BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN NGỌC DIỆP
MỐI QUAN HỆ PHÁP LÝ GIỮA TRỌNG TÀI
THƢƠNG MẠI VÀ TÒA ÁN TRONG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 60380108
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN MINH NGỌC
Hà Nội - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi và chưa từng được
công bố trước đây. Mọi số liệu, thông tin sử dụng đều trung thực. Những nội dung
tham khảo đều được trích dẫn nguồn đầy đủ theo đúng quy định.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của luận văn.
Học viên:
Nguyễn Ngọc Diệp
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn và lòng biết ơn sâu sắc nhất tới Tiến sĩ Trần
Minh Ngọc đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn thạc sỹ
2.2.Nội dung mối quan hệ pháp lý giữa Trọng tài thương mại và Tòa án qua sự
giám sát của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài thương mại..................... 44
2.2.1.Tòa án giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài về thỏa
thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyền
của Hội đồng trọng tài....................................................................... 44
2.2.2. Đăng ký phán quyết của Trọng tài vụ việc............................... 48
2.2.3. Chế định hủy phán quyết trọng tài........................................ 51
2.2.4. Công nhận và thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài......... 59
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả mối quan hệ pháp lý giữa Trọng tài
thương mại và Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại Việt
Nam............................................................................................. 66
3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả mối quan hệ pháp lý giữa Trọng tài
thương mại và Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế............... 66
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả mối quan hệ pháp lý giữa Trọng tài thương
mại và Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế........................... 71
3.2.1. Các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về
mối quan hệ pháp lý giữa Trọng tài thương mại và Tòa án trong giải quyết tranh
châp thương mại quốc tế..................................................................... 71
3.3.2. Các giải pháp khác............................................................ 87
KẾT LUẬN 90
Danh mục tài liệu tham khảo
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS: Bộ luật tố tụng dân sự
CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Luật TTTM: Luật Trọng tài thương mại
trên thực tiễn, ngoài ra cũng phải kể đến những bất cập trong cơ chế quản lý, giám sát,
trình độ của thẩm phán, trọng tài viên,... ảnh hưởng không nhỏ đến mối quan hệ pháp lý
này.
Vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận chung, thực trạng pháp luật về mối
quan hệ giữa trọng tài thương mại và Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại
quốc tế, đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả mối quan hệ là cần thiết trong giai đoạn hiện
nay để đảm bảo cho việc giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài thực sự đạt hiệu
quả. Chính vì vậy tác giả chọn đề tài "Mối quan hệ pháp lý giữa trọng tài thương mại
và Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế" để nghiên cứu.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Mối quan hệ pháp lý giữa trọng tài thương mại và Tòa án trong giải quyết tranh
chấp thương mại quốc tế là vấn đề đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên
cứu khoa học như luận văn thạc sỹ luật học Mối quan hệ giữa Tòa án và trọng tài
trong giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài, của tác giả Tào Thị Huệ
năm 2012; bài viết “Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài và vai trò của Tòa án trong
quá trình tố tụng trọng tài”, của tác giả Đào Trí Úc đăng trên tạp chí Khoa học
ĐHQGHN, số 26/2010. Bài viết “Hoàn thiện pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam
trong việc phân định thẩm quyền của Tòa án và trọng tài thương mại khi các bên có
thỏa thuận trọng tài” của tác giả Vũ Thị Hương, đăng trên tạp chí Nghề luật, số 1/2015;
bài viết “Khái quát về trọng tài, mối quan hệ giữa Tòa án và trọng tài ở Liên bang Nga
– Kinh nghiệm đối với Việt Nam” của tác giả Trần Hoàng Hải đăng trên tạp chí Khoa
học pháp lý số 2/2011, ...Tuy nhiên, những công trình khoa học trên một số nội dung
mới chỉ phân tích quy định của pháp luật tại thời điểm nghiên cứu, hoặc mới khai thác
một khía cạnh trong mối quan hệ này mà chưa đi sâu nghiên cứu một cách tổng quát
những quy định của pháp luật về mối quan hệ pháp lý giữa Trọng tài thương mại và
Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế. Hơn nữa, hiện nay nhiều văn
bản luật mới ra đời như Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết 01/2014/NQHĐTP có tác động không nhỏ đến mối quan hệ này. Trong xu thế hội nhập hiện nay,
việc nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn
-Tòa án giải quyết khiếu nại quyết định của hội đồng trọng tài về thỏa thuận
trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội
đồng trọng tài;
- Đăng ký phán quyết của trọng tài vụ việc;
- Hủy phán quyết của trọng tài;
- Công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài.
