LỜI CẢM ƠN!
Hoàn thành khóa luận này, Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và
sâu sắc nhất tới cô giáo - Th.s Lê Thị Dung người luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, để
em hoàn thành khóa luân.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Sử - Địa trường Đại
học Tây Bắc, cán bộ trung tâm thư viện trường Đại học Tây Bắc, thầy cô trường
trung học phổ thông Mộc Lỵ đã tạo điều kiện, giúp đỡ em trong quá trình làm
khóa luận.
Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè trong và ngoài
lớp đã ủng hộ, động viên, đóng góp ý kiến để em hoàn thành khóa luận.
Do thời gian và năng lực nghiên cứu còn hạn chế, cho nên khóa luận
không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý bổ sung của thầy cô
và các bạn!
Sơn la, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Lường Văn Công
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................ 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu......................................................................... 4
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................ 4
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 5
6. Đóng góp của đề tài ........................................................................................... 5
7. Bố cục đề tài ...................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1: GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG - LÍ LUẬN VÀ THỰC TIẾN.......................................... 7
2.4.3. Nội dung và phương pháp thực nghiệm .................................................... 54
2.4.4. Phương pháp tiến hành thực nghiệm......................................................... 54
2.4.5. Kết quả thực nghiệm ................................................................................. 54
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 60
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia ven biển, có đường bờ biển dài 3.620km trải
dài từ Bắc vào Nam, vùng biển rộng lớn với hàng nghìn đảo lớn nhỏ trong đó có
hai quần đảo lớn là Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là vùng lãnh thổ thiêng liêng
của Tổ quốc, có vị trí chiến lược về kinh tế và an ninh quốc phòng. Từ hàng
ngàn năm nay, biển - đảo đã gắn liền với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của
dân tộc ta.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, tình hình biển, đảo xuất hiện nhiều
vấn đề tranh chấp rất phức tạp và nhạy cảm đe dọa đến chủ quyền toàn vẹn lãnh
thổ của Việt Nam. Vấn đề này càng nghiêm trọng hơn khi Trung Quốc cho đặt
giàn khoan Hải Dương 981 (1/5/2014) thăm dò dầu khí tại vùng biển thuộc chủ
quyền của Việt Nam. Chủ quyền của đất nước bị xâm phạm một cách trắng trợn.
Do đó, trong nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ:“Mục tiêu, nhiệm vụ
quốc phòng an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền thống nhất toàn vẹn
lãnh thổ, giữ vững chủ quyền biển, đảo, biên giới, bảo vệ Đảng, nhà nước nhân
dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”. Chính vì vậy, việc tăng cường giáo dục cho
mọi thế hệ người Việt ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo, bảo vệ Tổ quốc càng có
ý nghĩa hơn bao giờ hết giúp các em nhận thức đúng chủ quyền dân tộc, những
giá trị mà biển, đảo mang lại để từ đó có những hành động cụ thể, thiết thực góp
phần vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.
Song, làm thế nào để giáo dục cho học sinh ý thức về chủ quyền biển đảo, ý
Duy Hải chủ biên, 2013. Cuốn sách đã khái quát về biển Đông và tình hình biển
Đông hiện nay, đưa ra các cơ sở pháp lí khẳng định quần đảo Hoàng Sa, Trường
Sa là của Việt Nam.
Bộ ngoại giao, ủy ban biên giới quốc gia “Tài liệu định hướng công tác
tuyên huấn về biển đảo”, nhà xuất bản Tri thức, 2013. Cuốn sách đề cập nhiều
hoạt động nhằm bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam và chủ trương của Việt
Nam trong vấn đề biển Đông.
Học viên ngoại giao Việt Nam “Đường lưới bò một yêu sách phi lý”, nhà
xuất bản Tri thức, 2013. Cuốn sách nói đến yêu sách đường lưới bò, đây là một
yêu sách phi lý của Trung Quốc, đồng thời tác giả còn đưa ra các tư liệu, bằng
2
chứng phản bác lại yêu sách của Trung Quốc nhằm khẳng định chủ quyền của
Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Cuốn sách “Kiên quyết giữ vững chủ quyền biển đảo Tổ quốc Việt Nam”,
nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, nhóm biên soạn Nguyễn Đức Cường, Phạm
Lan Hương, Nguyễn Thị Nguyên, 2014 đã khái quát tình hình biển Đông, đề cập
Công ước của Liên hợp Quốc về luật biển, các cơ sở pháp lý của Việt Nam và
thế giới phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam. Vai trò
của biển, đảo đối với đất nước và khẳng định Việt Nam sẽ bảo vệ đến cùng chủ
quyền biển, đảo của mình.
