BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ ……
VÊn ®Ò x©y dùng ®¶o vµ c«ng tr×nh, thiÕt bÞ nh©n t¹o
theo quy ®Þnh cña C«ng íc LuËt BiÓn 1982
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số : 60380101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ……………..
HÀ NỘI – NĂM 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực. Tôi xin cam đoan rằng mọi sự
giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích
dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày …..tháng …..năm 2017
Người cam đoan
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Trường đại học
Luật Hà Nội; lãnh đạo, cán bộ Khoa Pháp luật Quốc tế, Khoa sau Đại học và các
khoa, phòng có liên quan của Đại học Luật Hà Nội đã luôn quan tâm, tạo điều
UAE Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất
Mục lục
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ ĐẢO NHÂN TẠO, CÔNG TRÌNH, THIẾT BỊ
NHÂN TẠO TRÊN BIỂN 8
1.1. Khái niệm đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo trên biển 8
1.1.1. Khái niệm đảo nhân tạo 8
1.1.2. Khái niệm công trình, thiết bị nhân tạo trên biển 12
1.1.3. Mối liên hệ giữa đảo nhân tạo và công trình thiết bị nhân tạo trên biển 14
1.2. Thực tiễn xây dựng đảo nhân tạo, công trình, nhân tạo trên biển 15
1.3. Phân loại đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo trên biển 17
1.4. Tác động, ảnh hưởng của việc xây dựng đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo trên
biển 24
1.4.1. Tác động, ảnh hưởng tích cực 24
1.4.2. Tác động, ảnh hưởng tiêu cực 24
TIỂU KẾT 26
CHƯƠNG 2: QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA ĐẢO NHÂN TẠO, CÔNG TRÌNH, THIẾT
BỊ NHÂN TẠO THEO CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN NĂM 1982 27
2.1. Quá trình pháp điển hóa Luật Biển quốc tế, hình thành Công ước Luật biển năm 1982 27
2.2. Thẩm quyền xây dựng đảo nhân tạo, công trình, thiết bị trên các vùng biển 31
2.3. Đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo và việc xác định các đường ranh giới trên
biển 37
2.4. Đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo và việc mở rộng các bãi cạn lúc nổi lúc chìm,
đảo và đảo đá 40
TIỂU KẾT 42
và quyền tài phán của quốc gia; gia tăng hiệu quả khai thác tài nguyên biển
(như khai thác dầu khí, thủy, hải sản, các mỏ kim loại...); nghiên cứu khoa
học biển; bảo đảm an ninh hàng hải, hàng không, thương mại quốc tế và các
hoạt động tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, đấu tranh phòng, chống tội phạm; điều
chỉnh, cân bằng dòng chảy của thủy triều, chống xói mòn (Balance Island
của Hà Lan); thích nghi với tình trạng trái đất nóng lên (Hulhumale của
Cộng hòa Maldives)...
Từ những lợi ích to lớn nói trên, nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang
tiến hành xây dựng đảo nhân tạo, điển hình là Hà Lan, các Tiểu Vương quốc
Arab thống nhất (UAE), Azerbaijan, Maldives, Qatar, Bahrain, Áo, Canada,
Đan Mạch, Hong Kong, Singapore, Nam Phi, Ấn Độ...
Tuy nhiên, một thực trạng nguy hiểm hiện nay đó chính là việc bồi đắp,
mở rộng các đảo đá nhỏ, hay các bãi ngầm, rạn san hô, bãi cạn lúc chìm lúc
nổi để biến chúng thành đảo nhân tạo đang được một số quốc gia thực hiện
với mục đích duy trì, củng cố yêu sách về chủ quyền đối với các vùng biển
xung quanh các “đảo” này, đặc biệt ở các quần đảo và vùng biển đang có yêu
sách tranh chấp hoặc chồng lấn. Việc xây dựng, bồi đắp các đảo nhân tạo này
đã từng bước làm thay đổi hiện trạng của các vùng biển, đảo khiến cho mâu
thuẫn giữa các quốc gia có lợi ích liên quan ngày càng căng thẳng và phức
tạp. Thực tiễn đó đã và đang được Trung Quốc tiến hành với quy mô rất lớn ở
quần đảo Hoàng Sa và 7 bãi đá ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của
Việt Nam.
