BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
---------***--------
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
MỐI QUAN HỆ QUA LẠI GIỮA NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG CỦA VIỆT NAM
Ngành: Kinh tế học
Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế
Mã số: 62.31.01.06
CAO THI HONG VINH
HÀ NỘI - 2017
LUẬN ÁN ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS, TS Vu Thi Kim Oanh
TS Nguyen Thi Viet Hoa
Phản biện 1: PGS, TS Đinh Văn Thành
Viện Nghiên cứu Thương mại
Phản biện 2: PGS, TS Nguyễn Hữu Đạt
Viện Khoa học Xã Hội Việt Nam
3.
4.
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Đề tài
Cao Thị Hồng Vinh (chủ nhiệm) (2012) Phân tích định lượng tác động của việc gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) tới dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI vào Việt Nam,
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, trường Đại học Ngoại thương.
Nguyễn Thị Việt Hoa (chủ nhiệm), Cao Thị Hồng Vinh (thành viên) (2013), Tác động của các
Hiệp định đầu tư song phương (BIT) tới dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt
Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học do SECO, WTI tài trợ.
Nguyễn Thị Việt Hoa (chủ nhiệm), Cao Thị Hồng Vinh (thành viên) (2014), The Impact of
Institutional Quality on Foreign Direct Investment (FDI) inflows to Vietnam, Đề tài nghiên cứu
khoa học do EADN tài trợ.
Phương (2016), Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững
tại một số quốc gia Đông Nam Á, Nhà Xuất bản Lao động.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, nhiều quốc gia trên thế giới
trong đó có Việt Nam đã đạt những thành tựu đáng kể về kinh tế. Thế nhưng bên cạnh đó,
cũng chính ở những nước này, nhiều vấn đề về xã hội và môi trường đã xuất hiện và gây ra
tác động tiêu cực tới sự phát triển chung của quốc gia. Trong bối cảnh đó, phát triể n bề n
vững trở thành mô ̣t trong những mu ̣c tiêu hàng đầu mà các nước trên thế giới theo đuổi. Trên
thực tế, ý tưởng về sự phát triể n bề n vững đã được hình thành trên thế giới trong một thời
gian dài, nhưng chỉ được đưa ra một cách chính thức từ năm 1972 tại hội nghị Stockholm,
Thụy Điển. Cho đến nay, phát triển bền vững đã trở thành một thuật ngữ hết sức phổ biến và
được các nước đưa vào các văn bản quy phạm pháp luật của mình. Đối với Việt Nam, phát
triển bền vững cũng là một yêu cầu đặt ra được Nhà nước hết sức quan tâm, đặc biệt khi
nhiều vụ việc liên quan tới ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã xảy ra. Khái niệm về phát
triển bền vững được đưa vào khoản 4, điề u 3, Luâ ̣t Bảo vê ̣ Môi trường năm 2005, cụ thể
"Phát triể n bề n vững là phát triể n đáp ứng nhu cầ u của thế hê ̣ hiê ̣n ta ̣i mà không làm tổ n ha ̣i
đế n khả năng đáp ứng nhu cầ u đó của thế hê ̣ tương lai trên cơ sở kế t hơ ̣p chă ̣t che,̃ hài hòa
giữa tăng trưởng kinh tế , bảo đảm tiế n bô ̣ xã hội và bảo vê ̣ môi trường". Như vâ ̣y, một quố c
gia muố n phát triể n bề n vững cầ n phải đa ̣t đươ ̣c cả ba mu ̣c tiêu về kinh tế , xã hô ̣i và môi
trường. Đối với Việt Nam, Chiến lược Phát triển Bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã
khẳng định rất rõ định hướng phát triển hướng tới sự bền vững trong tương lai của Việt Nam
trong thời gian tới.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những dòng vốn nước ngoài có vai trò
