Nâng cao chất lượng đội ngũ chấp hành viên trong thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự ở tỉnh thanh hóa - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ A

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CHẤP HÀNH VIÊN
TRONG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN DÂN
SỰ Ở TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số : 60380101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ……………..

HÀ NỘI - NĂM 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Mọi số liệu, kết quả nêu trong luận
văn đều trung thực ; các tài liệu tham khảo đều được trích dẫn và dẫn nguồn rõ ràng. Luận văn
này chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào.
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị A


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
THADS : Thi hành án dân sự
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

pháp luật về thi hành án dân sự 23
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ chấp hành viên trong thực hiện pháp luật
về thi hành án dân sự 36
Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CHẤP HÀNH VIÊN TRONG
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở TỈNH THANH HÓA 43
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa ảnh hưởng đến chất lượng đội
ngũ chấp hành viên trong thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự 43
2.2. Những kết quả đạt được về chất lượng đội ngũ chấp hành viên trong thực hiện pháp luật
về thi hành án dân sự ở tỉnh Thanh Hóa 48
2.3. Những hạn chế về chất lượng đội ngũ chấp hành viên trong thực hiện pháp luật về thi
hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa 55
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
CHẤP HÀNH VIÊN TRONG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Ở TỈNH THANH HÓA 63
3.1. Quan điểm nâng cao chất lượng đội ngũ Chấp hành viên thi hành án dân sự trong thực
hiện pháp luật về thi hành án dân sự ở tỉnh Thanh Hóa 63
3.2. Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng của đội ngũ chấp hành viên trong thực hiện pháp
luật về thi hành án dân sự ở tỉnh Thanh Hóa 68
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cán bộ, công chức luôn là một nhân tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của
mỗi quốc gia. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công
việc”[20,tr 269], “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”[20,tr 273] .
Vì đội ngũ cán bộ, công chức là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng. Nếu đội
ngũ này yếu thì dù có đường lối, chính sách đúng cũng không thể hiện thực hoá. Hồ Chí
Minh cũng khẳng định: “Cán bộ là cái sợi dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không

gặp nhiều khó khăn hơn. Thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa vẫn còn
tồn tại nhiều vấn đề bức xúc, bộc lộ nhiều hạn chế yếu kém, chưa đáp ứng được nhiệm vụ
trong tình hình mới như:lượng án tồn đọng hàng năm chưa được thi hành còn nhiều, số lượng
đơn thư khiếu nại vượt cấp còn lớn. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng một
trong những nguyên nhân cơ bản là do chất lượng đội ngũ chấp hành viên trong thực hiện
pháp luật về thi hành án dân sự của tỉnh còn hạn chế.
1


Sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước hiện nay đã và đang đặt ra những nhiệm vụ mới
nặng nề đối với công tác thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa, đòi hỏi đội ngũ chấp hành viên
thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa phải vững vàng về mặt chính trị, gương mẫu về đạo đức,
trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ, gắn bó với nhân dân. Trong
tiến trình cải cách tư pháp hiện nay, thì nâng cao chất lượng đội ngũ Chấp hành viên thi hành
án dân sự nói chung, đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa nói riêng
trong quá trình thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự, giúp họ hoàn thành tốt nhiệm vụ,
đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra là một vấn đề rất đáng quan tâm. Do vậy, tác giả đã chọn
việc nghiên cứu đề tài “Nâng cao chất lượng đội ngũ chấp hành viên trong thực hiện pháp
luật về thi hành án dân sự ở tỉnh Thanh Hóa” làm luận văn thạc sĩ của mình nhằm nghiên
cứu về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay mà Đảng ta đã đặt ra.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta những năm gần đây, nghiên cứu về thi hành án dân sự và chất lượng đội ngũ chấp
hành viên trong thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự đang được quan tâm nghiên cứu ở
nhiều khía cạnh, nhiều công trình nghiên cứu khoa học khác nhau. Cụ thể:
Về thi hành án dân sự đã có một số công trình nghiên cứu như: - “Hoàn thiện pháp luật thi
hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay” (2008) của tác giả Nguyễn Thanh Thủy, Luận án Tiến
sĩ Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh[33]. Luận án đã làm rõ
cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự, đề xuất các quan điểm và giải
pháp hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền

