MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có vị trí hết sức quan trọng trong tổ
chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, có vai trò quyết định đến sự phát
triển của đất nước, là người trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng và thực thi
luật pháp, quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội; tham mưu, hoạch định, tổ
chức thực hiện và thanh tra, kiểm tra việc thực thi các đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước.
Việc đổi mới công tác quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức là một trong những nội dung cơ bản của công cuộc cải cách hành
chính được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và đã thực hiện nhiều hoạt
động cải cách trong công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi công
việc”, công việc thành công hay thất bại đều là do cán bộ. Không có đội ngũ
cán bộ tốt thì đường lối, nhiệm vụ chính trị đúng cũng không trở thành hiện
thực. Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức luôn được Đảng ta
quan tâm chú ý đào tạo, bồi dưỡng và có chính sách cụ thể trong mỗi giai
đoạn, mỗi thời kì cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay đội ngũ cán bộ,
công chức, viên chức ở nước ta nói chủng, tỉnh Lào Cai nói riêng còn có hiện
tượng vừa thiếu lại vừa yếu. Một số bộ phận nhỏ có biểu hiện suy thoái về đạo
đức, chính trị, lối sống, cơ hội thực dụng, tham ô, tham nhũng, lãng phí đang
làm suy giảm niềm tin với nhân dân và cản trở tiến trình đổi mới. Do vậy vấn
đề đặt ra là cần phải xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
1
chức, viên chức có đầy đủ năng lực và phẩm chất, có đủ đức và tài để đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nhận thức được tính cấp bách của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức, đồng thời xuất phát từ thực tế hoạt động của Trung
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, VIÊN CHỨC
Ở TRUNG TÂM DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP HUYỆN BẢO THẮNG
1.1. Một số khái niệm về cán bộ, viên chức
1.1.1. Khái niệm cán bộ
Theo Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008: Cán bộ là công dân Việt
Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ
trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã
hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung
là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là
cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
1.1.2. Khái niệm viên chức
3
Theo Điều 2 Luật viên chức năm 2010:
Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm,
làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng
lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
1.2. Quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về công
tác cán bộ
1.2.1.Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ
Quan điểm của Hồ Chí Minh về công tác cán bộ:
Thứ nhất là, phải hiểu và đánh giá đúng cán bộ để lựa chọn và sử dụng đúng
cán bộ. Đây là yêu cầu xuất phát để tiến hành các mặt khác của công tác cán bộ.
Nếu không đánh giá đúng cán bộ và tình hình công tác cán bộ thì không thể đề ra
chính sách cán bộ một cách đúng đắn được. Hồ Chí Minh cho rằng, cứ mỗi lần
xem xét lại cán bộ, một mặt sẽ tìm thấy những nhân tài mới, mặt khác thì những
người yếu kém sẽ bị lòi ra. Hiểu và đánh giá đúng cán bộ và tình hình công tác cán
Đảng, đặc biệt trong thời kỳ cách mạng hiện nay, thời kỳ Đảng tiếp tục cầm quyền
lãnh đạo sự nghiệp phát triển đất nước vì những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
1.2.2. Quan điểm của đảng về công tác cán bộ
Tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Đảng đã
chỉ ra “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong đó có những đảng viên
giữ ví trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cấp cao, suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý
tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi,
tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên
tắc...”
Trước hết, quán triệt phương hướng, nhiệm vụ về xây dựng Đảng trong
sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng mà
5
Đại hội lần thứ XII của Đảng đã chỉ ra: “Trong những năm tới, yêu cầu, nhiệm
vụ nặng nề của thời kỳ phát triển mới đòi hỏi phải đẩy mạnh hơn nữa công tác
xây dựng Đảng, trọng tâm là kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết
Trung ương 4 khóa XI. Các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan,
đơn vị và cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp từ Trung ương đến cơ sở
nghiêm túc, tự giác và có kế hoạch, biện pháp phù hợp để khắc phục, sửa chữa
những yếu kém, khuyết điểm”
Hai là, nắm vững và vận dụng bài học kinh nghiệm đầu tiên sau 5 năm
thực hiện Nghị quyết Đại hội XI được Đại hội XII đúc rút: “Phải hết sức chú
trọng công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; phải
phát huy dân chủ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo sự nhất trí
trong Đảng và đồng thuận xã hội; tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân
dân, có quyết tâm chính trị cao với những biện pháp thiết thực, mạnh mẽ, đồng
7
Năm là, đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện
Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thể chế hóa, cụ thể hóa các nguyên tắc về quan hệ giữa đường lối chính trị và
đường lối cán bộ, quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết rộng rãi trong
công tác cán bộ, quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu, giữa đức và tài, giữa kế
thừa và phát triển, giữa quản lý thống nhất của Đảng với phát huy đầy đủ trách
nhiệm của các cơ quan trong hệ thống chính trị, giữa thẩm quyền, trách nhiệm
cá nhân và tập thể, giữa phân cấp, phân quyền và kiểm tra, giám sát, kiểm soát
để thực hiện thống nhất, đồng bộ trong Đảng và trong hệ thống chính trị.