quan trọng với các quốc gia trên thế giới, đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt
Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực mà dòng vốn này mang lại như góp phần
bổ sung vốn trong lúc lượng vốn đầu tư trong nước còn hạn chế, góp phần tạo điều kiện cho
Việt Nam tiếp thu các công nghệ mới, thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ, nâng cao
- Luận án sẽ làm rõ các kênh truyền dẫn tác động của FDI tới phát triển bền vững và
ngược lại, cũng như mối liên hệ giữa các kênh này với các chỉ tiêu đánh giá về phát triển bền
vững có liên quan ở trên;
- Luận án sẽ phân tích thực trạng mối quan hệ giữa FDI và phát triển bền vững của
Việt Nam (đặc biệt với từng trụ cột) thông qua các kênh truyền dẫn sử dụng phương pháp
thống kê và mô tả;
- Sau đó, để có căn cứ vững chắc đánh giá mối quan hệ giữa FDI và cả ba trụ cột của
phát triển bền vững, Luận án tiến hành phân tích định lượng sử dụng phương pháp Vector
hiệu chỉnh sai số (VECM);
- Luận án sẽ chỉ ra một số biến động trên thế giới và trong nước giai đoạn 2017-2020
ảnh hưởng tới thu hút FDI và phát triển bền vững của Việt Nam, đồng thời làm rõ những
quan điểm và định hướng của Nhà nước trong việc thu hút FDI và thúc đẩy phát triển bền
vững của Việt Nam;
- Luận án sẽ đề xuất các giải pháp cụ thể cho Nhà nước nhằm phát huy những tác
động tích cực, đồng thời hạn chế các tác động tiêu cực của FDI tới phát triển bền vững và
ngược lại cho giai đoạn 2017-2030.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ qua lại giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát
triển bền vững. Mối quan hệ qua lại được hiểu ở đây là tác động của FDI tới phát triển bền
vững và ngược lại, tác động của phát triển bền vững tới FDI.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận án hướng tới làm rõ mối quan hệ giữa FDI và phát triển bền vững ở
cả hai góc độ tác động của FDI tới phát triển bền vững và phát triển bền vững với FDI. Phát
triển bền vững sẽ được phân tích theo từng trụ cột (tăng trưởng kinh tế, xã hội và môi trường),
đồng thời cũng được phân tích như một tổng thể trong đó có sự liên kết giữa các trụ cột.
Cụm từ “nguồn vốn” FDI ở đây trong Luận án được hiểu giống như vốn FDI và dòng
vốn FDI.
các nhân tố ảnh hưởng tới FDI;
- Để đánh giá tác động của FDI tới phát triển bền vững, Luận án sử dụng lý thuyết về
tác động của vốn FDI tới tăng trưởng kinh tế, xã hội và môi trường của nước nhận đầu tư.
4.3 Thông tin/dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu
Luận án sử dụng dữ liệu thứ cấp từ các nguồn chính thống như các nguồn từ Tổng cục
thống kê, Cục đầu tư nước ngoài, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (Chỉ số năng
lực cạnh tranh cấp tỉnh), Bộ Tài nguyên và Môi trường, cơ sở dữ liệu của Ngân hàng thế giới
(ví dụ như cơ sở dữ liệu Các chỉ số phát triển thế giới - World Development Indicators), Diễn
đàn Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển, Quỹ Tiền tệ quốc tế (cơ sở dữ liệu về Tầm
nhìn thế giới)…
5. Những đóng góp mới của Luận án
Luận án có một số đóng góp mới, cụ thể như sau:
Thứ nhất, Luận án đã tổng hợp tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về tác
động của FDI tới từng trụ cột của phát triển bền vững nói riêng, và tới phát triển bền vững nói
chung, cũng như về tác động của từng trụ cột và của phát triển bền vững tới FDI (ở cả hai góc
độ: tích cực và tiêu cực).
