HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
THI DON VIT
ảNH HƯởNG ĐạO ĐứC NHO GIáO
ĐếN GIáO DụC ĐạO ĐứC TRONG GIA ĐìNH
ở VIệT NAM HIệN NAY
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: CH NGHA DUY VT BIN CHNG
V CH NGHA DUY VT LCH S
H NI - 2017
HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
THI DON VIT
ảNH HƯởNG ĐạO ĐứC NHO GIáO
ĐếN GIáO DụC ĐạO ĐứC TRONG GIA ĐìNH
ở VIệT NAM HIệN NAY
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: CH NGHA DUY VT BIN CHNG
V CH NGHA DUY VT LCH S
Mó s: 62 22 03 02
Ngi hng dn khoa hc:
1. PGS.TS. TRN NGUYấN VIT
1.4. Khái lược những kết quả đạt được từ các công trình khảo cứu ở
trên và những vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết
5
5
14
18
22
Chương 2: QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ VAI TRÒ
CỦA NÓ ĐỐI VỚI LĨNH VỰC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC GIA
ĐÌNH VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ
2.1. Quan niệm của Nho giáo về đạo đức và đạo đức trong gia đình
2.2. Đạo đức Nho giáo với tư cách nhân tố chủ đạo của giáo dục đạo
đức gia đình Việt Nam trong lịch sử
26
26
54
Chương 3: ẢNH HƯỞNG ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO ĐẾN GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC TRONG GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC
TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
3.1. Những nhân tố tác động đến ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo
trong giáo dục đạo đức trong gia đình ở Việt Nam hiện nay và
phương thức ảnh hưởng của nó
3.2. Thực trạng ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đến giáo dục đạo
đức trong gia đình ở Việt Nam hiện nay
152
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xét về mặt ý thức hệ, Việt Nam từng chịu ảnh hưởng sâu đậm của tư
tưởng phong kiến Trung Quốc mà nền tảng của nó là Nho giáo. Bên cạnh mặt
tiêu cực đã và đang ảnh hưởng không tốt đến đời sống xã hội, Nho giáo vẫn
phát huy được những mặt tích cực nhất định của nó. Ở nhiều nước phương
Đông như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore... Nho giáo vẫn có vị trí nhất định
trong đời sống xã hội. Ông Lý Quang Diệu, nguyên Thủ tướng Singapore tại
Hội nghị nghiên cứu về Khổng Tử và Đại hội thành lập Hội liên hiệp Nho học
quốc tế nhân dịp kỷ niệm 2545 năm ngày sinh của Khổng Tử, đã phát biểu
như sau:
76% nhân khẩu của Singapore là người Hoa. Văn hoá dân tộc Hoa
chú trọng ngũ luân, cũng tức là: cha con thì có tình thân, vua quan
thì có nghĩa, chồng vợ thì có khác biệt, trưởng ấu thì có thứ tự, bạn
bè thì có điều tín. Họ xem lợi ích xã hội cao hơn lợi ích cá nhân, do
đó không tiếp thu chủ nghĩa cá nhân vô hạn độ của người Mỹ... Từ
kinh nghiệm quản lý đất nước của Singapore, đặc biệt trong những
ngày gian khổ từ năm 1959- 1969, khiến tôi tin tưởng sâu sắc rằng,
nếu không phải là đại bộ phận nhân dân Singapore được hun đúc
qua giá trị quan của Nho học, thì chúng tôi không có cách gì khắc
phục những khó khăn, trở ngại đã vấp phải [37, tr.281].
