MỤC LỤC
Nội dung
Mục lục
Số trang
1
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài.
2,3.4
1.2. Mục đích nghiên cứu.
4
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
5
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
2. Nội dung
5
2.1. Cơ sở lí luận.
2.2. Thực trạng vấn đề.
5,6
6,7,8
xác định là: “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và
sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng
tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi
vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
Trong luật Giáo dục năm 2005 (Điều 28.2) xác định: “Phương pháp giáo
dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học
sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp
tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học
sinh”.
Ngày nay, khoa học phát triển như vũ bão, đặc biệt là công nghệ thông tin,
tạo nên những cuộc cách mạng lớn về thông tin khoa học, trong cách suy nghĩ,
cũng như trong cách dạy và cách học. Có một thực trạng đáng báo động là: Các
môn khoa học xã hội dường như không còn thu hút được học sinh say mê như
trước nữa. Vấn đề đặt ra đối với mỗi giáo viên dạy môn văn: phải tìm ra một
phương pháp dạy học mới phù hợp với tình hình thực tại.
Văn học là một môn khoa học đặc thù có đối tượng, mục tiêu và phương
pháp nghiên cứu riêng nhưng đồng thời nó còn là môn khoa học công cụ, bởi
qua môn học các em sẽ được rèn các kĩ năng nghe-nói-đọc-viết, khi thuần thục
các kỹ năng này giúp người học dễ dàng tiếp cận hơn các môn học khác. Làm
2
thế nào để học sinh nhận thức được môn Ngữ văn là một trong những môn học
chiếm vị trí quan trọng trong nhà trường? Học sinh phải hiểu được rằng văn
chương giúp cho tâm hồn con người phong phú, tinh tế hơn, nhạy cảm với
những biến thái tinh vi của tạo vật và lòng người. Có được tâm hồn như thế, con
người sẽ ứng xử với nhau có văn hoá hơn, bớt thô lỗ, phàm tục và độc ác. Văn
chương giúp các em hiểu mình, được sống thực sự với bản thân mình.
thì loay hoay không biết tiến trình cụ thể của một tiết dạy bài đọc thêm cần thi
công như thế nào cho đúng phương pháp. Vì vậy đã nảy sinh những tình huống
“dở khóc dở cười” và những cuộc tranh luận nảy lửa ở những tiết dự giờ rơi vào
bài đọc thêm làm nảy sinh những quan điểm trái chiều cho cả người dự và người
dạy.
Là một giáo viên dạy văn, thời gian công tác chưa nhiều vốn hiểu biết
chưa thực sự sâu rộng, kinh nghiệm nghề nghiệp còn ít ỏi và thời gian có hạn,
xuất phát từ tình hình thực tế từ ngôi trường bản thân tôi đang giảng dạy và sự
trao đổi của các đồng nghiệp ở các trường bạn, để giải quyết thực trạng trên
trong khuôn khổ nhỏ hẹp của sáng kiến kinh nghiệm này tôi xin lựa chọn đề tài:
Một vài suy nghĩ về việc dạy bài đọc thêm “Sau phút chia li” của Đoàn Thị
Điểm trong chương trình Ngữ văn 7 ở trường THCS Lâm Phú.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Để tiến hành cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản của một tác
phẩm đọc thêm trong chương trình ngữ văn 7 có nhiều con đường và cách làm
khác nhau mà các đồng nghiệp đã và đang thực hiện, qua đó ít nhiều gặt hái
được những thành công nhất định. Trong khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm này
mục đích cá nhân tôi quan tâm trong quá trình thực hiện đó là:
- Học sinh có khả năng biết tự sàng lọc những đơn vị kiến thức cơ bản của
một tác phẩm văn học khi tiếp xúc nhằm làm nổi bật lên được giá trị nội dung tư
tưởng, đặc sắc nghệ thuật và làm nổi bật được phong cách tác giả đó.
- Thông qua các hoạt động học tập trên lớp học sinh phát huy được khả năng
tự tin, chủ động sáng tạo của mình.
4
- Rèn cho học sinh phương pháp học lĩnh hội các tri thức khoa học bộ môn
bằng con đường tự học của chính cá nhân học sinh.
