xem là “biện pháp hoạt động đặc thù nhằm tăng cường sự đồng sáng
tạo của người đọc, tạo điều kiện cho sự đồng thể nghiệm và phát triển trí tưởng
tượng của người đọc” [4, tr.39]
Thực chất của quá trình đọc văn là quá trình phát hiện và tổng hợp những
tầng lớp ý nghĩa đã được nhà văn mã hóa trong một hệ thống kí hiệu ngôn ngữ
nghệ thuật. Mỗi giai đoạn của quá trình ấy lại đặt ra những nhiệm vụ nhất định
cần phải giải quyết. Vì vậy hoạt động đọc sẽ được vận dụng dưới nhiều hình
thức phong phú, đa dạng, linh hoạt, hơn một cách duy nhất nào đó.
Đọc văn vừa là tiền đề cơ bản, vừa là kết quả xác thực của việc hiểu văn.
Có đọc mới hiểu và có hiểu thì mới đọc tiếp được tác phẩm văn chương mà
không làm tiêu tan những giá trị và ý nghĩa của nó. Các công trình nghiên cứu
của Nguyễn Thanh Hùng đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc của tác giả đến vấn đề
phức tạp này: nhìn nhận trí tưởng tượng, khả năng liên tưởng như là chìa khóa
mở ra thế giới nghệ thuật phong phú, sinh động của tác phẩm văn chương đồng
thời năng lực liên tưởng, tưởng tượng thông qua ngôn ngữ nghệ thuật là dấu
hiệu chất lượng của đọc văn. Tác giả viết: “Sự phát triển của quá trình đọc được
vận động trong hoạt động liên tưởng, tưởng tượng và giải thích nghệ thuật”.
Theo tác giả, việc đọc hiểu văn bản góp phần hình thành và củng cố, phát triển
năng lực nắm vững và sử dụng tiếng Việt thành thạo. Đồng thời “năng lực văn
hóa có ý nghĩa cơ bản đối với việc phát triển nhân cách , bởi vì phần lớn những
5
tri thức hiện đại được truyền thụ qua việc đọc”, hơn nữa việc đọc còn là
của tâm hồn, là sự tự giải phóng cá nhân ra khỏi những trói buộc của hoàn cảnh
để trí tuệ hóa và nhân đạo hóa con người ngày càng cao hơn.
1.1.3. Phương pháp đọc trong nhà trường THCS
Đọc là hoạt động mang tính chất đối diện một mình, tự lực với văn bản,
nó có cái hay là tập trung và tích đọng, lắng kết thầm lặng năng lực cá nhân.
Đây là hoạt động thu nạp và ứng dụng những kinh nghiệm đời sống, lịch sử,
kinh nghiệm nghệ thuật và kinh nghiệm văn hóa của mỗi cá thể. Đọc là lối đọc
để tự học suốt đời, nó vừa thúc đẩy ý chí và là biểu hiện thầm kín của lòng tự
trọng.
Đọc trong nhà trường rất cần phải có bài bản, phải có cơ sở lí thuyết và
phải luyện tập thành những kĩ năng cơ bản. Cách đọc trong nhà trường vừa là
tiền đề đọc hiểu của học sinh, vừa là kết quả đọc hiểu của giáo viên văn học.
6
Điều đáng nói về cách đọc trong nhà trường là phải chú trọng cung cấp cho học
sinh hệ thống tri thức đọc hiểu, cần mở rộng các hình thức đọc, phương pháp
đọc, kiểu đọc, mục đích, yêu cầu đọc đối với họ. Hứng thú đọc, động cơ đọc của
học sinh và sách tập đọc, bài đọc thêm, cần nghiên cứu và chỉ ra tác dụng tích
cực của chúng trong việc dạy đọc hiểu.
Đọc ban đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu nghĩa của từ và sắc thái biểu cảm,
hiểu nghĩa của hình thức câu, mạch văn, bố cục và nắm được ý nghĩa chính cũng
như chủ đề tác phẩm. Lí giải là hiểu đặc sắc về nghệ thuât và ý nghĩa xã hội
nhân văn của tác phẩm trong ngữ cảnh của nó. Trong quá trình học đọc, học sinh
sẽ biết cách đọc để tích lũy kiến thức, đọc để lí giải, đọc để đánh giá và đọc sáng
tạo, phát hiện. Hình thức văn bản được lựa chọn nhằm đào tạo năng lực đọchiểu, qua đó vừa cung cấp tri thức văn học (lịch sử văn hóa, lí luận văn học, văn
hóa dân tộc) vừa giáo dục tư tưởng tình cảm, vừa rèn luyện kĩ năng đọc mà học
sinh có thể mang theo suốt đời.