Thứ hai, Luận án đã tổng hợp và phân tích các kênh truyền dẫn tạo nên từng chiều tác
động của FDI tới từng trụ cột (ở những khía cạnh hướng tới phát triển bền vững) và của từng
trụ cột tới FDI (ở cả hai góc độ: tích cực và tiêu cực).
Thứ ba, Luận án đã đưa ra và phân tích thực trạng tác động của FDI tới từng trụ cột (ở
các khía cạnh hướng tới phát triển bền vững) và của từng trụ cột tới FDI (ở cả hai góc độ: tích
cực và tiêu cực) vào Việt Nam dựa trên phương pháp thống kê, mô tả.
Thứ tư, Luận án đã sử dụng phương pháp Vector hiệu chỉnh sai số (VECM) - một
phương pháp định lượng phù hợp và hiệu quả để lượng hóa mối quan hệ giữa FDI và phát triển
bền vững. Từ đây, Luận án đưa ra đánh giá về mối quan hệ giữa FDI và phát triển bền vững.
Thứ năm, Luận án đã đề xuất một số giải pháp cho Nhà nước nhằm phát huy các tác
động tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực của FDI tới phát triển bền vững của Việt Nam
và của phát triển bền vững tới FDI vào Việt Nam.
6. Kết cấu đề tài
Ngoài mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục viết tắt, lời mở đầu, kết luận, tài liệu
1
Chưa có nghiên cứu nào về các nước trên thế giới cũng
Mối quan hệ giữa
như về Việt Nam, đặc biệt là nghiên cứu đánh giá tổng thể
FDI và phát triển
các kênh truyền dẫn tác động của FDI tới phát triển bền
bền vững
vững và ngược lại.
2
Mối quan hệ giữa Đã có các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam nhưng kết
FDI và tăng trưởng quả không đồng nhất do các tác giả sử dụng mẫu nghiên
kinh tế
cứu và các phương pháp khác nhau.
3
Chưa có nghiên cứu nào về các nước trên thế giới cũng
Mối quan hệ giữa như về Việt Nam, đặc biệt là nghiên cứu đánh giá tổng thể
FDI và xã hội
các kênh truyền dẫn tác động của FDI tới phát triển bền
vững và ngược lại.
4
Mối quan hệ giữa Đã có các nghiên cứu trên thế giới nhưng kết quả không
FDI và môi trường đồng nhất do các tác giả sử dụng mẫu nghiên cứu và các
tới phát triển bền
yếu là nghiên cứu định tính
vững
9
Tác động của tăng Đã có các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam nhưng kết
trưởng kinh tế tới quả không đồng nhất do các tác giả sử dụng mẫu nghiên
FDI
cứu và các phương pháp khác nhau
10
Đã có các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam nhưng kết
Tác động của xã
quả không đồng nhất do các tác giả sử dụng mẫu nghiên
hội tới FDI
cứu và các phương pháp khác nhau.
11
Đã có các nghiên cứu trên thế giới nhưng kết quả không
đồng nhất do các tác giả sử dụng mẫu nghiên cứu và các
Tác động của môi phương pháp khác nhau. Chưa có nghiên cứu nào về Việt
trường tới FDI
Nam đề cập riêng về nội dung này, chỉ có nghiên cứu của
Đinh Hồng Lĩnh và Lin (2014) khi tập trung làm rõ mối
quan hệ hai chiều có chỉ ra tác động
12
(iii) FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận, (iv) FDI
thường kèm theo chuyển giao công nghệ.
Theo UNCTAD (1998), các nhân tố của môi trường nước tiếp nhận vốn đầu tư được
phân thành ba nhóm lớn, bao gồm: thứ nhất là khung chính sách FDI của một nước (gồm các
quy định của luật pháp và chính sách liên quan trực tiếp FDI, và một số các quy định, chính
sách trong một số ngành, lĩnh vực khác cũng có ảnh hưởng gián tiếp; thứ hai là các yếu tố
của môi trường kinh tế (phân chia theo động cơ của chủ đầu tư); thứ ba là các yếu tố tạo
thuận lợi trong kinh doanh.
