MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
Trang 2
Trang 3
Trang 3
Trang 3
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Trang 3 - 4
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm Trang 4 -5
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Trang 5 - 6
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Trang7-13
IV. KẾT LUẬN , KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Những ý kiến đề xuất.
Trang14-15
Trang 16
1
Mặt khác, tôi tự nhận thấy tìm hiểu về chủ quyền biển đảo bằng cách lồng
ghép trong các bài giảng lịch sử Việt Nam là cách hữu hiệu bổ sung cho lịch sử
dân tộc, khắc sâu lời dạy của Bác Hồ: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày
nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải giữ gìn lấy
nó”.
Vì vậy, việc tổ chức cho học sinh học tập tìm hiểu về biển đảo giúp các
em củng cố, hiểu sâu hơn kiến thức ở trên lớp đồng thời có cái nhìn toàn diện về
lịch sử dân tộc nói chung, giữ gìn chủ quyền biển đảo nói riêng. Từ đó tạo cho
các em lòng tự hào dân tộc, ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo – một phần lãnh
thổ thiêng liêng, không thể tách rời của Tổ quốc của cha ông để lại và càng thêm
gắn bó yêu quê hương đất nước mình hơn.
2
2. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này tôi mong muốn nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền
biển đảo cho học sinh. Hơn nữa giúp các em có sự hiểu biết toàn diện, rõ ràng về
lãnh thổ nước ta.
Thông qua việc thực hiện đề tài, nhằm giúp các em hiểu một cách đầy đủ
những khái niệm như: đảo chìm, đảo nổi, đường cơ sở, lãnh hải, vùng đặc quyền
kinh tế…
Rèn luyện kỹ năng tự tìm hiểu, nghiên cứu, thuyết trình các vấn đề lịch
sử. Từ đó phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập,
khơi dậy tình cảm của các em để các em có thể chia sẻ những khó khăn với cuộc
sống nơi đảo xa.
3 . Đối tượng nghiên cứu
Lớp 12A3, 12A4, 12A15 Trường THPT Thạch Thành 3 - Thạch Thành –
Thanh Hóa . Trong đó lớp 12A3, 12A4 là lớp thực nghiệm, lớp 12A5 là lớp đối
chứng.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hiểu được thực trạng tôi đã tiến hành trao đổi, dự giờ của một số đồng
nghiệp trong và ngoài nhà trường. Qua đó tôi nhận thấy: có rất ít nội dung được
các thầy cô giáo nói chung, giáo viên lịch sử nói riêng nói về vấn đề chủ quyền
biển đảo nhất là đối với 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, hoặc nếu có thì bộ
môn địa lý chỉ cho học sinh thấy vai trò tiềm năng của biển nhưng cũng chỉ qua
loa. Còn môn lịch sử thì chỉ là những sự kiện nhỏ không mang tính quá trình
cũng không có nội dung về vấn đề đấu tranh và bảo vệ biển đảo như thế nào.
Hiện nay việc giảng dạy lịch sử đã được đổi mới, các nhà trường tự điều
chỉnh phân phối chương trình trên cơ sở phân phối của Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã phần nào giúp giáo viên làm tốt hơn công tác dạy học lịch sử nói chung, giáo
dục bảo vệ chủ quyền biển đảo nói riêng. Hơn nữa, hiện nay các tài liệu và hình
thức tuyên truyền về biển đảo vô cùng phong phú, đa dạng qua nhiều kênh thông
tin khác nhau giúp giáo viên có thể thuận lợi trong việc tiếp nhận các nội dung
nêu trên. Song thực tế vẫn còn không ít thầy, cô coi nhẹ việc giáo dục nhận thức
chủ quyền biển đảo thông qua bài giảng lịch sử nên chưa đáp ứng được mục tiêu
đề ra.