Bộ sách của NXB Giáo dục 2014, gồm cuốn “Hoàng Sa, Trường Sa khát
vọng hòa bình” của Bùi Tất Tươm - Vũ Bá Hòa; “Hoàng Sa, Trường Sa trong
vòng tay Tổ quốc”, của Hồng Châu - Minh Tân, tập I,II; “Kể chuyện biển đảo
Việt Nam” của Lê Thông - Đặng Duy Lợi - Đỗ Anh Dũng - Nguyễn Thanh
Long, tập I,II,III,IV; “Những bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với
hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa” của Hãn Nguyên, Nguyễn Nhã đã nghiên
cứu về biển đảo của Việt Nam. Đồng thời, cũng khẳng định chủ quyền của Việt
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia
cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông vận dụng qua
phần lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX, Lịch sử 10, chương
trình chuẩn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn của việc
giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo Quốc gia. Trên cơ sở đó đề ra một
số biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo Quốc gia trong dạy học
lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX, SGK Lịch sử 10, chương
trình chuẩn.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Nâng cao hiểu quả giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia
cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học lịch sử Việt Nam, đồng thời
nâng cao chất lượng bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông.
4
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến chủ quyền biển, đảo Quốc gia và
việc giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo Quốc gia cho học sinh.
Nghiên cứu thực trạng việc giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo
Quốc gia cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học lịch sử Việt Nam
hiện nay.
Nghiên cứu chương trình lịch sử Việt Nam lớp 10 (chương trình chuẩn)
qua đó xác định nội dung giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo Quốc gia
cho học sinh khi dạy phần lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX.
Tiến hành khảo sát thực tiễn sư phạm để khẳng định tính khả thi của đề tài
6
CHƯƠNG 1:
GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CHO HỌC
SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG - LÍ LUẬN VÀ THỰC TIẾN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Các khái niệm
* Giáo dục
Có rất nhiều quan niệm về giáo dục, song tựu chung lại theo các nhà giáo
dục học thì có 2 quan niệm chính sau đây:
Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người được giáo dục
lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những
hành vi, thói quen, cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua tổ chức cho họ các
hoạt động giáo dục. Theo nghĩa này, giáo dục bao gồm các bộ phận đức dục, mĩ
dục, thể dục, giáo dục lao động. [25;10].
Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức,
có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục trong
các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho học sinh [25;10]. Với
nghĩa rộng như trên, giáo dục là một hoạt động tổng thể bao gồm giáo dục trí
tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục lao động do
nhà trường phụ trách trước xã hội.
* Giáo dục ý thức
Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, (2010), nhà xuất bản Đà Nẵng
thì: Ý thức là khả năng của con người phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong
tư duy; là sự nhận thức đúng đắn, biểu hiện bằng thái độ, hành động cần phải
có ý thức được làm việc của mình” [27;1486].
Như vậy “Giáo dục ý thức” là sự phản ánh hiện thực khách quan hình thức
Theo hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước có độc lập chủ quyền, thống nhất
toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển vùng trời”.
Năm 1994 Việt Nam phê chuẩn công ước 1982 (Công ước của Liên Hợp
quốc về Luật biển). Theo công ước này, một nước ven biển có năm (05) vùng
biển: Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, vùng
thềm lục địa. Như vậy, theo công ước 1982, phạm vi vùng biển của nước ta
8
được mở rộng ra một cách đáng kể từ vài chục nghìn km đến gần một triệu km
với năm vùng biển có phạm vi và chế độ pháp lý khác nhau. Nước Việt Nam
không còn thuần túy có hình dạng hình chữ S nữa mà mở rộng ra đến biển,
không chỉ có biên giới biển chung với Trung Quốc, Campuchia mà cả với hầu
hết các nước trong khu vực Đông Nam Á như Philippin, Malayxia, Indonexia,
Thái Lan.