Một trong ba mục tiêu của dạy học văn là rèn luyện khả năng đọc hiểu các
văn bản, đặc biệt là văn bản văn học, một loại văn bản khó nhằm tạo cho học
giọng đọc tốt để đọc mẫu cho học sinh cảm nhận. Giáo viên coi việc đọc tác
phẩm là hình thức tiếp cận văn bản.
Nhưng bên cạnh những tiến bộ trên qua khảo sát dự giờ tôi thấy rằng còn
nhiều tiết dạy văn giáo viên tổ chức cho học sinh đọc rất ít, có trường hợp chỉ
cho học sinh đọc qua một lần văn bản ở đầu giờ học (ở văn bản ngắn) hoặc đọc
vài đoạn ngắn (ở văn bản dài) là được. Có tình trạng giáo viên hiểu lệch lạc đọc
sáng tạo là phương pháp lấy việc đọc làm chính. Bởi thế nhiều giáo viên cho học
sinh đọc tràn lan, giờ văn trở nên giờ đọc tác phẩm hạn chế tới việc cảm thụ tác
phẩm. Giờ văn trở nên tẻ nhạt, vô vị, đơn điệu. Đọc tràn lan, không định hướng
đó làm cho giờ dạy mất đi hoặc giảm thiểu hoạt động phân tích, do đó cũng
giảm đi tính tư tưởng và hiệu quả của giảng dạy. Giờ dạy cháy giáo án, nếu
không cũng chẳng còn bao nhiêu giá trị nhân văn. Nếu chỉ đọc thôi sẽ khó tìm
đến sự sâu kín, ý vị tinh vi, khó khám phá được những đặc sắc nghệ thuật. Tình
trạng giáo viên ngữ văn đọc thiếu diễn cảm thậm chí một số giáo viên đọc chưa
đạt yêu cầu bộc lộ ở việc ngắt nhịp không phù hợp với lôgíc của câu, nhấn giọng
ở trọng âm lôgíc chưa đúng từ ngữ cần nhấn giọng đọc còn đều đều, việc luyện
đọc diễn cảm, uốn nắn sữa chữa cách đọc cho học sinh còn ít chưa có hiệu quả.
Mặt khác việc đọc tác phẩm còn triển khai đơn giản.Dường như mục đích
của đọc và hình thức của đọc chưa được xác định rõ ( Khi nào thì đọc? đọc như
thế nào? Thế nào là đọc - bình, đọc- thưởng thức ? Thế nào là đọc – cảm thụ?
Thực hiện chúng như thế nào? Thực hiện vào lúc nào?). Vì thế giáo viên không
có sự sáng tạo mà chỉ thực hiện khâu đọc và hướng dẫn đọc một cách sáo mòn
theo quy trình 4 bước của SGV hoặc sách hướng dẫn đó là:
Bước 1: Giáo viên nêu yêu cầu đọc, hướng dẫn đọc (theo SGK hoặc Sách hướng
dẫn giáo viên).
Bước 2: Giáo viên đọc mẫu (có thể gọi một học sinh đọc).
Bước 3: Gọi một học sinh đọc thể nghiệm theo yêu cầu.
Bước 4: Gọi một học sinh nhận xét cách đọc của bạn.
Qua dự giờ đồng nghiệp tôi thấy giáo viên áp dụng quy trình trên và thực
hiện như sau:
Tên trường điều tra
THCS Yên Trung
b. Về học sinh
Lớp
8A
8B
K8
Tổng số
đối tưởng
32
26
58
Số đối
tượng
điều tra
4
Đọc đúng
SL
5
4
9
TL
15,6
15,4
TL
15
46,9
11
42,3
26
44,6
TL
75%
Đọc chưa diễn
cảm
SL
TL
10
31,2
9
34,6
19
32,9
Qua kết quả điều tra trên tôi nhận thấy một trong những nguyên nhân dẫn
đến chất lượng dạy học văn chưa cao là do giáo viên thực hiện chưa tốt khâu đọc
và hướng dẫn đọc nên học sinh cảm thụ tác phẩm còn hời hợt.Vì vậy tôi mạnh
dạn đưa ra một số biện pháp cụ thể khắc phục những sáo mòn ở khâu đọc và
hướng dẫn đọc trong dạy Văn ở trường THCS để góp phần nâng cao chất lượng
dạy học môn Ngữ văn.