b. Về phía học sinh
Tình trạng thiếu hiểu biết, thờ ơ với lịch sử dân tộc nói chung, về vấn đề
chủ quyền biển đảo nói riêng là một thực tế đáng lo ngại ở các trường phổ
thông. Vì vậy tôi đã tiến hành khảo sát ở sự hiểu biết của học sinh về các nội
dung liên quan đến vấn đề chủ quyền biển đảo, trọng tâm là vấn đề chủ quyền
của Việt Nam với 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Bài khảo sát này được
thực hiện đối với cả 3 lớp 12A3, 12A4, 12A5. Với cách thức các em học sinh
viết bài ở nhà và chọn một trong 3 chủ đề sau:
1. Tìm hiểu và sưu tầm tư liệu về di tích lịch sử Thành Nhà Hồ
2. Từ 1954-1975 nhân dân Thanh Hóa kháng chiến chống Mĩ như thế nào
3. Tầm quan trọng của biển đảo Việt Nam nói chung, hai quần đảo
Trường Sa, Hoàng Sa nói riêng đối với sự phát triển của đất nước.
Sau khi thu bài viết của học sinh, tôi đọc và nhận thấy:
- Có 93,7% số học sinh chọn vấn đề 1,2. Còn lại 6,3% số học sinh chọn
2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
- Nắm vững một số kiến thức cơ bản về chủ quyền biển đảo nhất là
Trường Sa và Hoàng Sa để giới thiệu cho học sinh để học sinh thấy đựơc ý
nghĩa thiêng liêng, to lớn về chủ quyền biển đảo, từ đó nâng cao nhận thức và
góp phần thiết thực trong việc bảo vệ, giữ vững chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của
Tổ quốc Việt Nam.
- Tra cứu thông tin, chuẩn bị các tư liệu tranh ảnh để bài học thêm sinh
động.
* Về phía học sinh:
- Căn dặn các em tìm đọc các cuốn sách:
+ Những điều cần biết về hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa do Cục
Chính trị Bộ Tư lệnh Hải quân biên soạn năm 2011.
+ Tôi kể em nghe chuyện Trường Sa, Nhà xuất bản Kim Đồng, 2013.
+ Lẽ phải - luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa, Nhà xuất bản Trẻ, 2012
+ Theo dõi thông tin qua báo đài, truyền hình về vấn đề chủ quyền biển
đáo
b. Quá trình thực hiện
Để việc giáo dục, học tập và tuyên truyền về vấn đề chủ quyền biển đảo
có hiệu quả cao tôi thực hiện các giải pháp sau:
- Bước 1: Yêu cầu học sinh tìm hiểu
+ Các khái niệm có liên quan đến vấn đề biển đảo như: Đường cơ sở, lãnh
hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế....
5
+ Khái quát lịch sử 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong các thế kỷ từ
XVI đến nay.
Nhằm nâng cao ý thức tự học, khả năng tìm tòi khám phá những điều mới
đầy đủ bằng chứng pháp lý phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế.
Phần 4: Nguyên tắc giải quyết tranh chấp trên biển của ta.
Trước khi thực hiện phần lồng ghép nội dung này tôi tiến hành thăm dò ý
kiến của học sinh bằng câu hỏi “ để giải quyết vấn đề xâm chiếm trái phép chủ
quyền biển, đảo nước ta của Trung quốc Đảng và Nhà nước ta chủ trương như
thế nào?”. Sau khi nhận được các thông tin từ phía học sinh tôi tiến hành giảng
dạy ở bài 25: Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc
(1976 - 1986). Đây là bài giảm tải theo hướng dẫn của Bộ giáo dục. Vì vậy tôi
có thể giành hết thời gian để cho học sinh thảo luận và rút ra sự đúng đắn, khôn
6
khéo, trong đường lối giải quyết các tranh chấp trên biển của Đảng và Nhà nước
ta. Từ đó định hướng cho hành động của các em trong việc thể hiện tinh thần
yêu nước và ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
4 . Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Sau đây là những bằng chứng cụ thể về các giải pháp nhằm nâng cao ý
thức bảo vệ chủ quyền biển đảo thông qua bài học lịch sử mà tôi đã thực hiện
trong năm học vừa qua.