Vậy việc nghiên cứu “Vấn đề xây dựng đảo và công trình, thiết bị
nhân tạo theo quy định của Công ước Luật Biển 1982” là rất quan trọng.
Với mong muốn làm sáng tỏ các quy chế pháp lý liên quan đến khái niệm,
điều kiện, vị trí, thủ tục xây dựng, quy chế pháp lý và quyền tài phán của quốc
gia đối với đảo, công trình và thiết bị nhân tạo theo quy định của Công ước
Luật Biển năm 1982. Đồng thời, phân tích cơ sở pháp lý và tác động tiêu cực
mang tính chuyển tải nội dung tính chất địa chính trị, lợi ích, chính sách và
hành động của các bên liên quan.
Số lượng các công trình nghiên cứu về vấn đề pháp lý liên quan đến
xây dựng đảo và công trình, thiết bị nhân tạo theo quy định của Công ước
Luật Biển năm 1982 còn hạn chế, vì vậy, tác giả chọn đề tài luận văn trên
đảm bảo tính “mới” trong nghiên cứu.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu
- Quy chế pháp lý về việc xây dựng đảo và công trình thiết bị nhân tạo;
- Thực tiễn các quốc gia trên thế giới trong giải quyết tranh chấp về
việc xây dựng đảo và công trình thiết bị nhân tạo.
- Áp dụng vào trường hợp các yêu sách vùng biển tại Biển Đông.
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: khu vực Biển Đông, trong vùng biển thuộc chủ
quyền của Trung Quốc và Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2014 khi Trung Quốc tiến hành cải tạo,
xây dựng đảo, công trình nhân tạo trên Biển Đông, có sử dụng dẫn chứng
lịch sử.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
- Làm sáng tỏ các quy chế pháp lý liên quan đến khái niệm, điều kiện,
vị trí, thủ tục xây dựng, quy chế pháp lý và quyền tài phán của quốc gia đối
với đảo, công trình và thiết bị nhân tạo theo quy định của Công ước Luật Biển
năm 1982.
- Phân tích cơ sở pháp lý và tác động tiêu cực từ thực trạng xây dựng
đảo nhân tạo bất hợp pháp của Trung Quốc trên các đá ở quần đảo Trường Sa
- Phương pháp phân tích, chứng minh, so sánh và tổng hợp là những
phương pháp bổ trợ cần thiết cho phương pháp chủ yếu nêu trên nhằm giải
quyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra.
Một số vụ việc tương tự trên thế giới cũng được sử dụng có chọn lọc để
bình luận và các tài liệu, số liệu thống kê của các cơ quan chuyên ngành liên
quan đến vấn đề nghiên cứu cũng được tham khảo để việc nghiên cứu được
toàn diện và sâu sắc hơn.
Cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Cơ sở khoa học
- Đề tài vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó chủ yếu
vận dụng thuyết duy vật lịch sử trong việc lý giải mối quan hệ giữa vật chất
và ý thức, vai trò quan trọng quyết định của nhân tố vật chất đối với ý chí và
quyết định của con người.
- Đề tài vận dụng lý thuyết của chủ nghĩa hiện thực, nhấn mạnh quốc
gia là chủ thể cơ bản và duy lý, “chủ nghĩa quốc gia” chi phối chính sách
đối ngoại của mỗi nước. Sự phát triển và quyền lực có ảnh hưởng quyết
định đến sự tồn tại của quốc gia nên nhó trở thành mục tiêu mà quốc gia
theo đuổi.