- Về đánh giá có sự kết hợp đánh giá của thầy và của trò với khả năng tự
của lớp học, đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh, đặc thù vùng miền, đảm bảo
được các yêu cầu cơ bản của môn học nhưng không được làm mất đi tính đặc
thù riêng của môn học đó. Trong khuôn khổ đề tài này, cơ sở tôi quan tâm thực
hiện đó là bám sát vào chuẩn kiến thức kĩ năng để đảm bảo tốt các yêu cầu của
bài học, cụ thể đó là:
- Thông qua tiết dạy, lựa chọn chính xác được lượng kiến thức trọng tâm
của bài dạy, cụ thể lượng kiến thức phải đáp ứng được các tiêu chí trong việc
làm nổi bật được: nội dung tư tưởng, đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm, những
cảm xúc chủ đạo của tác phẩm, phong cách của tác giả.
- Thông qua các hoạt động học tập trên lớp học sinh phát huy được khả
năng tự tin, chủ động sáng tạo của mình.
- Rèn cho học sinh phương pháp học lĩnh hội các tri thức khoa học bộ môn
bằng con đường tự học của chính cá nhân học sinh.
- Về đánh giá có sự kết hợp đánh giá của thầy và của trò với khả năng tự
đánh giá của học sinh.
- Qua tiếp thu kiến thức của bài học học sinh biết vận dụng vào thực tế
những gì đã tiếp nhận một cách linh hoạt và có hiệu quả cao nhất. Đồng thời
đem lại niềm vui hứng thú trong học tập, khơi gợi những cảm xúc văn chương
dù rất nhỏ ở các em về môn Ngữ văn để tạo hiệu ứng lây lan cảm xúc sang các
môn học khác.
2.2. Thực trạng của vấn đề.
2.2.1 Nội dung chương trình
Đối với sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành, toàn bộ phần thơ văn trung
đại Việt Nam được cấu tạo ở cả 4 lớp: 6, 7, 8, 9 và riêng phần thơ trữ tình thì
được dạy học ở lớp 7. Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 7 được học 5 bài chính khóa:
Nam quốc Sơn hà (Sông núi nước Nam) của Lý Thường Kiệt, Tụng giá hoàn
kinh sư (Phò giá về kinh) của Trần Quang Khải, Bánh trôi nước của Hồ Xuân
6
Với việc chuẩn bị các nội dung bài dạy của giáo viên như vậy, dẫn đến
hiệu quả đạt được của tiết học không cao, học sinh tiếp thu bài thụ động, dễ nảy
sinh tâm lí coi thường tiết học và làm mất dần tình yêu đối với môn học.
2.2.3 Học sinh
Xu hướng hiện nay là học sinh không thích học văn, ngại học văn nhất là
các tác phẩm văn học trung đại là hiện trạng hết sức đáng lo ngại. Hứng thú học
tập không có, kiến thức nghèo nàn, thiếu hụt, vốn từ quá ít ỏi, cảm nhận văn học
sơ sài, hời hợt, thiếu chiều sâu... đó là một trong những nguyên nhân khiến cho
việc dạy - học các tác phẩm thơ trữ tình trung đại chính khóa không đạt được
mục tiêu chứ chưa nói gì đến tác phẩm đọc thêm vốn các em đã có tâm lí lâu nay
xem nhẹ là không được đưa vào chương trình thi.
2.2.4 Gia đình học sinh
Đối tượng học sinh của tôi tất cả các em đều là người miền núi cao thuộc
dân tộc thiểu số, cha mẹ ít quan tâm, điều kiện kinh tế gia đình còn nhiều khó
khăn, quãng đường di chuyển đến trường rất xa nhà nên đi lại rất vất vả, vốn từ
vựng vừa yếu vừa thiếu, vật chất thiếu thốn nên chưa đầu tư vào việc mua sách
tham khảo cho con, vốn cổ văn của các em vì thế càng trở nên nghèo nàn.
2.3. Các giải pháp giải quyết vấn đề.
2.3.1Chuẩn bị
Qua quá trình giảng dạy các tác phẩm thơ trữ tình trung đại ở lớp 7 tôi đã
tiến hành những biện pháp tổ chức hoạt động dạy - học nhằm nâng cao chất
lượng học tập của học sinh. Các giải pháp này được xây dựng trên cơ sở dạy học theo hướng tích hợp và tích cực.
a. Giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt
động.