a. Phần thực hiện trên lớp của học sinh
Học sinh trình bày những nội dung đã tìm hiểu theo hướng dẫn. Hầu hết
các em đều hiểu được những khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề biển đảo
và chủ quyền của nước ta ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: Cụ thể các
vùng biển của Việt Nam như sau:
* Nội thủy: Là vùng nước nằm ở phía trong đường cơ sở của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nội thủy được coi như lãnh thổ trên đất liền, đặt
dưới chủ quyền toàn vẹn đầy đủ và tuyệt đối của quốc gia Việt Nam [3]
Đường cơ sở: là đường dùng làm căn cứ để tính chiều rộng lãnh hải và
các vùng biển khác. [3]
quốc gia được thực hiện trong phạm vi từng vùng biển của quốc gia đó. Các
quốc gia ven biển có chủ quyền đối với vùng nước nội thủy và lãnh hải của mình
cũng như đối với vùng trời bên trên, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển
các vùng nước đó. [3]
* Thềm lục địa: Bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần
kéo dài tự nhiên của lục địa mở rộng ra ngoài lãng hải Việt Nam cho đến bờ
ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để
tính chiều rộng lãnh hải Việt nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy
mở ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở. (Cũng theo công ước của Liên hợp quốc về
luật biển năm 1982 thì nước nào có thềm lục địa tự nhiên quá rộng thì thềm lục
địa có thể mở rộng ra tới không quá 350 hải lý kể từ đường cơ sở).
Nước ta có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và
quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam bao gồm tài
nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loại
định cư ở thềm lục địa Việt Nam. [3], [6]
Ở phần này tôi nhận thấy được sự tích cực và hăng say của các em khi các
em tìm được rất nhiều hình ảnh minh họa để giải thích khái niệm, hình ảnh nói
về cuộc sống của những người lính đảo với vai trò canh giữ biển, trời của Tổ
quốc . Như vậy các em không chỉ thuyết trình “suông“ mà còn minh họa để
người nghe dễ dàng hiểu khái niệm, thông cảm, chia sẻ và khâm phục những
người lính “Cụ Hồ” hơn.
Hình ảnh thuyết trình của học sinh trong buổi học
8
b. Phần lồng ghép các nội dung về chủ quyền biển, đảo
*. Khẳng định chủ quyền biển đảo ở Hoàng Sa, Trường Sa trong các
thế kỷ XVI - XVIII.
- Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là các hòn đảo vô chủ cho đến thế kỷ
chiến tranh, kẻ thù đã sử dụng đường biển để tấn công xâm lược nước ta. Chiến
công hiển hách ở Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785 của Quang Trung là minh
chứng ghi đậm dấu ấn không bao giờ mờ phai trong lịch sử dân tộc.
* Vấn đề chủ quyền biển đảo trong các thế kỷ XIX – XX
Từ những năm 1925 và 1927, Pháp đã tổ chức điều tra trên Hoàng Sa và duy
trì tuần tra trên quần đảo. Liên tục từ năm 1930-1933, Pháp đưa quân đội ra đóng ở
9
Trường Sa. Năm 1933, Pháp sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa và đến
năm 1938 đã thành lập đơn vị hành chính ở Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên.
Bên cạnh các hoạt động đó, Pháp còn cho đặt cột mốc, xây hải đăng, trạm khí
tượng, trạm vô tuyến điện trên 2 quần đảo. Trong quan hệ quốc tế, Pháp đã nhiều
lần lên tiếng phản đối việc Trung Quốc nêu yêu sách chủ quyền đối với quần đảo
Hoàng Sa. [5]
Binh lính người Việt cùng gia đình đào giếng
lấy nước sinh hoạt tại quần đảo Hoàng Sa năm 1938
Theo bản đồ Nhà Thanh xuất bản năm 1825 và tái bản năm 1910 thì biên giới
của Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam. Trong sách giáo khoa của Trung Quốc xuất
bản năm 1946 viết: biên giới phía Nam của Trung Quốc đến 18013’ Bắc. Đầu năm
1921 Trung Quốc mới có quyết định sáp nhập Hoàng Sa vào đảo Hải Nam. Từ đó
mới có sự tranh chấp giữa Pháp và Trung Quốc về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa.