Trải qua nhiều bước thăng trầm, song ảnh hưởng cũng như giá trị và
sức sống của tư tưởng Nho giáo nói chung, đạo đức Nho giáo nói riêng là điều
chúng ta không thể phủ nhận. Tuy ở mức độ khác nhau, nhưng với hơn 2500
năm tồn tại và phát triển, tư tưởng Nho giáo trong đó có học thuyết đạo đức
của nó đã thấm sâu trong đời sống tinh thần của nhiều người Việt Nam, thậm
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đến giáo dục
đạo đức trong gia đình ở Việt Nam trong lịch sử và những vấn đề đặt ra từ
3
ảnh hưởng đó đến giáo dục đạo đức trong gia đình Việt Nam hiện nay, luận
án đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần phát
huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo
đến giáo dục đạo đức trong gia đình, góp phần vào sự nghiệp xây dựng gia
đình văn hóa mới ở nước ta hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Thứ nhất: Nghiên cứu nguồn gốc, nội dung đạo đức Nho giáo.
Thứ hai: Đánh giá thực trạng ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đến giáo
dục đạo đức trong gia đình ở Việt Nam hiện nay và một số vấn đề đặt ra.
Thứ ba: Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát
huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo
đến việc giáo dục đạo đức trong gia đình ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đạo đức Nho giáo và ảnh hưởng đạo đức Nho giáo (cả mặt tích cực lẫn
tiêu cực) đến giáo dục đạo đức trong gia đình ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu ảnh hưởng đạo đức Nho giáo đến giáo
dục đạo đức trong gia đình Việt Nam hiện nay (nhưng số liệu điều tra, khảo
sát chủ yếu từ khi đổi mới đất nước đến nay).
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
là việc tiếp thu các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc góp phần xây
dựng gia đình văn hóa mới.
Luận án sẽ là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, giảng dạy và học tập
môn triết học nói chung và triết học phương Đông nói riêng, cũng như các
môn về khoa học xã hội. Luận án cũng là tài liệu quan trọng cho những ai
quan tâm đến đạo đức, Nho giáo và giáo dục đạo đức gia đình.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận án gồm 4 chương, 11 tiết.
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Nho giáo là học thuyết chính trị - xã hội ra đời cách đây hơn 2500 năm.
Sự tồn tại, phát triển của Nho giáo và những giá trị của Nho giáo cũng như
những mặt trái của Nho giáo luôn nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu
không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới. Cho đến nay, đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu về Nho giáo từ nhiều góc độ khác nhau. Chúng ta có
thể khái quát lại các công trình nghiên cứu và phân chia thành các nhóm sau:
1.1. NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN NHO GIÁO VÀ ĐẠO ĐỨC
NHO GIÁO
1.1.1. Những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Vấn đề đạo đức nói chung và đạo đức Nho giáo nói riêng luôn được giới
nghiên cứu quan tâm và từ lâu đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả, với
nhiều cách tiếp cận khác nhau trên thế giới.
Chẳng hạn bộ sách: "20 thế kỷ Nho học nghiên cứu đại hệ 21" của
Truyền Vĩnh, Hàn Chung Văn [200], là kết quả nghiên cứu từ Hội thảo khoa
[202]. Đây là công trình nghiên cứu những luân lý của Nho gia một cách tổng
quát. Từ luận lý tác giả đã nêu bật được những ảnh hưởng của Nho giáo đến
toàn xã hội Trung Quốc và ảnh hưởng của luân lý Nho gia đến xã hội Đông
Á, vai trò của luân lý Nho gia đối với sự phát triển kinh tế. Lý Đào Tường với
công trình "Nghiên cứu luân lý Nho gia" [186] đã tập trung nghiên cứu tư
tưởng giáo dục của các nhà Nho giáo. Công trình "Nghiên cứu sự truyền bá
Nho học" của tác giả Lưu Đức Tăng [146] đã nghiên cứu các vấn đề: Sự
truyền bá và phân hoá hay biến thể của Nho học; Nam học và Bắc học Nho
giáo; Văn hoá khu vực và các môn phái Lý học…
Thứ tư, những nghiên cứu Nho giáo trong tương quan của trục quan hệ
so sánh.
Đây là mảng đề tài được rất nhiều tác giả quan tâm. Tiêu biểu là công
trình: "Nghiên cứu Nho học Nhật Bản, Hàn Quốc" của Lưu Hậu Cầm [24].