Nội thủy: là vùng biển nằm ở phía trong đường cơ sở để tính chiều rộng
lãnh hải. Vùng nước thuộc nội thủy có chế độ pháp lý như lãnh thổ trên đất liền,
đặt dưới chủ quyền toàn vẹn đầy đủ và tuyệt đối của quốc gia Việt Nam. Đường
cơ sở là đường ranh giới phía trong của lãnh hải và phía ngoài của nội thủy, do
quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo định ra phù hợp với Công ước của Liên
Hợp quốc về Luật biển năm 1982 để làm cơ sở xác định phạm vi của các vùng
biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia. Là đường dùng làm căn cứ để
tính chiều rộng lãnh hải và các vùng biển khác.
Lãnh hải: Lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng
12 hải lý (01 hải lý tương đương 1.852m) ở phía ngoài đường cơ sở nối liền các
điểm nhô ra nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của nước
ta tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất trở ra, có chế độ pháp lý tương tự như lãnh
thổ trên đất liền. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển. Trong
lãnh hải tàu thuyền của các quốc gia khác được hưởng quyền qua lại không gây hại
tác động của hiện thực khách quan thông qua quá trình giáo dục con người,
nhằm hướng tới một con người tốt đẹp có tư tưởng trong sáng, có ý thức dân
tộc, ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo nhằm khơi dậy các suy nghĩ, ý chí,
hành động, làm cho con người nhận thức đúng đắn, ý thức được thái độ, hành
động của mình trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ cho đất nước.
Nói một cách ngắn gọn “Giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo”
là quá trình người giáo viên sử dụng các biện pháp sư phạm hay phương pháp
dạy học để truyền đạt kiến thức về chủ quyền biển, đảo cho học sinh sao cho
đạt hiệu quả cao nhất, qua đó hình thành cho học sinh ý thức bảo vệ chủ
quyền biển, đảo.
10
1.1.2. Cơ sở xuất phát
* Vai trò của biển, đảo trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân
tộc ta
Trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta biển, đảo luôn giữ
một vai trò quan trọng. Từ thời khởi thủy, biển đã là môi trường sống, là bộ
phận hợp thành, góp phần tạo dựng nên bản sắc văn hóa và tư duy của người
Việt Nam.
Thông qua những câu truyện truyền thuyết “Lạc Long Quân - Âu Cơ”, Lạc
Long Quân dẫn 50 người con xuống biển hay câu truyện “ Sơn tinh Thủy tinh”,
đã nói lên rằng từ xa xưa tổ tiên ta không chỉ gắn bó với đất liền mà còn gắn bó
với biển khơi.
Vào khoảng thế kỉ VII trước công nguyên, cư dân Việt cổ sau hàng chục
vạn năm sinh sống và mở rộng vùng cư trú từ các hang, mái đá trên vùng đồi
núi, vùng trung du, đã tràn xuống khai phá và chiếm lĩnh vùng đồng bằng rộng
lớn của các con sông như sông Hồng, sông Mã, sông Cả, định cư ở đây hình
tế nông nghiệp phát triển, năng suất cao, đời sống nhân dân ổn định.
Bên cạnh đó nền kinh tế thương nghiệp cũng phát triển cả về nội thương và
ngoại thương. Các chợ làng, chợ huyện mọc lên nhiều nơi chủ yếu gần các con
sông, dễ dàng cho việc đi lại, buôn bán. Hoạt động ngoại thương, buôn bán với
nước ngoài được mở rộng, từ sớm, các thuyền buôn Trung Quốc hay các nước
phương Nam đã qua lại buôn bán ở các vùng biển phía Bắc và miền Trung. Năm
1149 nhà Lý cho xây dựng cảng Vân Đồn (Quảng Ninh) làm bến cảng để thuyền
buôn nước ngoài vào trao đổi hàng hóa, Lạch Trường (Thanh Hóa), Thị Nại
(Bình Định) đều là những vùng cảng quan trọng. Thời nhà Trần, ngoại thương
khá phồn thịnh, các nước Giava, Miến Điện, Ấn Độ đều có thuyền buôn bán với
Đại Việt thông qua con đường biển.