3. Các biện pháp khắc phục những sáo mòn ở khâu đọc và hướng dẫn đọc
trong dạy học văn THCS
năng lực của các giác quan, khả năng phát âm, hình dung tưởng tượng, phán
đoán, liên tưởng, suy luận, nắm vững các biện pháp tu từ, các phong cách ngôn
ngữ, năng lực về văn hóa, cắt nghĩa ngôn ngữ, điển cố, tái tạo thế giới nghệ
thuật.
3.1.3. Các hành động và thao tác thuộc hoạt động đọc văn.
- Hành động xác định vai trò chủ thể của học sinh:
+ Đóng vai như tác giả của tác phẩm, như người theo dõi chứng kiến , biết toàn
bộ sự việc diễn ra trong tác phẩm.
+ Đóng vai như bạn đọc lí tưởng của tác phẩm, đọc để hiểu , đọc để nghiền
ngẫm, đọc để thưởng thức, đọc để tìm cảm giác ấn tượng, đọc tự cắt nghĩa, tự lí
giải các chi tiết.
+ Đóng vai như một người kể chuyện. Dựa vào văn bản tác phẩm truyền đạt nội
dung cho người nghe.
+ Đóng vai như một người biểu diễn. Đọc diễn cảm, đọc theo giọng nhân vật,
đọc nghệ thuật, ngâm, hát, đọc theo vai nhân vật.
- Hành động đọc tiếp nhận :
+ Đọc tác phẩm để nhận biết
+ Đọc tác phẩm để biết nhân vật chính được kể từ khi nào đến khi nào
+ Đọc tác phẩm hình dung ra nhân vật người kể chuyện rồi miêu tả lại ( Là ai?
cương vị nào? đứng ở vị trí nào để quan sát ghi chép?)
+ Đọc tác phẩm, tiếp nhận văn bản
10
Thơ: thể thơ, gieo vần, tiết tấu, nhịp, giọng điệu, kết cấu, chủ thể tữ tình,
thời gian, không gian.
Truyện: thời gian, nhân vật, cốt truyện, tình huống, ngôi kể, nghệ thuật kể
chuyện, các biện pháp nghệ thuật trong lời kể..
c, Hành động bộc lộ:
sinh đọc bài thơ một lần ở đầu giờ thì học sinh sẽ không cảm nhận hết được vẻ
đẹp của quê hương và tình cảm yêu quê của tác giả mà chỉ khi có sự kết hợp đọc
trong phần phân tích mới làm rõ được nội dung của tác phẩm. Chẳng hạn như 2
câu thơ: “Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về”
11
Qua việc đọc phân tích mới thấy được niềm vui lớn trong cảnh đón đoàn
thuyền trở về. Với âm thanh “ồn ào”, với trạng thái “tấp nập” đó tạo ra một
không khí vui vẻ, rộn ràng, đầm ấm, thoả mãn.
Vì vậy người giáo viên cần nghiên cứu kĩ văn bản để tổ chức linh hoạt,
phù hợp trong khâu đọc và hướng dẫn đọc tác phẩm mới mang lại hiệu quả cho
giờ dạy.
3.2.2. Đọc của giáo viên và học sinh cần xen kẽ một cách linh hoạt bổ sung cho
nhau cùng hướng tới mục đích phân tích và cảm thụ tác phẩm.
Trong giờ dạy học văn việc đọc của giáo viên và học sinh phối hợp, xen
kẽ một cách linh hoạt là rất cần thiết có như vậy mới làm cho học sinh tập trung
vào những ngữ liệu phân tích và việc đọc tốt xen kẽ của giáo viên giúp các em
có thể hình dung, tưởng tưởng, cảm nhận được nội dung nghệ thuật của tác
phẩm.
Ví dụ:
- Khi dạy đoạn thơ:
... "Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đó lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần, bao đời gây nền độc lâp
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên xưng đế một phương"
- Khi đoạn trích Lão Hạc: Khi đọc cần nhấn trọng âm lôgíc đúng từ ngữ cần
nhấn giọng với giọng phù hợp sẽ có tác dụng gợi cảm cao độ như khi đọc một
đoạn văn trong tác phẩm Lão Hạc: “Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết
nhăn xô lại với nhau ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và
cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc.