Năm 1935, lần đầu tiên Trung Quốc công bố trên bản đồ quần đảo Hoàng Sa là
của Trung Quốc [4]
Bức An Nam đại quốc họa đồ được thực hiện năm 1838
10
về tỉnh Quảng Nam quản lý (1961).
Năm 1974, lợi dụng Mỹ rút quân khỏi Miền Nam Việt Nam, Trung Quốc đã
đưa quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa (chỉ trong 37 phút, Trung Quốc dùng 11
tàu khiêu khích và quân nguỵ Sài Gòn mắc mưu, Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ
quần đảo Hoàng Sa). Trước sự kiện này, chính quyền Sài Gòn đã lên tiếng phản đối
Trung Quốc rất gắt gao.
Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã giải phóng và tiếp quản 6 đảo thuộc
quần đảo Trường Sa do quân đội Sài Gòn đóng giữ, gồm: Trường Sa, Sơn Ca, Nam
Yết, Song Tử Tây, Sinh Tồn, An Bang. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa
Miền Nam Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa. [4]
11
Chiến sỹ đặc công Hải Quân kéo cờ trên đảo Song Tử Tây
Sau khi thống nhất đất nước, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản
pháp luật quan trọng về biển nói chung và về 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
nói riêng, như:
+ Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh
hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam năm
1977. [6]
+ Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về
đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam năm 1982.[6]
+ Hiến pháp năm 1992; Nghị quyết Quốc hội Khóa IX, Kỳ họp thứ 5 năm
1994 về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982. .[6]
Khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đoạt các đảo phía Đông quần đảo Hoàng
Sa (4/1956), các đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa (1/1974) và một số bãi đá ngầm
ở quần đảo Trường Sa, chính quyền Việt Nam trong mỗi thời kỳ đều đã cực lực lên
10/2011.
* 4 tránh:
- Tránh xung đột quân sự.
- Tránh đối đầu kinh tế.
- Tránh bị cô lập về ngoại giao.
- Tránh để bị lệ thuộc vào chính trị.
Phải nắm vững nguyên tắc cốt yếu: “đem sức ta mà giải phóng cho ta”,
trông vào nội lực là chính, kết hợp phát huy ngoại lực.
Chủ trương cụ thể:
Các giải pháp cụ thể với biển Đông = “3 C + 1 T + 6 K”
* 3 C: - Công khai (vi phạm, thủ đoạn, âm mưu… )
- Công luận: trong nước và quốc tế, ở Trung Quốc.
- Công luật: UNCLOS 1982, DOC 2002 tiến tới COC
* 1 T: Theo thực địa, không để mất chủ quyền
* 6 K: - Kiên quyết
- Kiên trì
- Khôn khéo
- Không khiêu khích
- Không mắc mưu khiêu khích
- Không để xảy ra xung đột.
Chúng ta có thể giữ vững được chủ quyền biển đảo bằng cách:
- Dựa vào sức mạnh tổng hợp về chính trị, kinh tế - xã hội, quân sự và
cả khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền đường lối đúng đắn của Đảng.
- Theo Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn), đến
9/9/2013 đã có 6.037 tàu cá của 20/28 tỉnh thành ven biển được phê duyệt đủ
điều kiện tham gia hoạt động trên các vùng biển xa theo quy định.
13
sâu sắc hơn tuổi trẻ cần phải yêu nước «bằng một trái tim nóng và một cái đầu
lạnh » như thế nào
Ở lớp đối chứng (12A5): Do không được học một cách bài bản nên đa số
chưa hiểu rõ ràng các khái niệm về chủ quyền của nước ta trên biển và vấn đề
khẳng định chủ quyền biển đảo qua các thời kỳ lịch sử. Tuy nhiên cũng có một
số em nắm được vai trò vị trí, tầm quan trọng của biển đảo cũng như vấn đề
chủ quyền biển đảo đang bị Trung Quốc xâm phạm song cũng chưa đầy đủ.
Thực tế này đã phản ánh được tác dụng của việc nâng cao ý thức bảo vệ
chủ quyền biển đảo thông qua bài học lịch sử đồng thời phát huy tính sáng tạo,
tích cực, chủ động của học sinh.