Từ các thế kỉ XVI - XVII, ngoại thương lại có bước phát triển hơn, bên
cạnh các thương nhân Trung Hoa, Nhật Bản, Giava, Xiêm… xuất hiện những
thương nhân Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp. Nhiều thương cảng được hình
thành, tiêu biểu như thương cảng Hội An.
Sự phát triển của kinh tế ngoại thương đã giúp Đại Việt trở nên hùng mạnh
hơn. Xuất phát từ lí do đó, các triều đại phong kiến Việt Nam chú trọng chăm lo
quản lý chặt chẽ về chủ quyền biển, đảo. Ở thời Lý, thiết lập những Trang, thời
12
Trần thiết lập Trấn, thời Lê đặt Tuần Kiểm ở các xứ cửa biển, các đồn, các đảo
và cho lập bản đồ toàn quốc gọi chung là “Hồng Đức bản đồ” trong đó có cả
Hoàng Sa và Trường Sa, cho thấy hai quần đảo này thuộc chủ quyền Đại Việt.
Thời kì Nam Bắc - Triều rồi Trịnh - Nguyễn phân tranh, với việc các chúa
Nguyễn cho thành lập các đội Hoàng Sa, Bắc Hải để xác lập quyền làm chủ
quần đảo Hoàng Sa. Đặc biệt thời nhà Nguyễn, vua Minh Mạng cho cắp cột mốc
và dựng bia chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Biển, đảo không chỉ gắn bó với quá trình dựng nước mà còn giữ vai trò
quan trọng trong công cuộc giữ nước, chống giặc ngoại xâm bảo vệ nền độc lập của
Đánh giá về truyền thống chiến đấu trên sông, biển của dân tộc, Đại tướng
Võ Nguyên Giáp nhẫn mạnh: “Do nước ta có vị trí quan trọng, có bờ biển dài,
nhiều sông lớn, nên từ xa xưa tới nay kẻ địch bên ngoài thường lợi dụng biển và
sông để xâm lược nước ta. Và ở trên biển, trên sông, trong quá trình lịch sử, dân
tộc Việt Nam đã bao lần nêu cao truyền thống chống giặc ngoại xâm anh hùng,
bất khuất. Thật vậy, trong những trang sử vẻ vang của mình kể từ khi Vua Hùng
dựng nước, dân tộc ta đã ghi biết bao sự tích anh hùng trên non sông nước ta
nói chung trên sông, biển nước ta nói riêng” [6;10].
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng biển, đảo giữ vai trò quan trọng trong
quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Cho đến nay biển, đảo vẫn giữ
vai trò như vậy, cho nên cần khơi dậy nguồn sức mạnh cho con người Việt Nam
trong sự nghiệp giữ vững chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo thiêng liêng
của Tổ quốc, thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ngày trước ta
chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi
đẹp, ta phải giữ lấy nó” [3;40].
* Những tiềm năng kinh tế - xã hội - an ninh quốc phòng của biển, đảo
đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Việt Nam có đường bờ biển dài khoảng 3.260km trải dài từ Bắc xuống
Nam, chiếm tỉ lệ khoảng 100km2 đất liền, vùng biển rộng trên 1 triệu km2 với
hơn 400 hòn đảo lớn nhỏ trong đó có quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Trong
63 tỉnh, thành phố của nước ta, có 28 tỉnh, thành phố giáp biển, chính vì vậy
biển, đảo có giá trị tiềm năng kinh tế - xã hội - an ninh quốc phòng rất lớn đối
với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
14
Về kinh tế: Biển, đảo đã tạo điều kiện để Việt Nam phát triển các ngành kinh tế
mũi nhọn như: Thủy sản, dầu khí, giao thông hàng hải, đóng tàu, du lịch…
Trước hết là ngành khai thác thủy sản: Biển, đảo cung cấp nguồn lợi hải
sản rất quan trọng, theo các điều tra, tính đa dạng sinh học, trong vùng biển
đạt 50 triệu tấn/năm, điều này thúc đẩy việc giao lưu buôn bán với các nước trên
thế giới.