Ý nghĩa thực tiễn
Tranh chấp trên Biển Đông hiện đang là một vấn đề “thời sự”, có ảnh
hưởng trực tiếp tới lợi ích và việc bảo vệ an ninh chủ quyền biển đảo của Việt
Nam. Trong bối cảnh đó, những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần
làm rõ một vấn đề quan trọng, xác định tính hợp pháp của các công trình trên
Biển Đông. Qua phân tích hiện trạng cũng như lịch sử của vấn đề này, đề tài
cũng sẽ đưa ra một số dự báo trong tương lai, và đây sẽ là cơ sở quan trọng để
chúng ta có thể đưa ra những kiến nghị, chính sách phù hợp nhằm bảo vệ lợi
ích của Việt Nam.
Về phương diện nhận thức: Làm sáng tỏ các quy chế pháp lý liên quan
theo Công ước Luật Biển năm 1982 - một vấn đề phức tạp mà luật pháp quốc
tế hiện đại đang cần làm rõ.
CHƢƠNG 3: Thực trạng xây dựng đảo nhân tạo, công trình và thiết bị
nhân tạo ở Biển Đông và một số đề xuất, kiến nghị cho Việt Nam
Chương này nêu bật vị trí, vai trò của Biển Đông đối với các nước
trong khu vực, trên thế giới và cả với Việt Nam. Đồng thời, khái quát về các
tranh chấp trong khu vực này, trong đó có vấn đề “đảo hóa” các đá, rạn san hô
trong khu vực Biển Đông. Trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, đề xuất giải
pháp, kiến nghị phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam cũng như Công
ước Luật Biển năm 1982, đến những vấn đề có liên quan đến việc xác định
quy chế pháp lý của đảo nhân tạo - những thực thể hiện hữu trên Biển Đông,
làm ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, hòa bình, ổn định của khu vực.
CHƢƠNG 1
NHẬN THỨC CHUNG VỀ ĐẢO NHÂN TẠO, CÔNG TRÌNH,
THIẾT BỊ NHÂN TẠO TRÊN BIỂN
1.1. Khái niệm đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo trên biển
1.1.1. Khái niệm đảo nhân tạo
Trong lịch sử nhân loại, xuất phát từ những nhu cầu khác nhau, các
quốc gia luôn tìm cách mở rộng lãnh thổ của mình mà một trong những biện
pháp để thực hiện nhu cầu đó là việc chiếm hữu nhiều hơn không gian biển.
Một biểu hiện cụ thể của việc “lấn biển” đó là việc xây dựng những hòn đảo
nhân tạo. Việc xây dựng đảo nhân tạo đã có từ thời xa xưa: Thời La Mã cổ đại
có những ghi chép sơ khai đầu tiên về đảo nhân tạo từ gần 2000 năm trước.
Năm 47, Plinius đề cập đến những “gò đất nhân tạo” do cư dân sống tại khu
vực mà ngày nay thuộc Đông Bắc Hà Lan, được xây dựng để tránh triều
cường và sóng bão1
thực thể nổi trên biển khi thủy triều lên cao do các hoạt động cải tạo đất hoặc
các hoạt động nhân tạo khác” 6
. Hay “Đảo nhân tạo là các thực thể nhân tạo
được hình thành từ nguồn tự nhiên trên nền đất cả đáy biển, bao quanh bởi
nước và nổi trên biển khi thủy triều lên cao” 7
. Phân tích các định nghĩa trên
có thể thấy, chúng chưa phản ánh toàn diện các vấn đề kỹ thuật và tính pháp
lý của đảo nhân tạo. Sẽ hợp lý hơn khi định nghĩa đảo nhân tạo dựa trên tiêu
chí về kỹ thuật, pháp lý và mục đích xây dựng. Tiêu chí kỹ thuật để trả lời cho
câu hỏi: Đảo nhân tạo được xây dựng như thế nào, bằng vật liệu gì? Tiêu chí
pháp lý để trả lời cho câu hỏi: Đảo nhân tạo có quy chế pháp lý như thế nào?
Tiêu chí mục đích xây dựng, trả lời cho câu hỏi: Đảo nhân tạo được xây dựng
nhằm mục đích gì?