Sáu là, tiếp tục ban hành và thực hiện các quy chế, quy định, cơ chế,
chính sách trong công tác cán bộ, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và chặt
chẽ giữa các khâu, liên thông giữa các cấp, trong đó có quy chế đánh giá đúng
đắn, khách quan đối với cán bộ, để có cơ sở sử dụng, bố trí đúng cán bộ. Tăng
tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, cấp ủy là người dân tộc thiểu số, cán bộ nữ, cán bộ trẻ.
Đổi mới phương thức bầu cử trong Đảng, phương thức tuyển chọn, bổ nhiệm
cán bộ, để lựa chọn những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất
đạo đức tốt, năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm giữ vị trí
lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất
là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm
vụ. Mở rộng đối tượng thi tuyển cán bộ quản lý, hoàn thiện tiêu chí đánh giá
8
và cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi công vụ; xác định rõ
Việc đánh giá cán bộ được thực hiện hàng năm, trước khi bầu cử, phê
chuẩn, bổ nhiệm, quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, khi kết thúc nhiệm
kỳ, thời gian luân chuyển.
Thẩm quyền, trình tự, thủ tục đánh giá cán bộ được thực hiện theo quy
định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.
1.3.2. Tiêu chuẩn viên chức ( tiêu chí đánh giá viên chức)
Theo Điều 41 Luật viên chức năm 2010 tiêu chí đánh giá viên chức gồm
những nội dung sau:
Kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ theo hợp đồng làm việc đã
ký kết;
Việc thực hiện quy định về đạo đức nghề nghiệp;
Tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân, tinh thần hợp tác với
đồng nghiệp và việc thực hiện quy tắc ứng xử của viên chức;
Việc thực hiện các nghĩa vụ khác của viên chức.
10
Việc đánh giá viên chức quản lý được xem xét theo các nội dung trên
ngoài ra còn có các nội dung sau:
Năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ;
Kết quả hoạt động của đơn vị được giao quản lý, phụ trách.
Việc đánh giá viên chức được thực hiện hàng năm; khi kết thúc thời gian
tập sự; trước khi ký tiếp hợp đồng làm việc; thay đổi vị trí việc làm; xét khen
thưởng, kỷ luật, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng.
Chương 2
THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, VIÊN CHỨC Ở TRUNG TÂM
DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP HUYỆN BẢO THẮNG
2.1. Khái quát chung về điều kiện KT - XH huyện Bảo Thắng và
thuận lợi, thu hút các cư dân khắp mọi miền đến sinh cơ lập nghiệp ngày càng
đông đúc hình thành 3 thị trấn sầm uất (Phong Hải, Phố Lu, Tằng Loỏng) với số
lượng dân cư đô thị ngày càng tăng và trở thành huyện đông nhất tỉnh có điều kiện
thuận lợi phát triển kinh tế thương mại.
Đặc biệt, Bảo Thắng có nhiều mỏ khoáng sản và khu công nghiêp Tằng
Loỏng chế biến sản xuất các chất hoá học và phân bón phục vụ sản xuất công nông
nghiệp làm giàu cho Tổ quốc, góp phần thay da đổi thịt bộ mặt kinh tế - xã hội địa
phương. Các địa hình, tài nguyên Bảo Thắng rất thuận lợi cho việc phát triển kinh
12
tế cơ cấu nông – lâm – công nghiệp – thương mại - dịch vụ trong đó đặc trưng chủ
yếu là trồng chè, mía, nhãn, vải, buôn bán hàng hoá và dịch vụ.