7
Trong công trình này các tác giả đã nêu bật được những ảnh hưởng của Nho
giáo đến Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Cùng thể loại công trình này, tác
giả Lý Cảnh Minh, Đường Minh Quý đã đồng chủ biên hai công trình về Nho
giáo là "Nghiên cứu so sánh Nho giáo và Đạo giáo" [107] và "Nghiên cứu so
sánh Nho giáo và Phật giáo" [108]. Ngoài ra còn có các tác phẩm: "Nghiên
cứu tư tưởng sử học của Nho gia"; "Nghiên cứu tư tưởng tôn giáo của Nho
gia" trong cuốn: "Nghiên cứu tư tưởng triết học của Nho gia" của Tế Kim
Giang, Lý Kiến và Trương Tụng Chi [50]... Các công trình này đã nêu được
những điểm khác biệt của Nho giáo trên từng lĩnh vực đời sống xã hội so với
các học thuyết ngoài nó.
Thứ năm, những nghiên cứu về văn hoá trong Nho giáo
Về văn hóa trong Nho giáo các tác giả tập trung khai thác ở mảng Khổng
Tử và Hiến pháp, Nho giáo và Hiến pháp; Nho giáo với văn hoá truyền thống
của Trung Quốc hay tính cách của Nho gia và hạn chế trong cuộc sống hiện
gia với các vấn đề triết học chính trị hiện đại: nhân quyền, dân quyền, dân
chủ, và so sánh với xã hội phương Tây. Ở đây các tác giả cũng lấy tư tưởng
của Mạnh Tử về dân bản (dân vi bản) để phân tích, đề xuất mô hình xã hội
đương đại.
Tác giả Trương Hưng Phúc với công trình: "Văn hoá Nho gia và nghiên
cứu quản lý hiện đại" [135] đã đề cập đến những vấn đề lợi ích, chế độ, đào
tạo bồi dưỡng nhân tài, hiệu ứng tâm lý, giá trị hướng thượng... của Nho giáo
từ đó đề xuất, áp dụng những giá trị của Nho gia vào quản lý xã hội hiện đại.
Như vậy, có thể nói cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu đề
cập đến hầu hết các lĩnh vực tư tưởng của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến
đời sống con người phương Đông trong lịch sử cũng như hiện tại. Đồng thời
nó phản ánh tính thời sự khoa học cấp bách mà ở mỗi nước đồng văn Trung
Hoa ngày nay phải tính đến trên con đường hội nhập và phát triển của mình.
Việc tìm hiểu những nội dung thiết thực liên quan đến đề tài luận án chắc
chắn giúp chúng tôi ngoài việc tham khảo những đánh giá của các học giả về
đạo đức gia đình, xã hội của Nho giáo, thiết nghĩ cũng cần có quan điểm riêng
của mình đối với việc nghiên cứu các vấn đề đó ở Việt Nam.
9
Về vấn đề đạo đức Nho giáo đã có một số công trình nghiên cứu như:
"Đạo Hiếu trong Nho gia" của tác giả Cao Vọng Chi [27] đã có những khảo
cứu, so sánh khá chi tiết về nội dung của Hiếu Kinh với đạo Hiếu trong Nho
gia, từ đó chỉ ra cơ sở xác lập, hoàn cảnh lịch sử và sự kế thừa tư tưởng đó
trong quá trình hình thành tư tưởng đạo Hiếu của Nho giáo. Tác giả còn phân
tích một cách sâu sắc những lời răn dạy của Nho giáo về đạo Hiếu đối với dân
chúng với giới tri thức và đặc biệt đối với phụ nữ. Đặc biệt trong chương 8 về
Đạo Hiếu trong Nho gia, tác giả đã nêu lên tầm ảnh hưởng của Nho giáo và
đạo đức Nho giáo đối với các nước láng giềng như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt
Nam. Đối với Việt Nam, tác giả đã có sự hiểu biết rất sâu sắc về lịch sử và phân
Nho giáo không chỉ là một học thuyết triết học, mà còn là học thuyết chính trị
xã hội, đạo đức, ở đó dường như thâu thái đầy đủ những nội dung triết học
của toàn thế giới. Trong điều kiện thực dân Pháp bãi bỏ nền cổ học trên toàn
cõi An Nam (1919), sự bành trướng của văn hóa phương Tây vào Việt Nam
đương thời đã làm xuất hiện các quan điểm coi thường giá trị của các học
thuyết truyền thống, trong đó có Nho giáo. Hai ông đã trình bày khá hệ thống
nội dung tư tưởng của học thuyết này nhằm chứng minh sức sống trường tồn
của Nho giáo, đặc biệt là lĩnh vực đạo đức. Tuy nhiên có nhiều đánh giá,
nhiều ý kiến mang yếu tố chủ quan, cá nhân.