Bằng phiếu khảo sát môn học đã phản ánh sở thích học tập bộ môn lịch
sử thay đổi tăng lên đáng kể so với đầu năm, nhất là ở các lớp thực nghiệm.
14
Còn ở lớp 12A5 có tăng nhưng không đáng kể. Ở cả ba lớp mà tôi thực hiện đề
tài thì tất cả các em đăng ký thi tốt nghiệp môn lịch sử năm học 2016 -2017 .
Đó là tín hiệu đáng mừng vì điều mà tôi mong muốn ở các em là các em hiểu
lịch sử dân tộc, yêu lịch sử dân tộc, hiểu cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của
cha ông ta. Qua đó các em thấy được vai trò “tiếp lửa truyền thống” của bản
thân và thế hệ trẻ đối với dân tộc.
2. Kết quả học tập môn lịch sử năm học 2016 – 2017
Lớp
Sĩ số
12A3
12A4
12A5
Giỏi
SL
%
4
11
6
15
1
2
Ghichú
Lớp thực nghiệm
Đối chứng
III . KẾT LUẬN , KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo cho học sinh thông qua bài
học lịch sử là một việc làm rất cần thiết đối với thực trạng xã hội hiện nay đồng
thời góp phần làm cho bài học lịch sử sinh động đầy đủ trên nhiều phương diện.
Vì bài học lịch sử không chỉ dạy cho học sinh quá trình dựng nước và giữ nước
đối với đất liền mà còn là sự khẳng định tính toàn vẹn lãnh thổ ở cả phần biển,
đảo. Từ đó xây dựng cho học sinh ý thức bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
của nước ta. Hơn thế nữa với phần tự tìm hiểu của học sinh đã góp phần tạo
nguồn hứng khởi cho các em, phát huy tối ưu khả năng tìm tòi, sáng tạo trong
nhận thức các vấn đề lịch sử, đặc biệt là những vấn đề mang tính thời sự, xã hội.
Qua việc thực hiện đề tài này tôi nhận thấy một số vấn đề như sau:
1. Muốn việc nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo cho học sinh
thông qua bài học lịch sử có hiệu quả cao, trước hết đòi hỏi mỗi giáo viên cần
phải lựa chọn những tài liệu, kiến thức lịch sử về biển, đảo, những khẳng định
sử dụng công nghệ thông tin cũng góp phần nâng cao hiệu quả của đề tài. Tuy
nhiên trong năm học vừa qua tôi mới chỉ thực hiện đối với khối 12 đây là một
hạn chế trong việc nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo cho học sinh phổ
thông. Tôi sẽ cố gắng để khắc phục trong năm học tới.
2. Những ý kiến đề xuất:
Hiện nay trong chương trình sách giáo khoa không có phần nào dành cho
nội dung dạy về chủ quyền biển, đảo. Vì vậy việc bố trí các tiết học về những
nội dung này còn gặp nhiều khó khăn nên tôi rất mong có sự hướng dẫn cụ thể
của cấp trên để việc giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo cho học sinh có
hiệu quả tốt nhất.
Nếu có thể rất mong Sở Giáo dục Đào tạo Thanh Hóa tổ chức cho các
đồng chí giáo viên lịch sử một chuyến đi thực tế về biển, đảo để chúng tôi có
thêm những tư liệu “sống” phục vụ tốt hơn cho việc giảng dạy.
Tôi rất mong Nhà trường, Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa cung cấp
sách, báo liên quan tới các vấn đề này về thư viện nhà trường để phục vụ tốt hơn
nữa cho học sinh cũng như giáo viên trong quá trình tìm hiểu.
Đề tài “Nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo cho học sinh thông
qua bài học lịch sử ” mà tôi thực hiện trong năm học vừa qua không tránh khỏi
những hạn chế, khiếm khuyết. Rất mong được sự trao đổi góp ý của thấy cô, bạn
bè, đồng nghiệp cơ quan quản lý chuyên môn của Sở Giáo dục và Đào tạo
Thanh Hóa để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA BAN GIÁM
HIỆU
Thanh Hóa , ngày 15 tháng 05 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người khác.
Tác giả