Kết hợp nhiều tiềm năng kinh tế - xã hôi tổng hợp của địa phương, Bảo Thắng
đã và đang tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang sản xuất hàng hoá các loại cây
trồng, vât nuôi với những hướng đầu tư khác nhau một cách phù hợp như: mở rộng
diện tích trồng mía, cây ăn quả, cây chè, góp phần nâng cao tổng sản phẩm giá trị
kinh tế địa phương xây dựng huyện Bảo Thắng ngày một vững mạnh toàn diện
2.1.2.Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp
Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện Bảo Thắng được thành lập trên
cơ sở sáp nhập Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Trạm Khuyến nông, Trạm
Chăn nuôi và thú y theo Quyết định số 1040/QĐ-UBND ngày 05/4/2017 của
UBND tỉnh Lào Cai. Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện Bảo Thắng (sau
đây gọi tắt là Trung tâm) là đơn vị sự nghiệp có thu, trực thuộc Ủy ban nhân
dân Huyện Bảo Thắng; chịu sự chỉ đạo quản lý trực tiếp và toàn diện về tổ
chức bộ máy biên chế của UBND huyện Bảo Thắng; đồng thời chịu sự quản lý
trực tiếp về chuyên môn của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
huyện; Trung tâm chịu trách nhiệm trước UBND huyện Bảo Thắng về việc
thực thi nhiệm vụ liên quan đến lĩnh vực thú y, chăn nuôi, trồng trọt và Bảo vệ
được giao, cán bộ ổn định tinh thần làm việc, tập trung bồi dưỡng và nâng cao
chuyên môn nghiệp vụ.
Đội ngũ cán bộ, viên chức cơ quan đã phát huy mạnh những mặt tích cực
trong năm qua. Có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, con đường
mà Đảng và Bác Hồ lựa chọn, hăng hái thực hiện thắng lợi đường lối chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Các đồng chí lãnh đạo của cơ quan đại đa số là các đồng chí Đảng viên
có uy tín, trách nhiệm cao trong công tác. Liên tục nhiều năm liền đạt danh
hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở, thực sự làm nòng cốt là hạt nhân của phong trào thi
đua của cơ quan, đơn vị.
Đa số cán bộ giữ vững đạo đức cách mạng “cần kiệm, liêm chính, chí
công vô tư”, yêu ngành yêu nghề, có ý thức trách nhiệm và lương tâm nghề
nghiệp.
Đội ngũ cán bộ và lực lượng viên chức của cơ quan trong công tác và
sinh hoạt đều phát huy tốt tính gương mẫu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
chính trị của Đảng, của chính quyền và đoàn thể giao phó.
Trình độ kiến thức chuyên môn và năng lực quản lý ngày càng được
nâng cao, từng bước đáp ứng được sự đòi hỏi của sự đổi mới sự nghiệp giáo
dục và sự phát triển kinh tế của cơ quan. Số cán bộ, viên chức giỏi quản lý,
15
giỏi chuyên môn, nghiệp vụ mỗi năm một tăng, đóng góp vào sự phát triển
ngày càng vững mạnh của cơ quan.
2.2.2. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng
Chi ủy chi bộ đã tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng theo
đúng quan điểm định hướng của Đảng; theo dõi, nắm bắt tình hình tư tưởng
trên.
Công tác tuyên truyền, vận động, tổ chức thực hiện cuộc vận động “Dân chủ –
Kỷ cương – Trách nhiệm”. Các cuộc vận động trên đã được Công đoàn phối hợp
với chuyên môn phát động ngay từ đầu năm. Chuyên môn đã phối hợp tốt với
Công đoàn tổ chức tốt Hội nghị cán bộ, viên chức, kế hoạch hoạt động của cơ quan
đã được cán bộ, viên chức bàn bạc dân chủ thống nhất các biện pháp thực hiện.
2.2.3. Công tác xây dựng phát triển đội ngũ cán bộ, viên chức
Bố trí sử dụng hợp lí đội ngũ cán bộ quản lí, viên chức, nhân viên theo
chuyên ngành đào tạo, theo định mức lao động, theo năng lực sở trường.