Qua đó nêu lên những giải pháp hoàn thiện mối quan hệ pháp lý giữa Trọng tài
thương mại và Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Nghiên cứu đề tài này, luận văn có những đóng góp mới về mặt khoa học trên
những khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, phân tích có tính hệ thống những vấn đề lý luận về mối quan hệ pháp lý
giữa trọng tài thương mại và Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế.
Thứ hai, luận văn đi sâu phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về mối quan hệ pháp
lý giữa trọng tài thương mại và Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế.
Thứ ba, đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả mối quan hệ pháp lý giữa trọng tài
thương mại và Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại Việt Nam.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về mối quan hệ pháp lý giữa Trọng tài thương mại và
Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về mối quan hệ pháp lý giữa Trọng
tài thương mại và Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả mối quan hệ pháp lý giữa Trọng tài
thương mại và Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại Việt Nam
đầu tư, chuyển giao công nghệ, và nhiều nội dung mới khác như tiêu chuẩn lao động,
môi trường, cạnh tranh,...1
Trong phần chú thích khoản 1 Điều 1 Luật Mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế
được Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) năm
1985, sửa đổi, bổ sung năm 2006 (Luật Mẫu của UNCITRAL), thuật ngữ “thương
mại” được giải thích như sau: “Thuật ngữ “thương mại” cần được giải thích theo nghĩa
rộng liên quan đến tất cả các vấn đề phát sinh từ các quan hệ có bản chất thương mại,
dù là quan hệ hợp đồng hoặc không phải làm quan hệ hợp đồng. Những quan hệ có bản
chất thương mại bao gồm, giao dịch thương mại để cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa
hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; tư vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tư; tài chính; ngân
hàng; bảo hiểm; thỏa thuận thăm dò hoặc khai thác; liên doanh và các hình thức hợp
tác công nghiệp hoặc kinh doanh khác; vận tải hàng hóa hoặc hành khách bằng đường
hàng không; đường biển, đường sắt hoặc đường bộ.”
Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 quy định: “hoạt động thương
mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ,
đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Như vậy, thuật ngữ thương mại tuy được quy định với ngôn từ khác nhau, song
đều dùng để chỉ những hoạt động có mục đích sinh lợi của thương nhân. Đây là đặc
điểm cơ bản để phân biệt quan hệ thương mại với quan hệ dân sự như thừa kế, hợp
đồng tặng cho tài sản..., các bên tham gia vào quan hệ dân sự không có mục đích lợi
nhuận, mà chỉ có mục đích sinh hoạt, tiêu dùng.
Thứ hai, về “tính quốc tế”
Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các thương nhân có
quốc tịch khác nhau ở các nước khác nhau nhằm mục đích lợi nhuận
. Theo một cách tiếp cận khác, yếu tố nước ngoài (quốc tế) trong quan hệ thương mại quốc tế dựa
vào ba tiêu chí: chủ thể quan hệ; căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ và đối tượng
quan hệ. Các quan hệ thương mại có yếu tố nước ngoài được hiểu là những quan hệ xã
hội phát sinh trong hoạt động thương mại mà: “Một bên hoặc các bên là người nước
tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.”