2.1.2 Khái quát chung về phát triển bền vững
2.1.2.1 Khái niệm và nguyên tắc của phát triển bền vững
Theo điều 3, Luật Bảo vệ Môi trường (2014), phát triển bền vững được định nghĩa là
“phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng
nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng
kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”. Khái niệm phát triển bền vững theo
luật của Việt Nam được đưa ra dựa trên khái niệm do Ủy ban thế giới về Môi trường và Phát
triển nêu ra. Khái niệm của Việt Nam còn làm rõ hơn ba trụ cột của phát triển bền vững là
tăng trưởng kinh tế, xã hội và môi trường – Đây cũng là ba trụ cột quan trọng mà Luận án sẽ
phân tích và làm rõ hơn trong các nội dung đánh giá ở các phần sau.
Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Môi trường và Phát triển được tổ chức tại Rio De
Janerio (Braxin) năm 1992 với sự tham gia của 178 nước trên thế giới, các quốc gia đã thông
qua tuyên bố Rio gồm 27 nguyên tắc cơ bản về phát triển bền vững và Chương trình Nghị sự
21.
2.1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững
Trên thế giới, có nhiều hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững. Tuy nhiên,
nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam đã dựa trên khuyến nghị của Hội đồng Phát triển Bền
vững Liên hợp quốc (UN CSD) để đưa ra các chiến lược phát triển bền vững trong Chương
trình nghị sự 21, đồng thời xây dựng bộ chỉ tiêu cho phù hợp với đặc điểm quốc gia của
mình. Đối với Việt Nam, theo nhiều lần hoàn thiện để phù hợp với đặc điểm quốc gia và có
sản xuất ra một đơn vị GDP; Tỷ lệ năng lượng tái tạo trong cơ cấu sử dụng năng lượng; Chỉ
số giá tiêu dùng (CPI); Cán cân vãng lai; Nợ của Chính phủ và Nợ nước ngoài. Tuy nhiên,
trong khuôn khổ của Luận án, tác giả chỉ tập trung phân tích những góc độ mà dòng FDI có
thể tác động tới các khía cạnh chính của tăng trưởng kinh tế và ngược lại các khía cạnh của
tăng trưởng có thể tác động ngược lại dòng FDI.
b2. Xã hội
Theo Quyết định số 432/QĐ-TTg, các chỉ tiêu để đánh giá phát triển bền vững về mặt
xã hội bao gồm: Tỷ lệ thất nghiệp; Tỷ lệ lao động đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào
tạo; Tỷ lệ nghèo; Hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập (hệ số Gini); Tỷ số giới tính
khi sinh; Số sinh viên trên 10.000 dân; Số thuê bao Internet trên 100 dân; Tỷ lệ người dân
được hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; Số người chết do tai nạn
giao thông trên 100.000 dân; Tỷ lệ số xã được công nhận đạt tiêu chí nông thôn mới. Tuy
nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu của Luận án, tác giả quan tâm tới những khía cạnh có thể
ảnh hưởng tới hoặc chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dòng FDI đổ vào. Các khía cạnh được nghiên
cứu bao gồm: Thất nghiệp, Chất lượng nguồn nhân lực/ Chất lượng lao động, Thu nhập của
người lao động, Điều kiện lao động, Sự phát triển cân đối giữa các ngành, vùng kinh tế và
cân đối về lao động
b3. Môi trường
Theo Quyết định số 432/QĐ-TTg, các chỉ tiêu để đánh giá phát triển bền vững về mặt
môi trường cũng hết sức đa dạng, bao gồm: Tỷ lệ các đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất,
cụm công nghiệp xử lý chất thải rắn, nước thải đạt tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật quốc
gia tương ứng; Tỷ lệ chất thải rắn thu gom, đã xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc
gia tương ứng; Tỷ lệ che phủ rừng; Tỷ lệ đất được bảo vệ, duy trì đa dạng sinh học; Diện
tích đất bị thoái hóa; Mức giảm lượng nước ngầm, nước mặt; Tỷ lệ ngày có nồng độ các chất
độc hại trong không khí vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của Luận
án, tác giả chỉ tập trung phân tích những góc độ mà dòng FDI có thể tác động tới các khía
cạnh chính môi trường và ngược lại các khía cạnh của môi trường có thể tác động ngược lại
dòng FDI. Nội dung lý thuyết về các kênh truyền dẫn tác động sẽ được phân tích cụ thể phía
sau.