Thực hiện bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, viên
chức thông qua tập huấn chuyên môn nghiệp vụ và tự bồi dưỡng của cá nhân.
Bồi dưỡng kiến thức tin học cho 100% cán bộ, viên chức. Tích cực ứng dụng
CNHĐ trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ, trong công tác quản lý. Tổ chức
đánh giá, xếp loại cán bộ quản lý, viên chức theo chuẩn nghề nghiệp, chuẩn
kiến thức, kĩ năng.
Tiến hành rà soát, điều chỉnh và bổ sung cán bộ quản lý cho đơn vị giai
đoạn 2015-2020 theo đúng hướng dẫn có xem xét điều kiện thực tiễn của đơn
17
vị. Bồi dưỡng cán bộ trong quy hoạch để nâng cao trình độ chuyên môn. Phân
công, bố trí CBQL, VC, NV đảm bảo định mức quy định và phù hợp với thực
tế.
Chú trọng đến công tác quy hoạch cán bộ, viên chức. Tập trung bồi
dưỡng đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn quy định về trình độ lý luận chính trị, kiến
thức quản lý nhà nước, kiến thức quốc phòng - an ninh, tin học, ngoại ngữ.
Trong năm 2017 90% cán bộ, viên chức được cập nhật kiến thức pháp
luật, được bồi dưỡng về đạo đức nghề nghiệp; 80% được bồi dưỡng cập nhật
kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực thi nhiệm vụ.
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
2.2.5. Đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động công việc chuyên môn
Dù mới thành lập, xong cán bộ viên chức Trung tâm luôn đoàn kết, đồng
lòng xây dựng và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Bản thân mỗi cán bộ
viên chức đều không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nhằm đáp ứng
tốt nhất nhiệm vụ công việc. Trong năm cán bộ, viên chức Trung tâm đều làm việc
tương đối hiệu quả, trong công việc chuyên môn luôn tham mưu cho cấp trên chỉ
19
đạo kịp thời, sát với thực tế, hướng dẫn và phòng chống dịch bệnh trên cây trồng,
vật nuôi. Không để dịch bệnh xảy ra làm ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng và
đời sống của người dân.
Trung tâm chỉ đạo cán bộ phòng kỹ thuật, khuyến nông viên xã thường
xuyên xuống thôn, bản, tổ dân phố hướng dẫn nhân dân tập trung sản xuất nông
lâm nghiệp, cụ thể:
Cây lúa, ngô: Thực hiện 100% diện tích KH giao, trong đó diện tích thực
hiện cánh đồng 1 giống trên 1.000 ha
Cây vụ đông: Diện tích thực hiện 1.300/1.300 ha, làm đất 1.237 ha, diện tích
đã trồng 1.128 ha ( trong đó ngô 125,6 ha; khoai lang 171 ha; khoai tây 58 ha; hoa
11 ha; rau các loại 762,4 ha)
Trung tâm phối hợp UBND xã Sơn Hải thực hiện mô hình liên kết sản xuất
khoai khoai lang vụ đông với diện tích 10 ha tại thôn Nam Hải, An Tiến
Tình hình sâu bệnh hại: tổng diện tích nhiễm sâu bệnh hại trên cây nông
nghiệp 2306,2 ha (nhiễm nhẹ 2224,1 ha; nhiễm nặng 82,1 ha), trong đó
Cây lúa: Tổng nhiễm 2283,2 ha (nhẹ 2202,1 ha; nặng 81,1 ha) tập trung bệnh
đạo ôn lá, cổ bông, khô vằn, nghẹt rễ, bạc lá đốm sọc vi khuẩn, sâu cuốn lá nhỏ,
rầy...
Cây chè: Bọ cánh tơ gây hại nhẹ 2 ha
khảng định được phần nào chất lược của cán bộ, viên chức trong cơ quan, đơn vị.
