Tác động của các cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô việt nam và phản ứng của chính sách tiền tệ một cách tiếp cận theo mô hình SVAR - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

THÁI THỊ CẨM HỢP

TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CÚ SỐC GIÁ DẦU LÊN
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM VÀ
PHẢN ỨNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ:
MỘT CÁCH TIẾP CẬN THEO MÔ HÌNH SVAR

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
********

THÁI THỊ CẨM HỢP

TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CÚ SỐC GIÁ DẦU LÊN
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM VÀ
PHẢN ỨNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ:
MỘT CÁCH TIẾP CẬN THEO MÔ HÌNH SVAR

Chuyên ngành : TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Mã số : 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu ................................................................... 10
1.2.1.

Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................ 10

1.2.2.

Câu hỏi nghiên cứu .................................................................................. 10

1.3. Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu ........................................................... 10
1.4. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 11
1.5. Dữ liệu nghiên cứu ....................................................................................... 11
1.6. Bố cục bài nghiên cứu .................................................................................. 12
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÀI LIỆU NGHIÊN
CỨU TRƯỚC ĐÂY ............................................................................................ 13
2.1. Cơ chế truyền dẫn của biến động giá dầu thô lên các hoạt động kinh tế vĩ
mô. ...................................................................................................................... 13
2.2. Tổng quan về các nghiên cứu trước đây....................................................... 17
2.2.1.

Nghiên cứu nước ngoài ............................................................................ 17


2.2.1.1.

Khuynh hướng thứ nhất: Biến động của giá dầu thể hiện qua sự gia

tăng ròng của giá đầu được đo lường bằng phương pháp HI. ............................... 17
2.2.1.2.



Các ràng buộc trong mô hình .............................................................. 30

3.1.5.

Hàm phản ứng đẩy: .................................................................................. 32

3.2. Dữ liệu nghiên cứu ....................................................................................... 32
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .......................................................... 34
4.1. Tổng quan về thị trường dầu thô và các hoạt động kinh tế vĩ mô ở Việt Nam
giai đoạn 2002 đến 09/2016. ................................................................................. 34
4.1.1.

Tổng quan về thị trường dầu thô thế giới giai đoạn từ 2002 đến 9/2016 34

4.1.2.

Biến động thị trường dầu thế giới và nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam ... 35

4.1.3.

Chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2002-09/2016 ...................... 37

4.2. Thống kê mô tả biến ..................................................................................... 40
4.3. Kết quả nghiên cứu ....................................................................................... 42
4.3.1.

Kiểm định tính dừng ................................................................................ 42

4.3.2.

1

ADF

Kiểm định Augmented Dickey - Fuller

2

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

3

KPSS

Kiểm định Kwiatkowski – Phillips – SchimidtShin

4

NHNN

Ngân hàng Nhà nước

5

NSNN

Ngân sách nhà nước


Bảng 4.4 Độ trễ tối ưu trong mô hình VAR với biến CV_OP ............................. 46
Bảng 4.5 Độ trễ tối ưu trong mô hình VAR với biến HI ..................................... 46
Bảng 4.6 Kiểm định phương sai đổi và tự tương quan trong phần dư của mô hình
SVAR dựa trên CV_OP với độ trễ là 7. ................................................................ 47
Bảng 4.7 Kiểm định phương sai đổi và tự tương quan trong phần dư của mô hình
SVAR dựa trên HI với độ trễ là 7 ......................................................................... 48
Bảng 4.8 Các ước tính từ phân rã phương sai. ..................................................... 58


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Sơ đồ kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô. ....... 13
Hình 4.1 Giá dầu thô thế giới WTI giai đoạn từ 2002 đến 09/2016 .................... 35
Hình 4.2 Lãi suất tái cấp vốn giai đoạn 01/2002 đến 09/2016. ........................... 38
Hình 4.3 Hàm phản ứng của I, CPI, IPI và EX đối với biến động giá dầu được đo
lường bằng CV_OP và hàm phản ứng của I đối với Fed) ..................................... 55
Hình 4.4 Hàm phản ứng của I, CPI, IPI và EX đối với sự gia tăng giá dầu ròng
được lường bằng phương pháp HI. ....................................................................... 57