Bộ sách về "Đại cương triết học Trung Quốc" của Giản Chi, Nguyễn
Hiến Lê [26] đã đề cập đến các phạm trù đạo đức cơ bản của Nho giáo qua
một số phạm trù đạo đức như: nhân, trí, dũng, lễ, nghĩa, v.v. Đây là công trình
với dung lượng trang lớn, các tác giả đã tập trung phân tích các phạm trù đó ở
phương diện hệ thống để làm rõ mối quan hệ đạo đức gia đình - làng - nước.
Công trình "Nho giáo Trung Quốc" của Nguyễn Tôn Nhan [132], là bộ
sách nghiên cứu lịch sử Nho giáo một cách chi tiết, độ dày của cuốn sách lên
đến hơn 1600 trang. Đây là tác phẩm mà tác giả đã dành tâm huyết và có cách
nhìn mới mẻ, hệ thống về Nho giáo. Trên cơ sở trình bày lịch sử phát triển
của Nho giáo, tác giả đã phân chia sự hình thành phát triển Nho giáo thành
sáu giai đoạn từ Nho giáo sơ kỳ (hay còn gọi là Nho gia để phân biệt với các
phái ("gia") khác cho đến Nho giáo thời Minh Thanh. Đây là cách tiếp cận về
11
phân chia Nho giáo theo nghĩa phân biệt nó với Nho gia, một trong những học
thuyết chính trị - xã hội ra đời ở Trung Quốc thời cổ đại. Tuy nhiên, tác giả
không nói rõ Nho giáo là một tôn giáo trong sự phân biệt với Nho gia. Đây là
vấn đề được tranh luận từ lâu, song theo chúng tôi, Nho giáo với Nho gia về
thực chất là một, và nghĩa chữ "giáo" ở đây chỉ chủ yếu mang nội dung giáo
huấn, dù sau này Đổng Trọng Thư có đưa một số yếu tố tôn giáo thần bí vào
đức Nho giáo được đặt trên cơ sở của chủ nghĩa tiên nghiệm; quan điểm duy
tâm chủ quan về đạo đức, sự thống nhất tuyệt đối giữ "tâm" và "tính"; mục
đích tu dưỡng đạo đức không hướng vào cuộc sống đời thường; phương pháp
tu dưỡng có tính chất siêu hình, thoát ly cuộc đời. Bài viết khác nhan đề "Đạo
đức phong kiến Việt Nam - nguồn gốc và đặc trưng cơ bản" của tác giả Nguyễn
Tài Thư [175] đã bàn về nguồn gốc của chế độ phong kiến Việt Nam và đạo đức,
đặc trưng phong kiến Việt Nam. Còn bài viết: "Từ tư tưởng "tu thân" trong Nho
giáo suy nghĩ về vấn đề giáo dục cán bộ lãnh đạo quản lý hiện nay ở nước ta"
của tác giả Nguyễn Thế Kiệt [83] đã đưa ra những nhận xét đúng về giá trị của
Nho giáo. Trong bài viết này, vấn đề Tu thân được tác giả xác nhận như một
biện pháp tu dưỡng đạo đức hiệu quả của Nho giáo với nhiều giá trị tích cực có
thể vận dụng và phát huy trong giai đoạn hiện nay. Theo đó, từ quan điểm tu
thân, tác giả đưa ra những kinh nghiệm giáo dục đạo đức của Nho giáo để rèn
luyện bồi dưỡng đạo đức cách mạng, động viên tinh thần học tập của cán bộ,
đảng viên và nhân dân thực hiện mục tiêu chung của đất nước.