+ Nếu khi đọc nhấn mạnh vào những từ in đậm và kết hợp với giọng phù hợp thì
người nghe dễ hình dung ra cảnh tội nghiệp của lão Hạc mà còn cảm thông
thương xót cho lão trong cơn túng quẫn phải bán đi con chó, một nguồn vui,
niềm ai ủi duy nhất còn sót lại của mình.
Như vậy để học sinh đọc đúng tác phẩm cần cho học sinh đọc ở nhà trước
một vài lần để hiểu tác phẩm, hiểu được tư tưởng của tác giả vừa đọc vừa nhấn
sâu vào trí tưởng tượng của người nghe làm bật lên ở họ những hình ảnh và suy
nghĩ qua các âm thanh, qua giọng đọc.
3.2.3.2. Đọc diễn cảm
Đọc diễn cảm: cao hơn đọc đúng một bậc. Kiểu đọc này yêu cầu học sinh
phải biết phát huy chất giọng cho phù hợp với giọng điệu của tác giả. Đọc diễn
cảm chính là quá trình tự phân tích tác phẩm bằng âm thanh của người đọc, đem
lại cho âm thanh những quầng sáng ý nghĩa, làm cho chúng cũng “đi lại” “nhốn
nháo”, cũng tranh luận, như ý định của tác giả, làm rung động người nghe và
khơi dậy được họ khát vọng được tìm hiểu, được phân tích tác phẩm. Đọc diễn
cảm sẽ giúp người đọc hình dung ra giọng kể, tả, trần thuật, đối thoại,... làm nổi
lên những cung bậc tình cảm. Đọc diễn cảm sẽ kích thích quá trình tâm lý cảm
thụ tác phẩm của học sinh.
Như vậy đọc đúng, diễn cảm tốt là tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân
tích tác phẩm. Vì thế người giáo viên cần rèn kĩ năng đọc đúng, đọc diễn cảm
cho cả giáo viên và học sinh.
3.2.4. Có thể sử dụng hướng dẫn trong sách giáo khoa, sách giáo viên để gợi sự
đánh giá và nhận xét chứ không coi như một khuôn mẫu bắt buộc.
Việc giáo viên – học sinh nhận xét, đánh giá việc đọc của học sinh là một
yêu cầu quan trọng để từ đó uốn nắn sữa chữa cho học sinh cách đọc cho đúng,
- Hiểu được bản chất giả dối, tàn bạo của chính quyền thực dân Pháp.
- Thấy rõ tính chiến đấu, lập luận sắc bén cùng nghệ thuật trào phúng trong văn
chính luận của Nguyễn Ái Quốc.
Lưu ý: Học sinh đã học về tác phẩm thơ của Hồ Chí Minh ở lớp 7.
II – TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KỸ NĂNG
1. Kiến thức
- Bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của thực dân Pháp và số phận bi phảm của những
người dân thuộc địa bị bóc lột, bị dùng làm bia đỡ đạn trong các cuộc chiến
tranh phi nghĩa phản ánh trong văn bản.
- Nghệ thuật lập luận và nghệ thuật trào phúng sắc sảo trong văn chính luận của
Nguyễn Ái Quốc.
2. Kỹ năng:
- Đọc – hiểu văn chính luận hiện đại, nhận ra và phân tích được nghệ thuận trào
phúng sắc bén trong một văn bản chính luận.
- Học cách đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận.
3.Thái độ:
- Giáo dục thái độ sống đúng đắn, tích cực.
III. CHUẨN BỊ:
GV : Giáo án , SGK, SGV, Tài liệu tham khảo .
HS : Sách vở, ĐDHT.
IV.PHƯƠNG PHÁP:
Gợi mở, vấn đáp, nêu vấn đề, đọc diễn cảm, giảng bình .
D. TIẾN TRÌNH GIỜ DẠY
1.Tổ chức:
2.Kiểm tra bài cũ:
3.Bài mới:
14
Hoạt dộng 1: I. Tìm hiểu chung
tranh vui tươi”....
Bước 3: Giáo viên đọc mẫu thật tốt đoạn 1,2 và cho học sinh khá đọc đến hết
chương.