1

TÓM TẮT

Nghiên cứu xác định tác động của biến động giá dầu lên các hoạt động
kinh tế vĩ mô của Việt Nam và phản ứng của chính sách tiền tệ. Tác giả sử dụng
mô hình VAR cấu trúc (SVAR) dựa trên dữ liệu tháng trong giai đoạn từ tháng
1/2002 đến 09/2016, các ước lượng của mô hình EGARCH cho thấy tác động bất
đối xứng có ý nghĩa của các cú sốc từ giá dầu lên các biến động có điều kiện của
giá dầu. Hàm phản ứng đẩy của mô hình SVAR cho thấy sản xuất công nghiệp
IPI của Việt Nam sụt giảm trong ngắn hạn khi có cú sốc đến từ sự bất ổn của giá

những dự báo này lại trở thành quá lạc quan khi những giao dịch trên thị trường
giao ngay vào tuần thứ 2 tháng 12/2015 giá dầu đã rơi về mức 35 USD/thùng và
đó vẫn chưa phải là đáy. Kịch bản giá dầu của những năm 1986 dường như lặp
lại.
Việc giá dầu năm 2015 giảm xuống mức 35 USD/thùng là hoàn toàn có
cơ sở khoa học và thực tiễn. Về phương diện lý thuyết, khi phân tích giá dầu, cần
phân biệt rõ ràng các yếu tố giải thích dao động của giá trong ngắn hạn và dài hạn
là rất khác nhau. Nếu trong ngắn hạn, đặc trưng ít co giãn của lượng cung và
lượng cầu so với sự thay đổi của giá; ảnh hưởng từ các thể thức thương mại quốc
tế về dầu mỏ trên các thị trường vật lý và thị trường chứng khoán làm cho giá dầu
vô cùng nhạy cảm và biến động mạnh thì trong dài hạn, yếu tố quyết định mức
giá sẽ là chi phí sản xuất và cung ứng. Đó là nguyên lý kinh tế cơ bản.


3

Nếu như giá dầu dao động cao hơn nhiều so với chi phí sản xuất và kéo
dài theo thời gian, các hiệu ứng tiết kiệm và hiệu ứng thay thế từ phía cầu sẽ làm
lượng cầu giảm. Hiệu ứng đầu tư (giá cao hấp dẫn đầu tư) và hiệu ứng chi phí
(được hiểu là khi giá cao những mỏ dầu trước đây không khai thác kinh tế trở
thành khai thác kinh tế) từ phía cung sẽ làm cho lượng cung tăng. Khi đó, giá dầu
sẽ điều chỉnh giảm về gần chi phí. Tương tự, nếu giá dầu dao động ở mức thấp và
cũng kéo dài, các hiệu ứng từ hai phía sẽ tác động theo chiều ngược lại làm cho
lượng cầu tăng và lượng cung giảm, giá dầu chắc chắn sẽ điều chỉnh tăng lên.
Tóm lại, trong dài hạn, giá dầu vận động theo các chu kỳ cao, thấp xung
quanh chi phí sản xuất. Chúng ta có thể quan sát các chu kỳ giá đặc biệt là từ
khủng hoảng dầu lửa lần thứ nhất năm 1973.
Trở lại với giá dầu trong năm 2015, chúng ta đều biết trước đó từ năm
2004 cho đến năm 2014, giá tăng liên tục từ mức 50 USD/thùng và đạt đỉnh ở giai
đoạn 2011-2014 khi giá dầu luôn ở mức trên 100 USD/thùng. Giá dầu tăng cao

đơn xăng dầu của người tiêu dùng Việt Nam. Trên thị trường nội địa, chúng ta
cũng đã nhận được các đợt điều chỉnh giảm liên tục giá các sản phẩm xăng dầu từ
điều hành của Nhà nước. Một khi chi tiêu cho xăng dầu giảm thì thu nhập khả
dụng của người tiêu dùng còn lại cho các sản phẩm hàng hóa khác sẽ tăng lên và
sự gia tăng sức mua cho người dân trong nước sẽ góp phần làm tăng GDP.
Đặc biệt, việc giảm giá dầu thành phẩm lại là cơ hội để phát triển các
hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước khi xăng dầu là yếu tố đầu vào quan
trọng của rất nhiều hoạt động kinh tế. Thông qua phát triển kinh tế trong nước và
xuất khẩu phi dầu mỏ, cơ cấu thu NSNN sẽ chuyển dịch sang nhiều hơn vào thu
từ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước. Đây là cơ hội để Nhà nước có thể