các quy định về quyền và nghĩa vụ của Chấp hành viên trong thi hành án dân sự tại Việt
Nam.
- “Nghiên cứu thực trạng, nhu cầu phát triển đội ngũ Chấp hành viên và xây dựng chương
trình đào tạo theo yêu cầu cải cách tư pháp” (2007) của Bộ Tư pháp, Đề tài khoa học cấp Bộ,
Hà Nội[7]. Đề tài đã đánh giá tổng quan thực trạng đội ngũ chấp hành viên hiện nay. Trên cơ
sở đó, đề xuất nhu cầu phát triển đội ngũ chấp hành viên và chương trình khung về đào tạo
chấp hành viên trong thời gian tới đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. - “Xây dựng đội ngũ
chấp hành viên thi hành án dân sự ở tỉnh Thanh Hóa” (2016) của tác giả Nguyễn Xuân Thái,
Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội[32]. Luận văn
đã nghiên cứu vấn đề lý luận về xây dựng đội ngũ Chấp hành viên và trên cơ sở đánh giá
thực trạng xây dựng đội ngũ Chấp hành viên ở tỉnh Thanh Hóa, đề xuất những quan điểm,
giải pháp bảo đảm xây dựng đội ngũ Chấp hành viên thi hành án dân sự ở tỉnh Thanh Hóa.
Một số công trình nghiên cứu khác như: “Chất lượng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân
sự ở tỉnh Đồng Tháp” (2015) của tác giả Vũ Quang
Hiện, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội[17];
“Chất lượng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự ở tỉnh Bắc Giang” (2013) của tác giả
Nguyễn Thành Bắc, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội[1]; “Xây dựng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự ở thành phố
Hà Nội” (2015) của tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chi Minh, Hà Nội[38].
Một số bài viết đăng trên các báo, tạp chí liên quan đến Chất lượng đội ngũ chấp hành viên
thi hành án dân sự như: “Năng lực chấp hành viên – yếu tố quyết định thành công trong thi
hành án dân sự” của tác giả Đặng Đình Quyền, Tạp chí nghiên cứu lập pháp. Văn phòng
Quốc hội, số 6/2009, tr 16 – 21[27]; “Nâng cao chất lượng chấp hành viên” của tác giả Phạm
Công ý, Tạp chí Dân chủ và pháp luật. Bộ Tư pháp, số 8/2009, tr 52 – 55[39].
Ngoài ra, còn nhiều công trình khoa học và các bài viết nghiên cứu của các tác giả khác về
một số vần đề lý luận và thực tiễn về thi hành án dân sự và chấp hành viên thi hành án dân
sự; nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu dưới góc độ lý luận và thực tiễn về: “Nâng
cao chất lượng đội ngũ chấp hành viên trong thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự ở tỉnh
Thanh Hóa”.

+ Phương pháp so sánh
+ Phương pháp thống kê
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học của luận văn:
- Luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ Chấp hành viên trong
thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự;
- Thực trạng chất lượng đội ngũ Chấp hành viên trong thực hiện pháp luật về thi hành án dân
sự ở tỉnh Thanh Hóa từ năm 2010 đến năm 2015;
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng của đội ngũ Chấp hành viên trong
thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay.

4


Ý nghĩa thực tiễn của luận văn: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung thêm
nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh ở Thanh Hóa.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn được kết cấu làm ba chương, tám tiết:
Chương I: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ chấp hành viên trong thực hiện pháp
luật về thi hành án dân sự
Chương II: Thực trạng chất lượng đội ngũ chấp hành viên trong thực hiện pháp luật thi hành
án dân sự ở tỉnh Thanh Hóa
Chương III: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ chấp hành viên trong thực
hiện pháp luật về thi hành án dân sự ở tỉnh Thanh Hóa.

5


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CHẤP HÀNH VIÊN TRONG THỰC

luật nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống.
1.1.1.2. Thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự
Thực hiện pháp luật nói chung đã trở thành một phạm trù pháp lý cơ bản. Những vấn đề thực
hiện pháp luật dường như đã được giải quyết như: khái niệm thực hiện pháp luật, các hình
thức thực hiện pháp luật. Song thực hiện pháp luật nói chung cần được cụ thể hoá ở từng lĩnh
vực khác nhau của đời sống pháp luật trong điều kiện đổi mới ở nước ta. Thực hiện pháp luật
6