Bước 4: Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc, phân tích văn bản:
Hoạt dộng 2: Phần I: Chiến tranh và người bản xứ.
- Tác giả trình luận điểm bằng những luận cứ nào?
+ Người bản xứ đi phơi thây trên các bãi chiến trường.
+ Người bản xứ bị đầu độc trong các xưởng thuốc súng ở hậu phương
+ Những người bản xứ không còn được trở về ( 8 vạn).
- So sánh thái độ của các quan cai trị thực dân đối với người dân thuộc địa ở 2
thời điểm: trước và khi có chiến tranh?
15
+ Trước chiến tranh: Họ bị xem là giống người hạ đẳng, bị đánh đập, và bị đối
xử như xúc vật.
+ Khi có chiến tranh: Họ được các quan trị tâng bốc, vỗ về, được phong cho
danh hiệu cao quí.
- Tại sao những người bản xứ lại được đối xử như vậy?
+ Vì thực dân Pháp muốn che giấu dã tâm lợi dụng xương máu của họ trong
cuộc chiến cho quyền lợi của Pháp. Đó là thủ đoạn lừa bịp bỉ ổi của chính quyền
thực dân để bắt đầu biến họ thành những vật hi sinh.
- GV: Yêu cầu học sinh chỉ ra: Hình ảnh người lính bản xứ trên các chiến
trường được tập trung miêu tả bằng những từ ngữ nào? giọng đọc của các từ
ngữ ấy?
- HS: Đọc nhấn giọng, dằn giọng các từ ngữ: "bẩn thỉu", "giỏi lắm thì","chỉ
biết", "đùng một cái ".
- GV: Thái độ cai trị của Thực dân Pháp đối người bản xứ được tập trung vào
những từ ngữ nào? giọng đọc các từ ngữ ấy?
+ " Những người làm kiệt sức……hơi ngạt vậy."
- Cách cấu tạo lời văn trong đoạn này có gì đặc biệt?
+ Cả luận cứ được diễn đạt chỉ bằng 1 câu văn với nhiều dấu ngắt ý; dùng hình
ảnh biểu tượng, kết hợp đưa dẫn chứng với bày tỏ thái độ tố cáo.
- Có tác dụng như thế nào?
+ Lượng thông tin cao, nhanh, truyền cảm. Tuy họ không trực tiếp ra mặt trận
nhưng cũng phải chịu nhều bệnh tật và cái chết đau đớn.
GV: Hướng dẫn học sinh đọc đoạn: "cuối cùng ở hậu phương, những người làm
kiệt sức ... lại nhiễm phải luồng khí độc đỏ ối của người Pháp, .... những kẻ
khốn khổ ấy cũng đó khạc ra từng miếng phổi, chẳng khác gì hít phải hơi ngạt
vậy"
"Tổng thể có bảy mươi vạn người bản xứ đó đặt chân lên đất Pháp, và
trong số ấy, tám vạn người không bao giờ trông thấy mặt trời trên quê hương
đất nước mình nữa".
HS: Học sinh đọc hết sức cảm động, những con số như biết nói đang diễn ra
trước mắt người đọc cảnh chết thê thảm, số phận bi thương của những người
lính bản xứ.Những hình ảnh biểu tượng như đang được phơi bầy, thật thuyết
phục người đọc, người nghe gợi cảm xúc.
+ Cả đoạn là 1 câu văn, chứng cứ là con số thống kê, dùng hình ảnh biểu tượng (
8 vạn….nữa.)
+ lời văn mang thông tin chính xác về số phận của những người bản xứ, thuyết
phục người đọc ở sự thật không thể bác bỏ được.
Hoạt động : Phần II: Chế độ lính tình nguyện
Học sinh đọc phần 2
Theo dõi đoạn văn trình bày các luận cứ trên, em hãy tóm tắt các thủ đoạn xoay
sở từ việc bắt lính tình nguyện.
+ Đầu tiên tóm những người nghèo, khoẻ. Sau đó đến con nhà giàu nếu không
muốn đi xa thì xì tiền.
+ Những vụ lũng nhạm trong việc bắt lính:
Hoạt dộng 4: Phần III: Kết quả của sự hi sinh
HS theo dõi tiếp phần 3
- Kết quả của sự hi sinh của người bản xứ trong cuộc chiến tranh
- Những người từng hi sinh xương máu, từng được tâng bốc trước đây:
+ Trở lại giống người bẩn thỉu, bị bóc lột của cải, bị đánh đập vô cớ, bị đối xử
tàn nhẫn như các con vật.