5

giải quyết các vấn đề bất cập về cơ cấu thu NSNN với nguy cơ thiếu bền vững do
vẫn dựa rất lớn vào thu từ khai thác dầu mỏ (lĩnh vực phụ thuộc rất nhiều vào
biến động trên thị trường quốc tế). Định hướng này là hoàn toàn phù hợp trong
điều hành kinh tế vĩ mô, đặc biệt là khi kinh tế Việt Nam đang trong quá trình
phục hồi và tăng trưởng trở lại. Đó là chưa kể các hiệu ứng tích cực khác của việc
giá dầu giảm tới kinh tế của đất nước như việc hỗ trợ tích cực cho việc kiểm soát
lạm phát.
Có thể thấy biến động trên thị trường dầu thô thế giới có một tác động
nhất định theo như theo logic suy luận ở trên, vì vậy việc nghiên cứu tác động của
sự bất ổn giá dầu thô đến các hoạt động kinh tế vĩ mô tại Việt nam là cần thiết và
cần được tiến hành đặc biệt trong giai đoạn này.
Ngoài ra, một vấn đề kinh tế năng lượng đã và đang là đề tài tranh luận
sôi nổi trong những năm gần đây là tác động của cú sốc giá dầu lên hoạt động
kinh tế vĩ mô có một loạt các nghiên cứu cho thấy tác động có ý nghĩa của biến
động giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô (Aguriar-Conraria and Soares, 2011;
Iwayemi and Fowowe,2011; Milani, 2009; Holmes and Wang, 2003). Reynolds

Thứ nhất, sự thay đổi trong giá dầu có phải là nguồn gốc của sự bất đối xứng hay
không? Nếu nó được xem là nguồn gốc thì tác động có thể của sự bất đối xứng
này lên tổng sản lượng là gì?
Thứ hai, nếu sự bất ổn trong giá dầu có một tác động tiêu cực lên sản lượng thì
chính sách tiền tệ sẽ phản ứng như thế nào để đối phó?
Thứ ba, nguyên nhân của sự biến động đáng kể của giá dầu sau năm 1986 là gì?
Tranh luận về biến động về giá dầu và tác động của nó lên hoạt động kinh
tế vĩ mô xuất phát từ lý thuyết đầu tư dưới sự bất ổn được thiết lập bởi Bernanker


7

(1983) và Henry (1974). Họ cho rằng sự bất ổn càng cao có thể làm giảm đầu tư
hiện tại và do đó có thể gây ra một tác động kéo dài lên tổng sản lượng.
Bernanker (1983) cho rằng biến động trong giá năng lượng sẽ khiến các
doanh nghiệp trì hoãn các quyết định đầu tư để tối ưu hóa giá trị doanh nghiệp. Vì
vậy, sẽ dẫn đến sự sụt giảm trong tổng cầu.
Friedman (1977) cho thấy rằng biến động trong lạm phát có thể gây ra
một sự gia tăng tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên vì giảm hiệu quả phân bổ và dẫn đến
một sự sụt giảm trong sản lượng. Một hàm ý quan trọng phát sinh từ quan điểm
của Friedman là nếu sự biến động trong lạm phát là nguyên nhân của sự sụt giảm
sản lượng thì sự biến động trong giá dầu tương tự cũng là nguyên nhân của biến
động giá cả và sự sụt giảm sản lượng. Người ta có thể cho rằng, sự sụt giảm trong
giá cả và sản lượng có thể là vì những cú sốc cầu tiêu cực đến từ sự sụt giảm
trong tiêu dùng các hàng hóa lâu bền và các hàng hóa quan trọng của các cá nhân
và gia đình. Cụ thể, giá dầu cao hơn và sự sụt giảm kéo theo của nhu cầu sử dụng
dầu tác động lên các thị trường tiêu dùng và sản xuất. Giá dầu gia tăng có thể làm
giảm sự dịch chuyển lao động dẫn đến độc quyền mua và nguồn nhân lực thấp
hơn (Cervero, 2001). Giá dầu cao hơn cũng có thể giảm dịch chuyển sản phẩm
dẫn đến cạnh tranh độc quyền địa lý và chi phí sản xuất cao hơn, đặc biệt đối với