về thi hành án dân sự là một trong những lĩnh vực cụ thể. Nó có khái niệm, đặc điểm riêng
biệt cần được định nghĩa, bổ sung, cụ thể hoá lý luận chung, góp phần làm sáng tỏ tình hình
thực hiện pháp luật trong lĩnh vực thi hành án dân sự. Để hiểu được khái niệm thực hiện pháp
luật thi hành án dân sự, trước tiên ta phải hiểu thế nào là hoạt động thi hành án dân sự.
Theo quy định tại Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thihành án dân sự năm
2008, hoạt động thi hành án dân sự nhằm mục đích thựchiện bản án, quyết định dân sự, hình
phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền,tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án
phí và quyết định dân sựtrong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết
định hànhchính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lývụ
việc cạnh tranh của hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tàisản của bên phải thi
hành án và phán quyết, quyết định của Trọng tài thươngmại (sau đây gọi chung là bản án,
quyết định). Do đó, theo nghĩa pháp lý, hoạtđộng thi hành án dân sự là hoạt động tư pháp thi
hành các bản án, quyết địnhđược đưa ra thi hành theo quy định. Điều 2 Luật thi hành án dân
sự 2008được sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định về những bản án, quyết định đượcđưa ra thi
hành bao gồm:
- Những bản án đã có hiệu lực pháp luật: Bản án, quyết định hoặc phầnbản án, quyết định của
Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghịtheo thủ tục phúc thẩm; bản án, quyết
định của Tòa án cấp phúc thẩm; Quyếtđịnh giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án; bản án,
quyết định dân sự của
Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việtnam công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam; quyết định xử lý vụ việc cạnhtranh của Hội đồng xử lý vụ việc

kiểm sát, đương sự, người đại diện của đương sự và những cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan đến việc thi hành án dân sự. Trong các chủ thể trên thì
cơ quan thi hành án dân sự là chủ thể đóng vai trò quan trọng trong quá trình
thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự. Trong phạm vi nghiên cứu của luận
văn, tác giả chủ yếu đề cập đến hoạt động thực hiện pháp luật của đội ngũ
chấp hành viên thuộc cơ quan thi hành án dân sự để phục vụ cho việc nghiên
cứu đề tài.
Như vậy, trong thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự, Chấp hành
viên là chủ thể pháp luật bằng việc thực hiện những quy định của pháp luật
trên thực tế để đưa các bản án, quyết định của Tòa án được thực thi trong thực
tế cuộc sống theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định. Thông qua
hoạt động thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự của chấp hành viên, bản
án, quyết định của Tòa án mới có hiệu lực trên thực tế. Mặc khác, còn có thể
kiểm nghiệm thực tiễn những phán quyết của Tòa án, chất lượng hiệu quả của
hoạt động xét xử; thấy được những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp
luật thi hành án dân sự, từ đó có giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp
luật về thi hành án dân sự; công chức ngành Tòa án có thể rút ra những kinh
nghiệm, nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác xét xử.
1.1.2. Các hình thức thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự
Nhà nước điều tiết xã hội bằng pháp luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội
bằng các quy phạm pháp luật nhất định. Việc biến chuẩn mực pháp luật thành

8


17
hành vi pháp luật thực tế của con người gắn liền với việc thực hiện pháp luật
và gắn liền với các nhân tố có ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật. Theo
cách tiếp cận này, thực hiện pháp luật nói chung, thực hiện pháp luật về thi
hành án dân sự nói riêng có các hình thức cơ bản là: tuân thủ (tuân theo) pháp

18
thi hành án;
- Cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết định; trì hoãn hoặc kéo dài
thời gian giải quyết việc thi hành án được giao không có căn cứ pháp luật.
Thi hành (chấp hành) pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật, trong
đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động
tích cực. Các quy phạm pháp luật bắt buộc được thực hiện ở hình thức này.
Trong thi hành án dân sự, chấp hành viên phải thực hiện những nhiệm
vụ, công việc mà pháp luật quy định. Nhiệm vụ của chấp hành viên được quy
định cụ thể tại Luật thi hành án dân sự và Thông tư số 10/2010/TT- BNV
ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ về quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các
ngạch công chức chấp hành viên và thi hành án dân sự. Ví dụ: Điều 20 Luật
thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định về nhiệm vụ,
quyền hạn của chấp hành viên thì trong quá trình thi hành án chấp hành viên
phải thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Kịp thời tổ chức thi hành vụ việc được phân công, ra các quyết định
về thi hành án theo thẩm quyền;
- Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định của Tòa án; áp dụng đúng
các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án; thực hiện nghiêm