Bên cạnh các tác giả bàn về những ảnh hưởng có tính chất tích cực, lại
có những tác giả có quan điểm ngược lại, nhấn mạnh mặt tiêu cực của đạo
đức Nho giáo, chẳng hạn cuốn "Nho giáo xưa và nay" của Quang Đạm [40];
"Nho giáo tại Việt Nam" của Lê Sĩ Thắng [151]... Mặc dù có những kiến giải
mới về đạo đức Nho giáo như Tam cương, Ngũ thường, Ngũ luân... nhưng các
tác giả nặng về phê phán đạo đức Nho giáo, cho nó là khắt khe, một chiều, coi
khinh phụ nữ, phân biệt đẳng cấp, v.v.
Hội thảo "Nho học ở Việt Nam" của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Viện
Harvard - Yenching (Mỹ) [194] đã bàn thảo nhiều vấn đề như: Ảnh hưởng
13
của Nho giáo trong đời sống hiện đại, quy trình du nhập của Nho giáo vào
Việt Nam; tư tưởng Nho giáo trong thời phong kiến và ảnh hưởng của nó
trong xã hội đương đại, v.v. Trong Hội thảo này, các bản tham luận tập trung
16
Công trình: "Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay - vấn đề và giải pháp"
của tác giả Nguyễn Duy Quý [141] đã nghiên cứu về vấn đề đạo đức xã hội,
đức trị và pháp trị... Đặc biệt, tác giả dành hẳn một chương bàn về đạo đức
trong gia đình, về những biến đổi của đạo đức gia đình trong điều kiện kinh tế
thị trường và đưa ra giải pháp xây dựng đạo đức hiện nay. Trong công trình
này, theo chúng tôi vấn đề biện chứng giữa đạo đức và cơ chế của nền kinh tế
thị trường cần được quan tâm phân tích sâu hơn.
Công trình: "Văn hóa gia đình và sự hình thành xã hội" của nhiều tác giả
[133], các tác giả đã phân tích làm rõ gia đình và đạo đức gia đình trong điều
kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
Tác phẩm: "Cuộc sống và biến động của hôn nhân, gia đình Việt Nam
hiện nay" của tác giả Lê Thi [157] đã làm rõ văn hóa ứng xử, tổ chức cuộc
sống gia đình cũng như gia đình trẻ và quan niệm về tự do và trách nhiệm
trong hôn nhân thời hiện đại. Tác giả cho rằng cùng với sự phát triển của nền
kinh tế thị trường, đất nước hội nhập với thế giới, bên cạnh những hiện tượng
tiêu cực phát sinh thâm nhập vào đời sống người dân như đề cao sức mạnh
của đồng tiền, của quyền lực, chủ nghĩa ích kỷ cá nhân, chủ nghĩa tự do tuyệt
đối phát triển, nhiều tệ nạn xã hội làm nhức nhối dư luận xã hội. Từ đó tác giả
đã đưa ra một số nội dung nhằm thích ứng gia đình trong điều kiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Công trình: "Gia đình học" của Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý [72]
được biên soạn công phu có hệ thống gồm 5 phần và 22 chương dưới dạng
giáo trình giảng dạy. Các tác giả đã làm rõ khái niệm gia đình, vị trí vai trò và
chức năng của gia đình, gia đình truyền thống, gia đình Việt Nam trước
những thách thức của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước.