Như vậy, tính quốc tế trong thương mại quốc tế tựu chung lại đó là sự loại bỏ tất
cả những trường hợp, mà các yếu tố của giao dịch thương mại cụ thể chỉ liên quan tới
một quốc gia duy nhất, giao dịch cần mở rộng ra ngoài biên giới quốc gia như: quốc
tịch của các thương nhân tham gia giao dịch khác nhau, hàng hóa là đối tượng hợp
đồng di chuyển qua biên giới, hay hợp đồng được thực hiện ở những nước khác nhau,
hoặc căn cứ làm phát sinh thay đổi, chấm dứt quan hệ xảy ra ở nước ngoài,...
Thứ ba, về “tranh chấp thương mại”
Tranh chấp thương mại luôn là những tranh chấp phát sinh, bắt nguồn từ các
giao dịch thương mại cho dù nó có hợp đồng hay không.
Theo từ điển luật học Black’s law dictionary, tranh chấp chính là những mâu thuẫn,
bất đồng về những yêu cầu hay lợi ích giữa các bên, sự đòi hỏi về yêu cầu hay lợi ích của
một bên được đáp ứng bằng một yêu cầu hay lý lẽ trái ngược từ bên kia.
Tại Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2000, khái niệm tranh chấp
thương mại được nêu tại khoản 4 Điều 9 Chương 1 - Thương mại hàng hóa “tranh
chấp thương mại là tranh chấp phát sinh giữa các bên trong một giao dịch thương
mại”. Và tại khoản 2 điều 7 Chương I, tranh chấp thương mại là “các tranh chấp phát
sinh từ các giao dịch thương mại được ký kết giữa các công dân và công ty của Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa iệt Nam và các công dân và công ty của Hợp chủng quốc Hoa
Kỳ”. Tìm hiểu thêm các quy định tại chương II - Quyền sở hữu trí tuệ, chương III Thương mại dịch vụ và chương IV - Phát triển quan hệ đầu tư, có thể khái quát tranh
chấp trong thương mại theo Hiệp định này như sau: Tranh chấp bao gồm tất cả những
bất đồng phát sinh từ hoạt động thương mại (thương mại hàng hóa, thương mại dịch
vụ, thương mại liên quan đến đầu tư, thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ), những
khiếu nại, khiếu kiện về các hành vi xâm phạm các quyền tự do thương mại, đầu tư,
quyền sở hữu trí tuệ được các bên bảo hộ theo Hiệp định. Chủ thể của tranh chấp gồm
công dân, công ty, cơ quan nhà nước có thẩm quyền và bản thân chính phủ, các cơ
quan phi chính phủ trong hoạt động giải thích và thi hành pháp luật để thực hiện Hiệp
định4
tài viên để họ xem xét và ra phán quyết cuối cùng trong trường hợp các bên không tự
dàn xếp được với nhau và cũng không muốn đưa vụ tranh chấp ra xét xử tại Tòa án.
“Trọng tài theo cách hiểu chung là cơ quan xét xử do các bên lập ra trên cơ sở
thỏa thuận và trong lĩnh vực mà pháp luật quy định để giải quyết các tranh chấp giữa
các bên đương sự đó”6
. Trọng tài giải quyết các tranh chấp không phải trên cơ sở
quyền lực nhà nước mà trên cơ sở thỏa thuận của các bên đương sự trao quyền giải
quyết tranh chấp giữa họ cho trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài sẽ không xuất hiện
thẩm quyền của Trọng tài. Vì vậy, nguyên tắc chung của giải quyết tranh chấp bằng Trọng
tài là “không có thỏa thuận giải quyết bằng phương thức trọng tài, không có tố tụng trọng
tài”7
. Nguyên tắc này ngày càng được công nhận rộng rãi trong cả luật quốc gia cũng như
các điều ước quốc tế về Trọng tài.