10


chỉnh chuẩn mực đạo đức chấp hành viên;
- Triệu tập đương sự, người có liên quan đến việc thi hành án; xác minh
tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án...
Sử dụng pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ
thể pháp luật thực hiện quyền, tự do pháp lý của mình (những hành vi mà
pháp luật cho phép chủ thể thực hiện). Các quy phạm pháp luật quy định về
các quyền tự do pháp lý được thực hiện ở hình thức này. Vì quyền tự do pháp

của Tòa án). Ngược lại, nếu sau khi xác minh thấy đương sự có điều kiện để
thi hành án, nhưng xét thấy người phải thi hành án ý thức chấp hành pháp luật
không tốt, có biểu hiện tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án thì
chấp hành viên áp dụng một hoặc nhiều biện pháp đảm bảo thi hành án theo
quy định của pháp luật (phong tỏa tài khoản; tạm giữ tài sản, giấy tờ; tạm
dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản), hoặc người
phải thi hành án cố tình không tự nguyện thi hành án thì chấp hành viên lựa
chọn, áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế được quy định trong Luật
Thi hành án dân sự (khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi xử lý tiền, giấy có
giá của người phải thi hành án; trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;
20
kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án kể cả tài sản của người phải
thi hành án đang do người thứ ba giữ; khai thác tài sản của người phải thi
hành án; buộc giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ; buộc người phải
thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định) để tổ
chức thi hành dứt điểm bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của
Trọng tài thương mại.

12


1.2. Khái niệm, tiêu chuẩn, vai trò của chấp hành viên trong thực hiện
pháp luật về thi hành án dân sự
1.2.1. Khái niệm chấp hành viên
Theo quy định tại Điều 17 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ
sung năm 2014 thì: “Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ
thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật này. Chấp
hành viên có ba ngạch là Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp
và Chấp hành viên cao cấp”[29] .
Theo Giáo trình Luật thi hành án dân sự thì: “Chấp hành viên là người

Hoạt động thi hành án dân sự của chấp hành viên có những đặc trưng
cơ bản sau:
Thứ nhất, hoạt động của chấp hành viên mang tính chủ động và độc
lập. Chấp hành viên chịu sự quản lý của thủ trưởng cơ quan THADS nhưng
trong việc tổ chức và thi hành án thì Chấp hành viên có vị trí tương đối độc
lập với thủ trưởng cơ quan THADS. Không cá nhân, cơ quan, tổ chức nào có
quyền can thiệp trái pháp luật vào quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của chấp hành viên. Khi được thủ trưởng cơ quan thi hành án phân công tổ
chức thi hành bản án, quyết định dân sự, chấp hành viên có quyền chủ động
trong việc áp dụng các biện pháp thi hành án phù hợp với quy định của pháp
luật để thi hành bản án, quyết định đó.
Thứ hai, hoạt động của chấp hành viên trong quá trình THADS đều
phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Mọi hoạt động thi hành án của
chấp hành viên phải tuân thủ các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục
thi hành án. Chấp hành viên phải thi hành đầy đủ, kịp thời bản án, quyết định

14


dân sự, không được có bất kỳ sự thay đổi nào về nội dung bản án, quyết định
dân sự được đưa ra thi hành, trừ trường hợp các đương sự thỏa thuận về việc
thi hành án. Nếu trong quá trình tổ chức thi hành án, chấp hành viên vi phạm
pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, họ có thể bị xử lý kỉ luật,
hành chính hoặc hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định
22
của pháp luật dân sự[35,tr 87].
Khái niệm “đội ngũ” được sử dụng khá rộng rãi và dùng để chỉ các tổ
chức trong xã hội như: Đội ngũ trí thức, đội ngũ cán bộ công chức, đội ngũ
chấp hành viên... Đó là sự gắn kết những cá thể với nhau, hoạt động qua sự
phân công, hợp tác lao động, là những người có chung mục đích, lợi ích và