đối với hàng hóa công nghiệp toàn cầu. Giả định một cấu trúc đệ quy, Kilian
(2009) nhận dạng 3 cú sốc khác nhau lên thị trường dầu thô toàn cầu: một cú sốc
cung dầu thô, một cú sốc đối với nhu cầu cho tất tả hàng hóa công nghiệp toàn
cầu, và một cú sốc cầu cụ thể cho thị trường dầu thô toàn cầu. Kết quả của tác giả
gợi ý rằng hàm ý của giá dầu cao hơn đối với GDP thật của Mỹ, CPI-lạm phát
phụ thuộc vào nguyên nhân của sự gia tăng giá dầu. Kilian (2009) nhận thấy rằng
sự gia tăng trong nhu cầu dự phòng dự phòng dầu thô gây ra những sự gia tăng
lớn lập tức, dai dẳng trong giá dầu thô thực; sự gia tăng trong tổng cầu đối với


9

hàng hóa công nghiệp dẫn đến sự gia tăng chậm nhưng bền vững trong giá dầu
thô thật và sự sụt giảm sản lượng dầu thô gây ra sự gia tăng tức thời và nhỏ trong
giá dầu thô thực trong năm đầu tiên. Mô hình của Kilian (2009) không tính đến
tương tác giữa thị trường dầu toàn cầu nền kinh tế vĩ mô Mỹ và chính sách tiền tệ.
Có 2 khía cạnh riêng biệt trong nghiên cứu của tác giả dựa trên các tài
liệu nghiên cứu trước đây.
Thứ nhất, tác giả xem xét 2 phương pháp quan trọng đo lường cú sốc giá
dầu ngoài phạm vi nghiên cứu của Federer (1996). Đó là biến động có điều kiện
được ước lượng bằng mô hình EGARCH của Nelson (1991), và phương pháp
Hamilton đo lường sự gia tăng giá dầu ròng. Cả hai phương pháp này thể hiện
vấn đề về bất đối xứng được nhìn nhận trong mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và
hoạt động kinh tế vĩ mô. Phương pháp Hamilton là một phương pháp quan trọng
đo lường cú sốc giá dầu ở Mỹ (Nathan và cộng sự, 1999). Các ước lượng của
thước đo biến động có điều kiện và thước đo Hamilton sau đó được sử dụng cho
mô hình VAR để xác định phản ứng của các nhân tố vĩ mô đối với các cú sốc
biến động giá dầu. Những sau cuộc khủng hoảng tài chính 2007 giá dầu biến
động hơn và chúng ta nên đưa biến động này vào mô hình kinh tế lượng để giải
thích vai trò của sự thay đổi giá dầu trong nền kinh tế vĩ mô.

kinh tế thay đổi như thể nào?

-

Sản xuất công nghiệp Việt Nam phản ứng như thế nào đối biến động giá
dầu?

-

Biến động giá dầu ảnh hưởng như thế nào đến tỷ giá hối đoái của Việt
Nam?

-

Chính sách tiền tệ của Việt Nam sẽ phản ứng lại với các cú sốc từ biến
động giá dầu như thế nào?

1.3.

Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Biến động của giá dầu thô thế giới và các hoạt động

kinh tế vĩ mô của Việt Nam như lạm phát, chính sách tiền tệ, chỉ số sản xuất công
nghiệp, tỷ giá hối đoái giai đoạn từ tháng 1/2002 đến 09/2016.
Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa biến động giá dầu thô thế giới
được đo lường thông qua hai phương pháp biến động có điều kiện và thước đo
HI, và các biến vĩ mô của nền kinh tế.


11

biến động giá dầu (CV_OP, HI) và lãi suất liên bang Mỹ (Fed)


12

1.6.

Bố cục bài nghiên cứu
Luận văn được trình bày trong 5 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu trình bày mô hình nghiên cứu, mô tả

các biến và dữ liệu nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu trình bày và phân tích kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận.