Đọc văn bản, tìm hiểu kĩ phần chú thích để qua đó giáo viên, học sinh có thể:
- Xác định rõ phần kiến thức cần giảng dạy, loại bỏ phần kiến thức không
trọng tâm để giảm tải.
- Học sinh trả lời các câu hỏi của giáo viên và nhận xét về câu trả lời của
các học sinh khác.
9
- Học sinh liên hệ, vận dụng các kiến thức lịch sử để có thể hiểu được nội
dung của tác phẩm → trả lời được câu hỏi của giáo viên.
d. Giáo viên là người bình giảng những "nhãn tự" (mắt thơ) của bài thơ.
“Nhãn tự” là điểm sáng trong một bài thơ làm phát lộ tài năng của người
nghệ sĩ. Muốn tìm hiểu bài thơ không thể bỏ qua các nhãn tự. Cổ nhân đã dạy:
Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, soi vào đôi mắt sẽ thấy được hồn người, cái ẩn chứa
sâu kín bên trong, cái vô thanh không thể nói được thành lời, và với “nhãn tự”,
qua đó có thể thấy được tất cả các thông điệp người viết nhắn nhủ, tâm tư kí
thác, “đọc” được cái hồn của tác phẩm. Vì thế việc phát hiện và bình giảng nhãn
tự của bài thơ là vô cùng quan trọng, đây là cách làm mà giáo viên góp phần neo
đậu tác phẩm đó trong lòng học sinh.
2.3.2Thực nghiệm trên lớp.
Hình thức: Thực hiện bài dạy trên lớp 7A trường THCS Lâm Phú, năm
học 2016 - 2017.
Bài dạy:
Đọc thêm: Sau phút chia li.
(Trích Chinh phụ ngâm khúc)
(Đoàn Thị Điểm)
Cách thức tiến hành.
Phương pháp: Giáo viên tổ chức dạy học theo phương pháp kết hợp giữa
đọc sáng tạo, gợi tìm và đặt câu hỏi.
Bước chuẩn bị:
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ tác phẩm theo đúng yêu cầu về giọng
- Nêu hiểu biết của em về thể thơ 2. Tác phẩm:
song thất lục bát?
- Được viết bằng chữ Hán nhưng
- Học sinh làm việc độc lập.
được diễn Nôm bằng thể thơ song
- Học sinh phát biểu - học sinh khác thất lục bát.
nhận xét - giáo viên nhận xét bổ sung.
- Thể thơ song thất lục bát là thể thơ
- Giáo viên chiếu lên máy những nét do người VN sáng tạo gồm hai câu 7
khái quát về các tác giả và đặc điểm chữ (song thất) tiếp đến hai câu 6 - 8
của thể thơ song thất lục bát.
(lục bát).
- GV nêu yêu cầu cách đọc .
- GV đọc mẫu một lần.
- 2 HS đọc theo hướng dẫn của GV HS khác nhận xét cách đọc.
3. Đọc, từ ngữ khó.
→ GV nhận xét cách đọc của HS.
Hoạt động 2: Hướng dẫn học sinh II. Hướng dẫn tìm hiểu chi tiết.
hỏi (sgk). Hs nhận xét, gv kết luận.
trưởng.
+ Sự chia li về thể xác, cuộc sống
nhưng tâm hồn vẫn gắn bó tới tha
thiết.
→ Sự oái oăm, nghịch chướng: gắn
- GV tiểu kết .
bó mà không được gắn bó, gắn bó
mà phải chia li.
3. Bốn câu thơ cuối:
- GV yêu cầu HS đọc diễn cảm 4 câu
cuối của đoạn.