Luật mẫu của UNCITRAL không đưa ra khái niệm về trọng tài mà chỉ giải thích
“Trọng tài là bất cứ hình thức Trọng tài có hoặc không có sự giám sát của tổ chức”.
Ngoài ra Luật Mẫu quy định khái niệm thỏa thuận trọng tài: “Thỏa thuận trọng tài là
thỏa thuận theo đó các bên có quyền quyết định sẽ đưa mọi tranh chấp hoặc một số
tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa các bên về một quan hệ pháp lý nhất định, dù là
quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng” (Điều 7 khoản 1). Còn theo
Hiệp hội trọng tài Hoa Kì (AIA) “Trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp bằng
cách đệ trình vụ tranh chấp cho một hoặc một số người khách quan xem xét giải quyết và
họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải thi hành”.
Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài
nước ngoài cũng quy định rất rõ về vấn đề này “Mỗi quốc gia thành viên sẽ công nhận
một thỏa thuận bằng văn bản, theo đó các bên cam kết đưa ra Trọng tài xét xử mọi
tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh giữa các bên từ một quan hệ pháp lý xác định, dù
là quan hệ hợp đồng hay không liên quan đến một đối tượng có khả năng giải quyết
tranh chấp bằng Trọng tài” (Điều II).
- Công ước liên Mỹ về Trọng tài thương mại quốc tế (Panama, năm 1975).
- Công ước châu Âu về Trọng tài thương mại (Geneva, 21/4/1961);
- Công ước Ả Rập về Trọng tài thương mại (Amman, 14/4/1987).
Các công ước đa phương trên đều có nội dung điều chỉnh hoạt động của Trọng
tài thương mại, hay Trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực
thương mại.
Riêng Điều II Công ước New York cho phép quy định Trọng tài giải quyết tranh
chấp thương mại và tranh chấp khác, song quốc gia thành viên vẫn được phép quy định
Trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ thương mại
theo pháp luật quốc gia đó (Điều I). Ví dụ, Việt Nam đã đưa ra tuyên bố bảo lưu theo
Quyết định 453 QĐ/CTN của Chủ tịch nước ngày 28/7/1995 về việc tham gia Công
ước về công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài của Liên hợp quốc
đã được thông qua tại New York ngày 10 tháng 6 năm 1958. Theo đó, Việt Nam chỉ áp
dụng đối với tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại.
Với Luật Mẫu của UNCITRAL, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, trong Nghị quyết
số 40/72 ngày 11 tháng 12 năm 1985 khuyến nghị rằng “mọi quốc gia cần quan tâm
một cách thích đáng đến Luật Mẫu về Trọng tài Thương mại quốc tế do những lợi ích
từ việc thống nhất pháp luật về tố tụng tọng tài mang lại và xuất phát từ những nhu
cầu cụ thể của thực tiễn hoạt động Trọng tài thương mại quốc tế”. Và thực tế, “Nhiều
nước đã lựa chọn cách đưa Luật mẫu của UNCITRAL về Trọng tài thương mại Quốc
tế vào luật quốc gia”.
Nghiên cứu pháp luật Trọng tài thương mại các nước cho thấy một thực tế là
đại đa số các nước đã ban hành một Luật riêng để điều chỉnh việc tổ chức và hoạt động
của Trọng tài thương mại, như Luật Trọng tài Anh 1996, Luật Trọng tài Đức 1998,
Liên Bang Nga có Luật Tòa án Trọng tài 2002 và Luật Trọng tài Thương mại quốc tế
1993, Luật Trọng tài Trung Quốc 1994,... Và Luật Trọng tài của nhiều nước quy định
“Trọng tài có thẩm quyền xét xử không phân biệt tranh chấp dân sự hay thương mại”.