13

CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÀI LIỆU NGHIÊN
CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1.

Cơ chế truyền dẫn của biến động giá dầu thô lên các hoạt động kinh
tế vĩ mô.

Giá dầu tăng

Sản lượng giảm


Chi tiêu tăng

Lãi suất giảm

Lãi suất tăng

Đầu tư giảm

Kiểm soát lạm phát

Sản lượng giảm
trong dài hạn

Hình 2.1 Sơ đồ kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô.
Nguồn: Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Liên Hoa (2012)


14

Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Liên Hoa (2012), dựa trên
nghiên cứu của Brown và Yucel (2002) và Tang và cộng sự (2010) đã đề cập đến
kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô, sơ đồ hình 2.1 giải
thích sự thay đổi giá dầu lên các nền kinh tế thông qua các kênh truyền dẫn chính
như sau:
Cú sốc cung dầu: Sự gia tăng giá dầu có thể được xem là một chỉ báo từ
một cú sốc trong tổng nguồn cung dầu. Sự gia tăng giá chính là báo hiệu sự khan
hiếm của nguồn năng lượng vốn được xem là nguyên liệu đầu vào cơ bản của sản
xuất. Do đó, tốc độ tăng trưởng sản lượng và năng suất của các ngành công
nghiệp sẽ sụt giảm. Điều này dẫn đến giảm mức tăng lương thực và tăng tỷ lệ thất

thuyết lạm phát do chi phí đẩy, ba loại chi phí thường gây ra lạm phát là: tiền
lương, thuế gián thu và giá nguyên liệu nhập khẩu. Dầu được xem là nguyên liệu
nhập khẩu đầu vào của mọi ngành sản xuất kinh doanh. Khi giá dầu tăng, kỳ vọng
lạm phát sẽ tăng, do chi phí đầu vào doanh nghiệp tăng. Tiếp theo đó, khả năng
mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị thu hẹp do chi phí đầu vào
tăng. Theo thời gian, nếu giá dầu tiếp tục tăng cao sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng
và các giá trị doanh nghiệp. Như vậy, khi lạm phát tăng xuất phát từ cú sốc tăng
giá dầu thì chi phí sản xuất tăng, làm giảm lợi nhuận và đầu tư cũng giảm theo.
Nếu người dân nhìn nhận đây là một cú sốc ngắn hạn, họ sẽ giữ ổn định chi tiêu
bằng cách tiết kiệm ít hơn và tăng vay mượn, điều này làm tăng lãi suất thực cân
bằng. Tăng trưởng sản lượng chậm lại, lãi suất thực tăng sẽ làm giảm lượng cầu
đối với số dư tiền mặt thực tế, và với mức tăng trưởng cung tiền nhất định, tỷ lệ
lạm phát sẽ tăng.
Như vậy, giá dầu tăng sẽ làm giảm tăng trưởng GDP, làm tăng lãi suất thực và
nguy cơ tăng lạm phát. Nếu người dân và các nhà sản xuất nhìn thấy lạm phát có
xu hướng tăng sẽ phát sinh nhu cầu phòng ngừa rủi ro lạm phát bằng cách cắt


16

giảm nhu cầu dầu mỏ trong dài hạn. Và tiếp đến, nhà sản xuất sẽ điều chỉnh sản
lượng cung dầu. Khi cung dầu và cầu dầu thay đổi thì giá dầu sẽ thay đổi theo (Lý
thuyết cung cầu hàng hóa). Đây cũng có thể chính là cú sốc phòng ngừa (oil
specific demand shocks), theo như quan điểm của Kilan (2009).
Mặc dù sớm nổi lên như một cách giải thích cho tác động của cú sốc giá
dầu đến nền kinh tế, chính sách tiền tệ lại dần bị thay thế bởi lý thuyết chu kỳ
kinh doanh thực. Tuy nhiên, sự thất bại trong việc giải thích mối quan hệ giữa giá
dầu và nền kinh tế trong những năm 80 và 90 đã khiến các nhà nghiên cứu phải
xem xét lại mô hình cú sốc cung thuần túy và tìm hiểu những kênh truyền dẫn
khác. Trong đó phải kể đến những thay đổi trong việc điều hành chính sách tiền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status