Về phương diện pháp luật quốc tế, trong quá trình đàm phán để ký kết
UNCLOS đã có đệ trình của một số quốc gia liên quan tới đảo nhân tạo
nhưng văn bản cuối cùng của UNCLOS chỉ định nghĩa “đảo” tại Điều 121:
“Đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất
này vẫn ở trên mặt nước” mà không định nghĩa “đảo nhân tạo”. Việc thiếu
vắng định nghĩa về đảo nhân tạo trong UNCLOS đã làm cho việc giải thích và
áp dụng quy chế pháp lý của đảo nhân tạo trên thực tế chưa có sự thống nhất.
Theo pháp luật Việt Nam, cụ thể là Luật Biển Việt Nam 2012, khái
niệm “đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển” được định nghĩa, bao gồm:
(i) Các giàn khoan trên biển cùng toàn bộ các bộ phận phụ thuộc khác
đảm bảo hoạt động bình thường và liên tục của các giàn khoan hoặc các thiết
bị chuyên dùng để thăm dò, khai thác và sử dụng biển;
(ii) Các loại báo hiệu hàng hải;
(iii) Các thiết bị, công trình khác được lắp đặt và sử dụng ở biển.8
Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, đảo nhân tạo và thiết bị, công trình
bỏ các cấu trúc khi thủy triều xuống thấp thì lộ ra, khi thủy triều lên cao thì bị
ngập nước. Tuy nhiên, Công ước Luật Biển năm 1982 không đưa ra khái
niệm và các phương pháp xác định thủy triều10. Trên thực tế, tính toán thủy
10 Về phương diện địa lý, thủy triều là hiện tượng chuyển động thường xuyên và có chu kỳ
của các khối
nước trong các biển và đại dương. Sự thay đổi lực hấp dẫn từ Mặt Trăng và từ các thiên thể
khác như Mặt
Trời tại một điểm bất kỳ trên bề mặt Trái Đất trong khi Trái Đất quay đã tạo nên hiện tượng
nước lên
(triều lên) và nước rút (triều xuống) vào những khoảng thời gian nhất định trong một ngày.
Nguyên nhân
của thủy triều chủ yếu do sức hút của Mặt Trăng và Mặt Trời. Một số nơi trên thế giới xuất
hiện các loại
thủy triều sau: triều bán nhật nếu như chu kỳ dao động của thủy triều bằng nửa ngày Mặt
Trăng
(12g25ph), triều toàn nhật - chu kỳ bằng một ngày Mặt Trăng (24g50ph) và triều hỗn hợp với
chu kỳ biến
12
triều là một lĩnh vực phức tạp và nhiều phương pháp tính cũng như phân tích
số liệu mực nước thủy triều đã hình thành. Vì vậy, mỗi quốc gia tự lựa chọn
cho mình một phương pháp phù hợp. Chỉ tính riêng 31 nước11 có quy định
phương pháp tính toán thủy triều trong hệ thống pháp luật quốc gia, 17 công
thức tính khác nhau đã được sử dụng. Việc xảy ra tranh chấp là điều khó
tránh khỏi khi các phương pháp tính thủy triều đưa đến những kết quả không
giống nhau.
1.1.2. Khái niệm công trình, thiết bị nhân tạo trên biển
Ngoài đảo nhân tạo, một dạng thực thể khác cũng được con người chú
trọng xây dựng để đáp ứng các nhu cầu khác nhau đó là: công trình, thiết bị
Nouvelle-Zélande, Pays-Bas, Royaume-Uni, Samoa, Soudan, Sri Lanka, Syrie, Tonga,
Trinité et Tobago,
Tuvalu, Ukraine, Vanuatu, Venezuela. Theo:
http://www.un.org/Depts/los/LEGISLATIONANDTREATIES/index.htm.
12 George K. Walker (2012), Definitions for the Law of the Sea: Terms Not Defined by the
1982
Convention, Martinus Nijihoff Publishers.