- Nghệ thuật: phép đối, điệp ngữ,
- Trên cơ sở sự chuẩn bị ở nhà của hs điệp ý (cùng, thấy, ngàn dâu, xanh
12
gv yêu cầu các nhóm trình bày bài xanh, xanh ngắt, cùng trông...): Nỗi
chuẩn bị của mình theo nội dung câu sầu chia li oái oăm, nghịch chướng
hỏi (sgk). Các nhóm nhận xét, bổ đến cực độ.
sung,
- Nỗi buồn lan tỏa vào trời xanh
mênh mông, vô tận.
sâu sắc, biết tự bộc lộ cảm xúc của mình, biết đánh giá về tác phẩm. Học sinh có
điều kiện gợi nhắc kiến thức của các môn học khác như Lịch sử trong giờ học
Văn, học sinh sẽ biết được về phép điệp ngữ trước khi học giờ Tiếng Việt, học
13
sinh sẽ có thói quen soạn bài, chuẩn bị bài có ý thức tìm vấn đề chính, vấn đề cơ
bản, cách khai thác vấn đề có hiệu quả. Để rồi trước các vấn đề trong cuộc sống
các em có cảm hứng, cách giải quyết hợp lí. Điều này được kiểm nghiệm qua
bài kiểm tra 15 phút (cảm nhận của em về nỗi sầu của người chinh phụ qua
đoạn trích) với kết quả mà trong đó tỉ lệ đạt điểm khá giỏi là tương đối cao.
Bảng thống kê kết quả khảo sát của học sinh sau khi học xong bài học lớp 7A:
TSHS
40
Giỏi
SL
TL %
4
10
Khá
SL
TL %
8
20
Trung bình
SL
TL %
Thứ hai khi tiến hành tiết dạy giáo viên cần linh hoạt trong các phần, các
khâu, trong vai trò là người tổ chức các hoạt động cho học sinh qua đó tập trung
sự thu hút và hứng thú của các em trong môn dạy của mình.
Thứ ba thông qua tiết dạy giúp giáo viên hiểu thêm các mặt tâm lí, sở trường
sở đoản của từng học sinh trong lớp học, rồi từ đó có phương pháp giáo dục
thích hợp cho từng đối tượng nhằm khơi gợi tiềm năng vốn có của mỗi em mà
định hướng, góp ý kịp thời về sự lựa chọn nghề nghiệp cho các em sau này.
Thứ tư để thực hiện một tiết dạy văn bản văn học trung đại phần đọc thêm
được triển khai theo đúng hướng và đạt hiệu quả như mong muốn giáo viên phải
không ngừng cập nhật thông tin về tác phẩm, nắm bắt kịp thời những điều chỉnh
về chuyên môn của cấp trên như phương pháp, dung lượng kiến thức toàn bài
dạy, hàm lượng kiến thức cho từng phần, từng mục...
Thứ năm với việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm tại lớp 7A trường THCS
Lâm Phú, tôi đã góp một luồng gió mới vào công tác giảng dạy môn học, giúp
tiết học bớt nhàm chán mà trở nên nhẹ nhàng hơn, hấp dẫn học sinh hơn. Vì thế
đã được sự ủng hộ nhiệt tình từ phía học sinh, đồng nghiệp, được chuyên môn
nhà trường đánh giá cao và thấy tính ứng dụng rất lớn nên đã cho ứng dụng ngay
tại nhà trường và đã phần nào mang đến hiệu quả.
3.2. Kiến nghị
Để nâng cao chất lượng dạy và học, đáp ứng yêu cầu giáo dục trong giai
đoạn hiện nay và đặc biệt là thói quen ngại học văn của học sinh. Tôi nhận thấy
các giáo viên cần có sự hợp tác trao đổi, bày tỏ những thắc mắc khó khăn trong
giảng dạy để tìm cách tháo gỡ. Bởi hiệu quả những giải pháp đưa ra cần có sự
kiểm chứng trong thời gian nhất định, không phải một sớm một chiều mà có thể
có được. Để thường xuyên trao đổi kinh nghiệm giữa các giáo viên đặc biệt là
khó khăn của giáo viên vùng cao nên việc tổ chức giao lưu, trao đổi thông qua
mạng để giáo viên có thể thuận lợi hơn trong trao đổi chuyên môn là rất cần
thiết.
2. Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học cơ sở môn Ngữ văn
( Nhà xuất bản Giáo dục).
3. Sách giáo khoa Ngữ văn 7 – Tập 1(Nhà xuất bản Giáo dục).
4. Sách giáo viên Ngữ văn 7 – Tập 1(Nhà xuất bản Giáo dục).
17