Khoản 1 Điều 6 Luật Trọng tài Anh 1996 quy định: “... một thỏa thuận trọng tài có
quyết tranh chấp không thuộc quyền của mình thì phán quyết Trọng tài có thể bị Tòa
án quốc gia tuyên hủy hoặc không được công nhận và thi hành ở nước ngoài (Điều XII
Công ước New York 1958, Điều 34(2) Luật Mẫu của UNCITRAL.
Ở Việt Nam hiện nay, thẩm quyền trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương
mại quốc tế được quy định trong một số văn bản luật sau:
-Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016.
- Luật Trọng tài thương mại năm 2010;
- Nghị định 63/2011/NĐ-CP ngày 28 tháng 7 năm 2011.
- Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định Luật
Trọng tài thương mại 2010.
Điều 2 Luật TTTM 2010 quy định, trọng tài có thẩm quyền giải quyết các loại
tranh chấp sau đây:
+ Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại;
+ Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó có ít nhất một bên có hoạt động
thương mại;
+ Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật qui định được giải quyết bằng Trọng tài.
* Thẩm quyền của trọng tài với tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt
động thƣơng mại
Đối với loại “ tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại ” thì
các bên tranh chấp đó đều phải là các chủ thể tiến hành hoạt động thương mại. Luật
TTTM 2010 không định nghĩa khái niệm hoạt động thương mại, mà sử dụng khái niệm
hoạt động thương mại tại Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định: “ Hoạt
động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá,
cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh
lợi khác.”
Chủ thể tiến hành hoạt động thương mại trước hết là thương nhân, bao gồm
thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài. Thương nhân Việt Nam là các chủ thể
như được quy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại 2005: “ Thương nhân bao gồm tổ
vi thẩm quyền của trọng tài. Trước đây, theo quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại
2003, trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương
mại giữa các tổ chức, cá nhân kinh doanh, nên trên thực tế các tranh chấp giữa một bên là
thương nhân và bên kia không phải là thương nhân đã không được trọng tài giải quyết
theo quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003.
Theo quy định của Luật TTTM 2010, trọng tài thương mại có thẩm quyền giải
quyết các vụ tranh chấp mà trong đó chỉ cần 1 bên tranh chấp là thương nhân (thực
hiện hoạt động thương mại) còn các bên còn lại có thể không phải là thương nhân,
cũng không phải là cá nhân thực hiện hoạt động thương mại.
Như vậy, tranh chấp giữa một thương nhân và các cá nhân, tổ chức không kinh
doanh (có thể bao gồm cả các cơ quan nhà nước và các đơn vị sự nghiệp của nhà nước)
cũng có thể được giải quyết bởi trọng tài thương mại. Trong quan hệ với các bên có
hoạt động thương mại thì các bên này có thể đóng vai trò là người tiêu dùng. Người
tiêu dùng là “người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ có mục đích tiêu dùng, sinh hoạt
cá nhân, gia đình, tổ chức”. Ví dụ, một bên Bệnh viện công ủy thác cho một thương
nhân nhập khẩu cho mình một thiết bị y tế là thuộc trường hợp này. Các giao dịch này
có thể được giải quyết bởi trọng tài thương mại nếu giữa các bên có một thỏa thuận
trọng tài hợp pháp.
* Thẩm quyền của trọng tài với các tranh chấp khác giữa các bên pháp luật
quy định đƣợc giải quyết bằng Trọng tài
Đây là quy định mở nhằm bảo đảm các luật ban hành sau này có thể quy định
các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thuộc phạm vi điều chỉnh của luật đó
có thể được giải quyết bằng trọng tài mà không cần phải sửa đổi Luật TTTM 2010.
Ngoài ra, theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014, các tranh chấp trong nội bộ
doanh nghiệp cũng có thể giải quyết bằng trọng tài. Trước Luật TTTM 2010, trên thực
tế các tranh chấp trong nội bộ doanh nghiệp không được trọng tài thụ lý giải quyết, các
tranh chấp này thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại.
1.3. Nội dung mối quan hệ pháp lý giữa trọng tài thƣơng mại và Tòa án