PHÁP LUẬT về QUYỀN và NGHĨA vụ của NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH cư ở nước NGOÀI sử DỤNG đất ở VIỆT NAM - Pdf 43

B GIO DC V O TO

B T PHP

TRNG I HC LUT H NI

NGUYN TH

Pháp luật về hoạt động bán hàng và quảng cáo trên mạng xã hội
tại Việt Nam

LUN VN THC S LUT HC
Chuyờn ngnh : Lý lun v lch s Nh nc v phỏp lut
Mó s : 60380101
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. ..

1


HÀ NỘI – NĂM 2017

LỜI CAM ĐOAN
Học viên xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của học viên,
có sự hỗ trợ từ Giảng viên hướng dẫn là Tiến sĩ Nguyễn Thị Dung. Các nội
dung nghiên cứu và kết quả trong luận văn này là do học viên tìm hiểu, phân
tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam.
Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và
có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của học viên. Nếu phát hiện
có bất cứ sự gian lận nào, học viên xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội
đồng cũng như kết quả luận văn của học viên.
Hà Nội, ngày --- tháng -----năm 2017

4. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn 4
4.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn 4
4.2. Nhiệm vụ của luận văn 5
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 6
7. Bố cục của luận văn 7
Chương 1 8
LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ
Ở NƯỚC NGOÀI SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM 8
1.1. Lý luận về người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam 8
1.1.1. Khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài 8
1.1.2. Nguồn gốc hình thành cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài 10
1.1.3. Vai trò của người Việt Nam định cư ở nước ngoài đối với sự phát triển đất
nước Việt Nam 12
1.2. Lý luận pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở
4


nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam 16
1.2.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng pháp luật về quyền và nghĩa vụ
của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam 16
1.2.2. Khái niệm, đặc điểm pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam
định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam 22
1.2.3. Cơ cấu pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở
nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam 26
1.3. Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của
người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam 30
1.3.1. Giai đoạn trước năm 1993 30
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003 32
1.3.3. Giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2013 34

2.5.1. Quy định trong trường hợp được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất 61
2.5.2. Quy định trong trường hợp thuê đất, thuê lại đất 62
2.6. Các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam
định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; người Việt Nam định
cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng
đất ở tại Việt Nam 64
2.6.1. Quy định trong trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở
hữu nhà ở tại Việt Nam 64
6


2.6.2. Quy định trong trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài không
thuộc đối tượng mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam 66
2.7. Các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam
định cư ở nước ngoài thuê đất để xây dựng công trình ngầm 69
2.7.1. Quy định trong trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian
thuê 70
2.7.2. Quy định trong trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm 71
Kết luận chương 2 72
Chương 3 73
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN
VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI SỬ
DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM 73
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người Việt
Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam 73
3.2. Một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của
người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam 74
Kết luận chương 3 79
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

quyền được thuê đất ở Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư theo trong quy
định của pháp luật đất đai năm 1993. Đến nay, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài đã có thể thực hiện rất nhiều quyền khác và tiến tới bình đẳng với
các chủ thể sử dụng đất khác trong nước. Nhưng thực tế phát triển của đất
nước cho thấy vẫn còn có những thiếu sót trong việc đảm bảo cho người Việt
Nam định cư ở nước ngoài được thực hiện đầy đủ các quyền cũng như nghĩa
vụ của mình trong các giao dịch đất đai là rất có ý nghĩa.
Có thể thấy, việc xây dựng được các cơ sở pháp lý bảo đảm thực hiện
tốt các quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng
đất ở Việt Nam trong nền kinh tế hội nhập như hiện nay đòi hỏi phải có sự
nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về việc người
Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam. Trên cơ sở đó đề
xuất những giải pháp nhằm khác phục những bất cập, tồn tại cũng như đẩy
mạnh, phát huy những điểm hợp lý trong lĩnh vực này, đảm bảo quyền và lợi
ích hợp pháp của nhóm đối tượng này. Qua đó tạo động lực lòng tin và tiếp
tục thu hút nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài về
Việt Nam sinh sống đầu tư, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đề tài
“Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
sử dụng đất ở Việt Nam” với mong muốn góp một phần vào việc giải quyết
các vấn đề lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực sử dụng đất ở Việt Nam của
9


cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng
đất ở Việt Nam luôn thu hút được sự quan tâm không chỉ của cộng đồng
người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà còn cả người dân trong nước cũng
như giới nghiên cứu khoa học pháp lý. Ở phạm vi và mức độ khác nhau đã có
một số công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vấn đề quyền