+ Nhận được cái phủi tay
+ Khi chiến tranh chấm dứt, những lời tuyên bố tình tứ của các ngài cầm quyền
bỗng dưng im bặt như có phép lạ.
+ Đối với người dân nước thuộc địa, sự hi sinh chẳng hề mang lại cho họ ích lợi
gì bởi chế độ bản xứ không hề biết đến chính nghĩa của công lí.
+ Bộ mặt trơ tráo, tàn nhẫn của chính quyền thực dân bộc lộ trắng trợn khi tước
đoạt hết của cải mà những người lính thuộc địa mua sắm được, đánh đập họ vô
cớ... bỉ ổi hơn, chính quyền thực dân không ngần ngại đầu độc cả một dân tộc để
vơ vét cho đầy túi, khi cấp môn bài bán thuốc phiện.
GV: Yêu cầu học sinh chỉ ra: Thái độ của chính quyền thực dân Pháp đối người
bản xứ sau chiến tranh được tập trung vào những từ ngữ nào? giọng đọc các từ
ngữ ấy?
HS: Đọc đoạn:“Để ghi nhớ công lao của người lính An Nam, chẳng phải... đó
sao”. Đọc diễn cảm, nhấn giọng, dằn giọng các từ ngữ: "chẳng phải", "đó
sao", giọng điệu vừa đanh thép, vừa mỉa mai chua chát đã vạch trần bộ mặt
tàn bạo, đê tiên của chúng
- Em có nhận xét gì về bố cục các phần trong chương?
+ bố cục: 3 phần theo trình tự thời gian: trước, trong và sau khi xảy ra chiến
tranh thế giới thứ nhất. Với cách sắp xếp này, bộ mặt giả nhân giả nghĩa, bản
chất tàn bạo của chính quyền thực dân xung quanh việc bóc lột “thuế máu” đã
được phơi bày. Mặt khác, số phận thảm thương của người dân nô lệ xứ thuộc địa
cũng được miêu tả một cách cụ thể, sinh đông.
- Phân tích nghệ thuật châm biếm, đả kích sắc ảo, tài tình của tác giả thể hiện
qua cách xây dựng hình ảnh, giọng điệu.
dân Pháp.Bộc lộ niềm thương cảm xót xa cho những người dân nô lệ bị lợi dụng
bóc lột.
4. Củng cố:
Đọc lại đoạn văn 1. ( 1 HS nhận xét cách đọc của bạn)
Em có nhận xét gì về cách lập luận của tác giả ở đoạn 1?
Nhận xét yếu tố biểu cảm trong đoạn trích được học?
5. Hướng dẫn HS về nhà:
Đọc diễn cảm văn bản
Học bài , xem lại nội dung bài giảng, học nội dung và nghệ thuật của văn bản.
Soạn: Đi bộ ngao du.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
4.1. Đối với hoạt động giáo dục:
19
Sáng kiến của tôi được áp dụng trong thực tế giảng dạy sẽ có tác dụng
giúp giáo viên Ngữ văn đối chiếu giữa lí luận với thực thế chất lượng bộ môn
của mình giảng dạy, đặc biệt là chất lượng đọc của học sinh lớp mình phụ trách,
vận dụng những giải pháp tối ưu để nâng cao chất lượng, giải quyết một phần
tình hình học sinh học yếu kém và ngại đọc văn, nhớ và thuộc tác phẩm văn học
như hiện nay. Vì vậy, đề tài không chỉ có ích cho tôi mà cũng rất cần thiết cho
giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn 8 đang quan tâm đền vấn đề này.
4.2. Đối với bản thân:
Qua thời gian thực nghiệm, tôi bước đầu đánh giá được thực trạng giảng
dạy tác phẩm văn xuôi trong nhà trường THCS. Trước hết, tôi nhận định rõ
những khó khăn cơ bản trong công tác giảng dạy của giáo viên đối với khâu đọc
những tác phẩm văn học đã dẫn đến những hạn chế trong quá trình giảng dạy
môn Ngữ văn. Điều này làm cho quá trình học sinh hiểu tác phẩm, tư tưởng, ý
nghĩa tác phẩm mất đi sự hứng thú khám phá phân tích tác phẩm ở học sinh.