Thứ tư, về du lịch: Do bờ biển dài, khúc khuỷu, đã tạo ra những cảnh quan
thiên nhiên sơn thủy rất đa dạng. Những vũng, vịnh, bái cát trắng, hang động,
các bán đảo và các đảo lớn nhỏ liên kết với nhau thành một quần thể du lịch hiếm
có trên thế giới như: Di sản thiên nhiên Hạ Long được UNESCO xếp hạng, các
thắng cảnh trên đất liền như Phong Nha, Bích Động… các di tích lịch sử văn hóa
như cố đô Huế, phố cổ Hội An, Tháp Chàm đều được phân bố ở vùng biển. Đây là
những điểm tham quan du lịch lí tưởng cho du khách trong và ngoài nước.
Ngoài ra biển, đảo còn cho Việt Nam tiềm năng phát triển các loại hình du
lịch hiện đại như: Nghỉ dưỡng, tắm biển, du lịch sinh thái, du lịch thể thao (bơi,
lặn sâu, lướt ván, nhảy sóng, đua thuyền…) và có thể tổ chức các lễ hội mang
tầm vóc khu vực như: Festival biển Nha Trang…
Xét về an ninh - quốc phòng: Biển nước ta được ví như mặt tiền, sân trước,
cửa ngõ Quốc gia. Biển, đảo, thềm lục địa và đất liền hình thành phên dậu, chiến
lũy nhiều lớp, nhiều tầng, bố trí thành tuyến phòng thủ liên hoàn bảo vệ Tổ
quốc. Cho nên biển, đảo giữ vai trò quan trọng là tuyến phòng thủ, che chắn bảo
vệ đất liền. Các đảo và quần đảo trên biển Đông, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa không chỉ có ý nghĩa trong việc kiểm soát các tuyến đường biển
qua lại biển Đông mà còn có ý nghĩa phòng thủ chiến lược từ xa, quan trọng của
Việt Nam.
Với tất cả những tiềm năng nêu trên chứng tỏ biển, đảo giữ một vai trò rất
lớn và quan trọng đối với công cuộc xây dựng đất nước. Cho nên cần tăng
cường việc giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo cho thế hệ trẻ.
* Xuất phát từ tình hình biên giới, biển, đảo hiện nay
Trong giai đoạn hiện nay, tình hình biên giới, biển, đảo của nước ta
thường xuyên xảy ra những tranh chấp phức tạp đe dọa đến chủ quyền toàn vẹn
lãnh thổ của Việt Nam. Đặc biệt là tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.
16
Quốc ngày càng có xu hướng mở rộng, táo tợn và liều lĩnh hơn, qua đó thấy rõ
mưu đồ độc chiếm biển Đông của Trung Quốc, điều này sẽ làm cho tình hình
17
biển Đông trở nên phức tạp và nguy hiểm hơn.
Ngoài ra, Trung Quốc còn có nhiều hành động ngang ngược như: Tấn
công cảnh sát biển Việt Nam, tấn công và đâm chìm tàu cá của ngư dân Việt
Nam. Ngày 23/3/2013, tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi mang số hiệu QNg
96382 TS đã bị tàu Trung Quốc truy đuổi và bắn cháy cabin. Nhiều tàu cá khác
của ngư dân bị Trung Quốc đánh chìm hoặc bắt lại, chúng đánh đập ngư dân, bắt
nộp phạt, phá hoại toàn bộ thiết bị thông tin liên lạc, máy định vị, xé cờ Tổ
quốc. Những cư dân vô tội, cuộc sống vốn đã khó khăn nay lại bị Trung Quốc
cướp bóc càng khổ cực hơn.
Các hoạt động nói trên của Trung Quốc rất ngang ngược, trắng trợn, xâm
phạm nghiêm trọng chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam đối với hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa, coi thường luật pháp quốc tế, vi phạm những
nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, vi
phạm Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), gây căng thẳng và
làm phức tạp tình hình trên biển Đông.
Không chỉ có tranh chấp ở trên biển, đảo trên đất liền cũng xuất hiện tranh
chấp ở vùng biên giới Tây Nam giữa Việt Nam với Campuchia. Xuất hiện các
hành động như đòi xem xét lại hoặc xuyên tạc bản đồ biên giới giữa nước ta và
Campuchia, tiến hành các hoạt động xâm nhập biên giới một cách bất hợp pháp…
Từ những vấn đề mang tính thời sự nêu trên cho ta thấy được tình hình biên
giới, biển, đảo hiện nay có nhiều tranh chấp phức tạp, đe dọa trực tiếp đến chủ
quyền toàn vẹn lãnh thổ của nước ta. Chính vì vậy, việc giáo dục ý thức bảo vệ
chủ quyền biển, đảo Quốc gia cho học sinh là một điều rất cần thiết và cấp bách.