Nhìn chung, các bài viết, các công trình nghiên cứu nêu trên đã góp
phần tạo ra những cơ sở lý luận và chỉ ra được những vấn đề thực tiễn cho
việc quy định về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước
ngoài sử dụng đất ở Việt Nam. Nhưng mỗi một công trình nghiên cứu lại
được thực hiện ở các giai đoạn khác nhau cũng như trên các khía cạnh khác
nhau và chủ yếu nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định
cư ở nước ngoài sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư ở Việt Nam – một
mảng trong tổng thể quyền và nghĩa vụ của họ khi sử dụng đất ở Việt Nam.
Một số công trình khác tuy đã trực tiếp nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của
người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi sử dụng đất ở Việt Nam nhưng lại
trước thời điểm Luật Đất đai Việt Nam năm 2013 ra đời nên đến thời điểm
hiện tại không còn phù hợp. Bởi vậy việc nghiên cứu pháp luật về quyền và
nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam
11


vào thời điểm này được xem là một công việc có ý nghĩa cấp bách khi Việt
Nam ngày càng mở cửa hội nhập sâu rộng với thế giới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Với tư cách là một công trình nghiên cứu luật học, đối tượng nghiên
cứu của đề tài luận văn được xác định là các quy định pháp luật nói chung và
quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước
ngoài sử dụng đất ở Việt Nam nói riêng; các tình huống thực tiễn phát sinh
trong quá trình áp dụng pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về quyền và
nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam
nói riêng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng
đất ở Việt Nam là vấn đề rất nhạy cảm, có quan hệ mật thiết với nhiều lĩnh

4.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích nghiên cứu kể trên, đề tài luận văn có nhiệm vụ
sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về người Việt Nam định cư ở nước
ngoài với tư cách là một chủ thể đặc biệt nhưng lại bình đẳng với các chủ thể
khác trong nước về hoạt động sử dụng đất; cơ sở lý luận của việc quy định
13


quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong lĩnh vực
này.
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng quyền và nghĩa
vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, các quy định pháp luật có liên
quan để làm rõ cơ sở thực tiễn của việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp
luật về lĩnh vực này.
- Đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật đất đai nói
chung và các quy định về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở
nước ngoài nói riêng trên định hướng xóa bỏ sự phân biệt giữa người Việt
Nam định cư ở nước ngoài và người Việt Nam ở trong nước khi sử dụng đất.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn dựa trên
cơ sở vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về chính sách và pháp luật đất đai trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây
dựng và phát triển nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy mọi
tiềm năng phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên
cạnh đó, luận văn còn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể
như:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn giải và lịch sử được
sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền và



quy định về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
trong hoạt động sử dụng đất trước bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta và xu thế hội nhập thế giới.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của người Việt
Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam.
- Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của
người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam.
- Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền và
nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam.

16


Chương 1
LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH
CƯ Ở NƯỚC NGOÀI SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM
1.1. Lý luận về người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt Nam
1.1.1. Khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Pháp luật Việt Nam qua từng thời kỳ lại có những định nghĩa khác
nhau về người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Trước năm 1982, các cụm từ như “Việt kiều”, “người Việt Nam sinh
sống ở nước ngoài” hay được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật
ở nước ta khi nhắc đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (ví dụ như:
Nghị định 209-CP ngày 14/07/1979 của Hội đồng Chính phủ về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của ban Việt kiều Trung ương; Quyết định

những chủ thể này đã được đưa ra, cụ thể tại khoản 3 và khoản 4 Điều 2:
“- Người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc
Việt Nam đang thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài.
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người
gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.”.
Như vậy, theo quy định của Luật Quốc tịch năm 1998 thì để xác định
một người là người Việt Nam định cư ở nước ngoài hay người Việt Nam ở
nước ngoài căn cứ vào việc người này cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước
18


ngoài hay chỉ là đang thường trú, tạm trú ở nước ngoài. Trong pháp luật đất
đai, khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhắc tới tại Điều 2
Nghị định số 81/2001/NĐ-CP ngày 05/11/2001 của Chính phủ v/v người Việt
Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở Việt Nam: “Người Việt Nam định cư ở
nước ngoài quy định tại Nghị định này là công dân Việt Nam và người gốc
Việt Nam cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài đã được quy định tại
Luật Quốc tịch Việt Nam ngày 01/01/1999”, những người này về đầu tư, hoạt
động văn hóa, hoạt động khoa học thường xuyên hoặc về sống ổn định tại
Việt Nam.
Tới Luật Quốc tịch năm 2008, định nghĩa về người Việt Nam định cư ở
nước ngoài vẫn được kế thừa theo quy định tại khoản 3 Điều 3. Bên cạnh đó,
pháp luật quốc tịch năm 2008 còn quy định về người gốc Việt Nam định cư ở
nước ngoài tại khoản 4 Điều 3, cụ thể: “Người gốc Việt Nam định cư ở nước
ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc
tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ
đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.”. Việc đưa ra định nghĩa này
giúp góp phần hoàn thiện hoàn thiện hơn các quy định về người Việt Nam
định cư ở nước ngoài. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch
năm 2014 vẫn giữ nguyên các quy định như vậy. Pháp luật đất đai theo Luật