13
được hiểu là bất kỳ cấu trúc cố định hoặc nổi và bất kỳ phần gắn liền nào của
nó được sử dụng vào các hoạt động: (i) các bộ phận thăm dò ngoài khơi cố
định hoặc di động; (ii) các bộ phận sản xuất bao gồm các bộ phận có vị trí
động; (iii) các hệ thống kho bãi ngoài khơi bao gồm các tàu thuyền sử dụng
cho mục đích đó; (iv) các cảng phục vụ việc bốc dỡ và hệ thống vận chuyển
các sản phẩm được chiết xuất như các ống dẫn ngầm; (v) hệ thống máy móc
gắn liền với các thiết bị nhằm mục đích bốc xếp, sản xuất, lưu trữ và tiêu hủy
các chất được lấy lên từ đáy biển và lòng đất dưới đáy biển13. Theo Công ước
Luật Biển năm 198214, thuật ngữ “thiết bị công trình” có được nhắc tới tuy
nhiên thuật ngữ này không được định nghĩa hay làm rõ trong Công ước15
.
Trong khoa học pháp lý, chúng thường được hiểu là những thiết bị, công trình
nhân tạo được xây dựng và lắp đặt một cách lâu dài trong lãnh hải, vùng đặc
quyền kinh tế và trên thềm lục địa; trong vùng nước quần đảo hoặc những
vùng biển quốc tế được điều chỉnh bằng Công ước Luật Biển năm 1982 và
luôn được sử dụng nhằm mục đích thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên
biển. Chúng là các công trình, thiết bị trên biển do con người xây dựng, lắp
đặt và sử dụng trên biển16, vì vậy, chúng phân biệt với các thực thể được tạo
ra trên biển bởi sự kiến tạo thiên nhiên - những thực thể đáp ứng tiêu chuẩn
kết vật chất với đáy biển một cách trực tiếp (như những công trình, thiết bị
được xây dựng, lắp đặt trên hạ tầng đáy biển, chúng có sự gắn bó hữu cơ với
đáy biển) hoặc thậm chí không gắn liền với đáy biển.
Bên cạnh đó, các công trình, thiết bị nhân tạo cũng được bao bọc bởi
nước biển và ở trên mực nước biển khi thủy triều lên cao nhất.
1.1.3. Mối liên hệ giữa đảo nhân tạo và công trình, thiết bị nhân tạo
trên biển
Do đặc tính “nhân tạo” của chúng mà các công trình, thiết bị luôn có sự
liên hệ mật thiết với các “đảo nhân tạo”. Thông thường, khái niệm xây dựng
các đảo nhân tạo sẽ bao hàm việc xây dựng thiết bị và công trình trên đó hoặc
ngược lại, việc xây dựng các công trình, thiết bị trên một thực thể thường
được hiểu đồng nghĩa với việc xây dựng đảo nhân tạo theo nghĩa rộng. Ở đây
có hai trường hợp đặt ra.
Trường hợp thứ nhất, trường hợp bản thân các công trình, thiết bị đó
đóng vai trò như một “đảo nhân tạo” tức là có sự gắn bó vật chất với đáy biển
và có đầy đủ các tiêu chuẩn cần thiết của một đảo như có nước bao quanh,
thường xuyên nhô lên khỏi mặt nước khi nước thủy triều lên cao nhất. Trong
trường hợp này hai khái niệm là một và có thể dùng thay thế cho nhau.
15
Trường hợp thứ hai, trường hợp các công trình, thiết bị được xây dựng
và lắp đặt đồng thời, hoặc sau đó, với một đảo nhân tạo. Trong trường hợp
này, hai khái niệm được hiểu không hoàn toàn đồng nhất. Vấn đề đặt ra là
trong trường hợp một quốc gia tiến hành hoạt động cải tạo đất và xây dựng
những công trình trên đó thì điều này có làm thay đổi bản chất pháp lý của
các bãi cạn này không? Trong trường hợp này, thứ nhất, các bãi cạn lúc nổi
lúc chìm này có thể tiếp tục là một bãi cạn lúc nổi lúc chìm, tuy nhiên theo
Điều 7 (4) UNCLOS, trong trường hợp trên đó có những đèn biển hoặc các
thiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt nước hoặc việc vạch các đường