Theo dõi sát sao từng lớp, từng giáo viên qua dự giờ. Kết quả cho thấy rất
khả quan:
a. Về giáo viên.
Tên trường điều tra
THCS Yên Trung
b. Về học sinh:
Lớp
8A
8B
K8
Tổng số
đối tưởng
32
26
58
Số đối
tượng
điều tra
4
Đọc đúng
SL
13
11
24
Đọc chưa
diễn cảm
SL
TL
6
18,7
4
15,4
10
17,2
TL
25%
Đọc chưa
đúng
SL
TL
3
9,4
2
7,7
5
8,6
Bảng nhận xét đánh giá cho thấy kết quả dạy thực nghiệm hơn bài dạy đối
chứng. Như vậy sau khi dùng các biện pháp rèn luyện kỹ năng cho học sinh ở
khâu đọc và hướng dẫn đọc trên, học sinh đã có ý thức cao hơn trong việc đọc
tác phẩm văn chương. Vì thế tỷ lệ học sinh biết đọc đúng, đọc diễn cảm đã tăng
lên đáng kể.
- Lớp 8A: Số học sinh biết đọc đúng, đọc diễn cảm tăng 25%
văn.
- Người giáo viên cần tổ chức việc đọc giữa giáo viên – học sinh kết hợp xen
kẽ, linh hoạt bổ sung cho nhau cùng hướng tới mục đích phân tích và cảm thụ
tác phẩm.
- Giáo viên ngữ văn không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để đọc cho đúng, cho
sáng tạo, để khắc phục những gì khuôn sáo mà lâu nay mắc phải trong giờ dạy
học văn.
- Đối với học sinh cần tích cực luyện đọc các tác phẩm cho đúng, diễn cảm đọc
cho hay cho phù hợp với từng thể loại. Ngoài hình thức đọc thành tiếng và đọc –
hiểu trên lớp, cần tự đọc cá nhân ngoài lớp học bởi chỉ có hoạt động đó mới có
khả năng tạo ra tưởng tượng, hướng nội và tự do ở mức cao nhất.
2. Kiến nghị
2.1.Đối với phụ huynh
- Quan tâm hơn đến việc học hành của con em mình. Hướng dẫn và tạo cho con
thói quen đọc sách ở nhà, chuẩn bị bài trước khi đến lớp. Đây cũng là con đường
thuận lợi đề các em học tập tốt giờ học trên lớp
2.2. Đối với phòng giáo dục:
- Tổ chức hội thảo chuyên đề cho giáo viên bộ môn Ngữ văn trong từng năm để
giáo viên có dịp trao đổi kinh nghiệm, bàn luận tìm ra biện pháp tối ưu, tích cực
nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn
2.3.Đối với địa phương
- Quản lí chặt chẽ các điểm kinh doanh Internet và các điểm dịch vụ không lành
mạnh, làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh. Để các em có thể
thay đổi thói quen: Thay vào việc ngồi “giết” thời gian ở quán Internet các em
có thể dành thời gian đọc sách và học bài.
22
2.4 Đối với nhà trường:
- Các tổ chuyên môn, các nhà trường cần chỉ đạo và tạo điều kiện để thống nhất
A. SÁCH
1.Bộ Giáo dục & Đào tạo, Phân phối chương trình môn Ngữ văn 8, SGV Ngữ
văn 8, NXB Giáo dục, 2007
2. Bộ Giáo dục & Đào tạo, Sách giáo khoa Ngữ văn 8, NXB Giáo dục, 2007;
3. Nguyễn Thanh Hùng (Chủ biên), Phương pháp dạy học ngữ văn trung học
phổ thông- những vấn đề cập nhật, NXB Đại học Sư phạm, 2007;
4. Nguyễn Thanh Hùng, Đọc và tiếp nhận văn chương, NXB Giáo dục, 2002
5. Nguyễn Thanh Hùng, Văn học tầm nhìn biến đổi, NXB Văn học, 1996;
6. Phan Trọng Luận (Chủ biên), Phương pháp dạy học văn, NXB ĐHQGHN,
1997;
DANH MỤC
24
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT
Họ và tên tác giả: Vũ Thị Hiền
Chức vụ và đơn vị công tác: Trường THCS Yên Trung
TT
Tên đề tài SKKN
1.
Một số biện pháprèn luyện kĩ
2015 - 2016
nghị luận nhân vật cho học
sinh lớp 9 THCS
25