* Nhiệm vụ và ưu thế của bộ môn lịch sử
Ở trường phổ thông, môn lịch sử có nhiệm vụ và ưu thế rất lớn trên cả ba
dục cho các em ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo, lòng yêu quê hương đất nước
và lòng tự hào dân tộc.
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển,
đảo quốc gia trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
Trong bối cảnh hiện nay, khi tài nguyên thiên nhiên trên đất liền, sự bùng
nổ dân số chưa kiểm soát được, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng,
việc quan tâm đến khai thác, sử dụng biển hợp lý kết hợp chặt chẽ với bảo vệ
quốc phòng - an ninh trên biển và bảo vệ môi trường có ý nghĩa cực kì quan
19
trọng. Với những tiềm năng của biển đảo về kinh tế - xã hội - an ninh quốc
phòng sẽ là những động lực lớn góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước Việt
Nam phồn thịnh và hùng mạnh. Tuy nhiên vùng biển, đảo cũng là nơi kẻ thù lợi
dụng để xâm lược nước ta cho nên: “Bảo vệ chủ quyền biển, đảo không chỉ
mang ý nghĩa bảo vệ một địa bàn sinh sống, địa bàn phát triển kinh tế, mà còn
là bảo vệ một địa bàn chiến lược lợi hại, nằm trong thế trận quốc phòng toàn
dân và an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc” [15; 3].
Trong Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã
ra nghị quyết về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” nhằm nhanh chóng
đưa đất nước ta trở thành một quốc gia về biển. Vì vậy, việc giáo dục cho học
sinh ý thức trách nhiệm về chủ quyền biển, đảo Tổ quốc có ý nghĩa rất quan
trọng. Đặc biệt thời gian gần đây tình hình biển, đảo xuất hiện nhiều tranh chấp
phức tạp, đe dọa đến chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nước ta thì những kiến
thức về chủ quyền biển, đảo càng trở nên cần thiết đối với thế hệ trẻ nói chung
và đối với học sinh phổ thông nói riêng.
Với những vai trò đó của biển, đảo thì việc giáo dục ý thức bảo vệ chủ
quyền biển, đảo Quốc gia trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông có
ý nghĩa quan trọng đối với cả giáo viên và học sinh.
Đối với học sinh
Việc giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo khi dạy học lịch sử còn
giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, không chỉ truyền đạt những kiến
thức cơ bản mà còn biết liên hệ thực tế, từ đó nâng cao chất lượng dạy và học
môn lịch sử.
Ngoài ra,còn khẳng định được tầm quan trọng của môn lịch sử đối với thế
hệ trẻ ngày nay, đối với sự tồn suy của đất nước, từ đó tránh được nguy cơ môn
lịch sử trở thành môn tự chọn hay tích hợp.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng của việc giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo
quốc gia trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
Vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo trước năm 2014 chưa
được coi trọng mà thậm chí nó còn chưa được đưa vào trong nội dung chương
trình sách giáo khoa lịch sử phổ thông hiện hành. Chỉ có duy nhất chương trình
21
sách giáo khoa lịch sử lớp 6 dành “hai dòng rưỡi” đề cập đến hải đội Hoàng Sa
và Trường Sa.
Tuy nhiên từ năm 2014, tình hình biên giới, biển, đảo xuất hiện nhiều
tranh chấp phức tạp, đe dọa đến chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Tiêu biểu nhất là việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trái phép
trên vùng biển của nước ta thì lúc này đã tạo ra một làn sóng, một cao trào phải
giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia. Rất nhiều cuốn sách, trang
báo, các công trình nghiên cứu khoa học, triển lãm, hoạt động văn hóa - văn
nghệ đề cập đến chủ đề chủ quyền biển, đảo, nhiều cuộc thi tìm hiểu về chủ
quyền biển đảo đã được tổ chức.
Ở trường trung học phổ thông, vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền
biển, đảo đã được quan tâm, chú trọng. Một số trường tiến hành việc giáo dục ý
thức về bảo vệ chủ quyền, biển đảo thông qua các cuộc thi, các hoạt động văn