khắc chia Việt Nam ra làm hai vùng tập trung quân sự, một cuộc di cư lớn của
20


gần 900.000 người dân miền Bắc, đa số là người Công giáo, đã vào miền
Nam với niềm tin tôn giáo của họ.
Từ năm 1955 đến năm 1975, chính quyền ở miền Nam Việt Nam đã cố
gắng xây dựng một nhà nước mới từ sự viện trợ chủ yếu là của Hoa Kỳ và cả
của Pháp. Trong giai đoạn này, mọi mặt kinh tế, chính trị và xã hội của người
dân đều chịu ảnh hưởng từ các nước phương Tây này làm cho sự khác biệt
giữa miền Bắc và miền Nam càng lớn. Và đến tháng 04/1975, chương trình
“Frequent Wind” của Chính phủ Hoa Kỳ đã di tản quân nhân, nhân viên dân
sự Hoa Kỳ và một số người Viêt Nam đã từng công tác hay có liên hệ với
Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Có 50.493 người đã
được di tản từ sân bay Tân Sơn Nhất vào thời điểm đó, và tính đến năm 1977,
gần 210.000 người Việt Nam đã di cư chủ yếu sang các nước Hoa Kỳ, Pháp,
Canada và Úc. Đây cũng chính là cuộc di cư lớn đầu tiên của người Việt Nam
ra nước ngoài.
Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, làn sóng di cư lớn thứ hai của
người Việt Nam ra nước ngoài bắt đầu vào năm 1977 và được biết đến với tên
“thuyền nhân Việt Nam”. Và làn sóng di cư lớn cuối cùng của Việt Nam là
vào thời điểm cuối những năm 1980, gắn liền với Kế hoạch hoạt động toàn
diện (Comprehensive Plan of Action – CPA) được thông qua tại Hội nghị
quốc tế về tị nạn Đông Dương năm 1989 giải quyết chung về vấn đề tị nạn.
Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng, người Việt Nam di cư ra nước ngoài thuộc rất
nhiều tầng lớp, từ nông dân cho đến trí thức.
Có thể thấy, với những cuộc di cư lớn của người Việt Nam như đã nêu
21



Việt Nam có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người gốc
Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê
hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước…”.
Với những chủ trương, chính sách ngày càng mở rộng của Nhà nước, tư
tưởng hướng về cội nguồn của cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước
ngoài đã có những bước phát triển tích cực trong những năm gần đây. Sự
tham gia của kiều bào vào các hoạt động xã hội trong nước ngày càng sâu
rộng. Số lượng người về thăm gia đình, quê hương ngày một tăng, nếu như
năm 1987 chỉ có khoảng 8.000 lượt người về thăm Việt Nam, thì năm 1992 đã
lên tới 97.000 lượt người; các năm 2000-2004, trung bình mỗi năm có khoảng
350.000 lượt kiều bào về Việt Nam thăm thân nhân, du lịch, tìm hiểu cơ hội
đầu tư kinh doanh. Năm 2004 đạt kỷ lục với 430.000 lượt người. Theo báo
cáo của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, trong giai đoạn 5
năm (từ năm 2005 đến năm 2010) trung bình mỗi năm có khoảng 500.000
Việt kiều về thăm quê hương, theo đó một lượng kiều hối rất lớn được chuyển
về nước, không chỉ để chuyển cho thân nhân, mà còn thực hiện rất nhiều dự
án đầu tư3.
Thông qua các dự án đầu tư của Việt kiều tại Việt Nam, nhiều nguồn
lực trong nước như lao động, đất đai, tài nguyên được sử dụng và phát huy có
hiệu quả. Sự đóng góp của kiều bào nước ngoài đã giúp mở rộng thị trường,
23


thúc đẩy các hoạt động dịch vụ, tạo cầu nối cho các doanh nghiệp trong nước
xuất khẩu tại chỗ hoặc tiếp cận với thị trường thế giới, góp phần giới thiệu,
chuyển giao phương pháp quản lý và phương thức kinh doanh hiện đại cho
các doanh nghiệp trong nước. Có thể thấy đây chính là một trong những nhân
tố thúc đẩy doanh nghiệp trong nước đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng
và sức cạnh tranh; lao động trong nước có thêm cơ hội được đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao tay nghề, tiếp thu công nghệ tiên tiến, rèn luyện tác phong

gắn kết cộng đồng, giúp đỡ nhau làm ăn, hướng về đất nước và thực sự trở
thành cầu nối hữu nghị giữa Việt Nam với bạn bè thế giới. Nhiều trí thức, nhà
khoa học, doanh nhân được đào tạo ở những nước phát triển, có trình độ khoa
học – công nghệ tiên tiến đã về đóng góp trong công cuộc xây dựng đất nước.
Từ năm 1990, Chương trình chuyển giao trí thức của người Việt Nam định cư
ở nước ngoài đã được khởi động nhưng chưa diễn ra mạnh, cho tới năm 2002
mới chỉ có 150 chuyên gia là Việt kiều (trong các lĩnh vực công nghệ thông,
công nghiệp, kỹ thuật, y tế, quản lý và tài chính) được ghi nhận trong danh
sách là về đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Tính đến năm 2010, trung
bình mỗi năm có khoảng 300 chuyên gia, trí thức về nước hợp tác, đóng góp
chuyên môn chủ yếu trên các lĩnh vực; tư vấn trong hoạch định chính sách
phát triển đất nước, nhất là trong các ngành kinh tế, khoa học, chuyển giao
công nghệ, giáo dục, đào tạo; làm cầu nối hợp tác, tìm kiếm nguồn đầu tư
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status