2.2.6. Công tác đánh giá phân loại cán bộ, viên chức trong năm qua
Việc triển khai thực hiện đánh giá, xếp loại cán bộ, viên chức theo Chuẩn và
đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hàng năm: Tổ chức thực hiện đánh giá
theo hướng dẫn qua đó thấy được những mặt mạnh, yếu của từng đồng chí để có
biện pháp khắc phục
Việc sử dụng kết quả đánh giá, xếp loại để làm cơ sở bố trí, sử dụng; đào
tạo, bồi dưỡng và đánh giá thi đua: Nghiên cứu lựa chọn, bố trí đội ngũ cán bộ cốt
cán, tổ trưởng chuyên môn,..qua kết quả đánh giá đồng thời để xây dựng kế hoạch
đào tạo, bồi dưỡng phù hợp qua kết quả đánh giá, xếp loại, đánh giá thi đua
21
Trong năm 2017 tập thể Trung tâm đã được UBND huyện Bảo Thắng xét
tặng danh hiệu tập thể lao động tiên tiến.
Đối với cá nhân có 02 viên chức đạt Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở; 27 viên
chức đạt danh hiệu lao động tiên tiến.
Công tác quản lý, đánh giá đội ngũ cán bộ, Đảng viên và viên chức được
Chi bộ và Ban giáo đốc thực hiện chặt chẽ, kết hợp giữa quản lý hành chính và
quản lý nội dung chuyên môn (lấy quản lý chất lượng chuyên môn là chính),
kết hợp chặt chẽ giữa quản lý ở nơi công tác và ở nơi cư trú. Phát huy vai trò
tự giác của mỗi cán bộ, Đảng viên đồng thời tăng cường công tác kiểm tra,
giám sát của tổ chức Đảng và các đoàn thể nhân dân
2.2.7. Thực hiện chế độ chính sách, chăm lo đời sống vật chất và tinh
thần của đội ngũ cán bộ, viên chức
Các chế độ chính sách đối với cán bộ, viên chức như: Tiền lương, thu
hút, ưu đãi, kiêm nhiệm,… Cơ quan đã chi trả đúng theo quy định. T hực hiện
việc thu nhập tăng thêm trên cơ sở tiết kiệm, làm thên chi đúng theo hướng
dẫn.
đồng ngắn hạn tại cơ sở và hưởng phụ cấp... cùng với đó lại chưa được đóng
bảo hiểm xã hội dẫn đến chưa yên tâm công tác, chất lượng công việc còn
nhiều hạn chế.
23
Cán bộ chủ chốt của đoàn thể là cán bộ, viên chức do Đại hội bầu chưa được
đào tạo, bồi dưỡng. Số ít cán bộ chưa tự giác hoàn thành công việc do Ban chấp
hành phân công, dẫn tới có cá nhân bận quá nhiều công việc, một số công việc giải
quyết không kịp thời ít nhiều ảnh hưởng tới tập thể cơ quan, đơn vị.
Công tác tuyển chon cán bộ, viên chức chưa thực hiện giao quyền tuyển
dung lao động cho cơ quan theo quy định của Nhà nước, chưa phát huy vai trò chủ
động của cơ sở. Vẫn còn duy trì tình trạng cơ quan không được quyền tuyển chọn
cán bộ, nhân viên, do cơ quan cấp trên tuyển chọn và điều động. Do đó chất lượng
một số cán bộ, viên chức mới được tuyển chọn gần đây chưa đáp ứng được yêu cầu
của cơ quan, đơn vị.
Về trình lý luận chính trị: Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ,
viên chức Trung tâm còn thấp: Mới có 04 người có trình độ Trung cấp Chính
trị, còn lại là tương đương với sơ cấp và chưa có trình độ sơ cấp.
Việc bố trí, sử dụng: Cán bộ, viên chức trong cơ quan, đơn vị sau đào tạo
còn bất cập, chưa phù hợp giữa chuyên môn đào tạo với lĩnh vực phụ trách,
cán bộ đi tào tạo Đại học về chưa được chuyển ngạch.
Công tác quy hoạch, đào tạo và bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ, viên chức
thiếu sự đồng bộ. Với thực trạng đó cùng với sức ì của một số nhỏ viên chức
làm việc chủ yếu theo kinh nghiệm, lối mòn, chất lượng và hiệu quả công tác
không cao.
Về công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ, viên chức: Hạn chế trong công tác
này là chưa nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của công tác quy hoạch cán bộ nên việc tổ
chức thực hiện còn lúng túng. Trong quy hoạch còn dàn trải, tính khả thi chưa cao;