Từ đó các tác giả cũng đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của gia
đình trong xã hội hiện đại. Đây là công trình tham khảo có giá trị đối với đề
việc phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của Nho giáo về giáo dục
đạo đức trong gia đình đối với việc xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay.
Tác phẩm: "Nho giáo và phát triển ở Việt Nam" của tác giả Vũ Khiêu
[79] đã bàn đến sự ra đời và các bước thăng trầm của Nho giáo cũng như sự
du nhập của Nho giáo vào Việt Nam. Đặc biệt ở tác phẩm này tác giả dành
hẳn một chương bàn về vấn đề Nho giáo trong gia đình ở Việt Nam ngày nay.
Ở chương này, tác giả khẳng định: "trong học thuyết Nho giáo, gia đình là
một phạm trù lớn, chứa đựng nhiều nội dung thâm thúy, ý nghĩa sâu xa có
nhiều liên quan ảnh hưởng đến những phạm trù khác về đạo đức và cuộc sống
con người" [79, tr.139]. Nho giáo khẳng định sự giáo dục từ trong gia đình có
20
tác động quan trọng, mạnh mẽ đến thành công của việc trị nước. Chính vì
vậy, có thể nói, đây là học thuyết chủ trương xây dựng những quan hệ chặt
chẽ trong gia đình để phổ cập các mối quan hệ đó trong toàn xã hội mà những
chuẩn mực đạo đức được coi là chủ đạo. Từ những giáo lý đạo đức Nho giáo
về gia đình, tác giả khẳng định Nho giáo sẽ đem lại cho chúng ta những điều
bổ ích. Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng, chúng ta không thể bê nguyên xi mô
hình của nước này hay nước khác về gia đình mà phải có sự thay đổi để phù
hợp với hoàn cảnh của đất nước và con người Việt Nam.
Công trình nghiên cứu: "Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam" của Phan
Đại Doãn [35] đã phác thảo lịch sử Nho giáo Việt Nam từ thế kỷ XV đến đầu
thế kỷ XX, tác giả dành hẳn một phần bàn về Nho giáo và gia đình truyền
thống Việt Nam. Ở phần này tác giả làm rõ ảnh hưởng Nho giáo đối với gia
đình truyền thống Việt Nam trên các vấn đề: Nhà nước và gia đình; Làng xã
với gia đình và Dòng họ với gia đình. Ở phương diện Nhà nước và gia đình
tác giả cho rằng, Nhà nước pháp luật hóa những quan niệm hiếu nghĩa. Từ thế
kỷ XV đến thế kỷ XX các nhà nước phong kiến Lê, Nguyễn đều lấy Nho giáo
làm công cụ, tư tưởng chi phối xã hội nói chung và gia đình nói riêng. Sự chi
luôn được đề cao. Người đàn ông có thể lấy năm thê bảy thiếp, nhưng người
đàn bà thì không thể và chỉ có một chồng.
Công trình nghiên cứu: "Tư tưởng Nho giáo về gia đình và việc xây dựng
gia đình mới ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Minh Anh [4] đã khẳng định
gia đình có vị trí quan trọng trong sự ổn định của xã hội. Nho giáo quy định
chặt chẽ những hành vi ứng xử và giao tiếp của mỗi thành viên trong gia đình
và danh phận mỗi người. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra rằng, nếu khắc phục
những yếu tố bảo thủ, mất dân chủ trong Nho giáo thì cho đến nay, các yếu tố
tích cực của nó vẫn còn có giá trị, thậm chí có những nội dung mang tính giá
trị phổ biến toàn nhân loại. Do đó, nếu chúng ta biết kế thừa những tư tưởng
tích cực của Nho giáo về gia đình trong việc xây dựng gia đình mới ở Việt
Nam hiện nay thì việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa sẽ hoàn toàn khả thi. Tác giả còn cho rằng, mọi sự bất ổn trong xã hội
đều có nguyên nhân từ việc ứng xử không tốt các mối quan hệ xã hội. Để bảo