23
tuyển kỳ thi tuyển chấp hành viên trung cấp. Người được bổ nhiệm làm chấp
hành viên cao cấp phải có thời gian làm chấp hành viên trung cấp từ 05 năm
trở lên và trúng tuyển kỳ thi làm chấp hành viên cao cấp.
Ngoài ra, theo quy định của Thông tư số 10/2010/TT-BNV của Bộ Nội
vụ ngày 28/10/2010 về Quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công
chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự thì đối với mỗi ngạch chấp
hành viên phải có đủ tiêu chuẩn về năng lực và trình độ khác nhau. Cụ thể:
- Đối với chấp hành viên sơ cấp:
+ Về năng lực: Có kiến thức lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên để vận dụng vào công tác thi hành
án dân sự; nắm vững nội dung cơ bản về hệ thống pháp luật hiện hành; nắm

16


vững nội dung pháp luật về thi hành án dân sự; biết áp dụng các nguyên tắc,
chế độ, thủ tục về nghiệp vụ thi hành án; nắm được tình hình kinh tế, xã hội ở
địa phương; có năng lực độc lập tổ chức thi hành những vụ việc thuộc thẩm
quyền của cơ quan thi hành án cấp huyện; có khả năng giáo dục, thuyết phục
đương sự thi hành bản án, quyết định của tòa án; có khả năng soạn thảo các
văn bản liên quan đến chức trách, nhiệm vụ được giao.
+ Về trình độ: Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch chấp hành viên
theo nội dung, chương trình của Bộ Tư pháp; có ngoại ngữ trình độ B trở lên
(một trong năm thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc) hoặc một ngoại
ngữ khác theo yêu cầu của vị trí làm việc; có trình độ tin học văn phòng
- Đối với chấp hành viên trung cấp:
+ Về năng lực: Có kiến thức lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của

nghiệp vụ thi hành án dân sự; am hiểu sâu rộng tình hình kinh tế, xã hội trong
nước và quốc tế; có khả năng độc lập tổ chức thực hiện công việc được giao;
có khả năng phối hợp tốt với các cơ quan hữu quan trong việc tổ chức thi
hành án dân sự; có khả năng giáo dục, thuyết phục đương sự thi hành bản án,
quyết định của tòa án; có khả năng biên soạn tài liệu giảng dạy và bồi dưỡng
nghiệp vụ về thi hành án dân sự cho chấp hành viên trung cấp, chấp hành sơ
cấp và công chức làm công tác thi hành án dân sự; có năng lực nghiên cứu
khoa học, tổng kết chuyên đề diện rộng thuộc lĩnh vực được giao, đề xuất
những vấn đề chiến lược về công tác thi hành án dân sự, có khả năng phân
tích, khái quát, tổng hợp tình hình hoạt động của nhiều lĩnh vực, đề xuất, chỉ
đạo và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác thi hành án dân sự.

18


+ Về trình độ: Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch chấp hành viên
cao cấp theo nội dung, chương trình của Bộ Tư pháp; có trình độ cao cấp lý
25
luận chính trị; có ngoại ngữ trình độ C trở lên (một trong năm thứ tiếng: Anh,
Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc) hoặc một ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị
trí làm việc; có trình độ tin học văn phòng (sử dụng thành thạo các kỹ năng
của Microsoft Word, Microsoft Excel, Internet để phục vụ công tác chuyên
môn); chủ trì xây dựng hoặc triển khai thực hiện đề án, đề tài, công trình
nghiên cứu khoa học về công tác thi hành án dân sự được Hội đồng khoa học
cấp Bộ công nhận và áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn.
Ngoài ra, để tạo điều kiện thu hút người có kinh nghiệm làm công tác
pháp luật ở các ngành khác từ đó góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ thi hành án, bên cạnh những đối tượng đã được Luật thi hành án dân sự
2008 quy định như người đang là thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên
được điều động đến công tác tại cơ quan thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ

Thẩm tra viên, Thư ký, chuyên viên, kế toán, thủ kho, thủ quỹ... nhưng chỉ có
chấp hành viên là người trực tiếp có quyền tổ chức thi hành án, còn các chức
danh khác trong cơ quan thi hành án chỉ giữ vai trò phụ trợ cho hoạt động của
Chấp hành viên như Thư ký, chuyên viên pháp lý giúp chấp hành viên trong
việc xác minh và đôn đốc thi hành án, tống đạt các quyết định, văn bản giấy
tờ cho các đương sự trong quá trình tổ chức thi hành án...
Chính vì vậy, Chấp hành viên có vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ
quan THADS. Không có hoạt động của Chấp hành viên thì các bản án, quyết
định của Tòa án nhân danh Nhà nước sẽ chỉ là những quyết định trên giấy do

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status