2.2 Các kênh truyền dẫn tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới phát triển bền
vốn đầu tư khác, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) của nước tiếp nhận); (ii)
Thúc đẩ y chuyển giao công nghệ (Công nghệ mới, hiện đại được chuyển giao cũng như trình
độ công nghệ được nâng cao qua hoạt động FDI có vai trò hết sức quan trọng, thúc đẩy tăng
năng suất lao động ở các tiếp nhận vốn. Năng suất tăng lên giúp gia tăng tổng giá trị sản
phẩm sản xuất ra, do đó góp phần vào tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt nếu các công nghệ này là
thân thiện với môi trường, FDI sẽ giúp giảm mức tiêu hao năng lượng để sản xuất ra một đơn
vị GDP) và (iii) Đóng góp vào ngân sách nhà nước (góp phần giảm bội chi Ngân sách nhà
nước), (iv) Thay đổi cơ cấu đầu ra-đầu vào của doanh nghiệp trong nước theo hướng tích cực
(backward-forward effects) (Đối với các doanh nghiệp trong nước, sự thay đổi này góp phần
làm tăng năng suất lao động của doanh nghiệp, từ đó tăng năng suất lao động xã hội, đồng
thời tạo điều kiện để họ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu).
2.2.1.2 Các kênh truyền dẫn tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực phân tích trong nội dung ở trên, dòng FDI còn có
tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế của nước tiếp nhận vốn. Có thể phân tích các kênh
truyền dẫn tác động này theo hướng trực tiếp và gián tiếp. Các kênh truyền dẫn trực tiếp
chính mà Luận án đi sâu phân tích bao gồm: (i) Gây thất thoát ngân sách nhà nước do các
doanh nghiệp FDI tiến hành hoạt động chuyển giá (làm mất cân đối thu chi Ngân sách nhà
nước); (ii) Thúc đẩy chuyển giao các công nghệ lạc hậu.
2.2.2 Các kênh truyền dẫn tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xã hội
2.2.2.1 Các kênh truyền dẫn tác động tích cực
Các kênh truyền dẫn tác động của FDI tới xã hội chính mà Luận án đi sâu phân tích
bao gồm: (i) Tạo việc làm cho người lao động (góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ nghèo
của quốc gia), (ii) Nâng cao trình độ người lao động (hoạt động đào tạo được thực hiện tại
các doanh nghiệp FDI sẽ giúp tăng tỷ lệ lao động đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào
tạo) và (iii) Tăng thu nhập cho người lao động (góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, ngoài ra
giúp gia tăng tỷ lệ người dân được hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp của quốc gia tiếp nhận vốn).
2.2.2.2. Các kênh truyền dẫn tác động tiêu cực
ngoài
2.3.1.1 Các kênh truyền dẫn tác động tích cực
Hai kênh truyền dẫn tác động chính bao gồm (i) Tăng trưởng kinh tế phản ánh sự gia
tăng về nhu cầu đối với sản phẩm, dịch vụ và tiềm năng phát triển của thị trường; (ii) Tăng
trưởng kinh tế trong dài hạn phản ánh sự ổn định về mặt kinh tế vĩ mô.
2.3.1.2 Các kênh truyền dẫn tác động tiêu cực
Nếu như tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực tới dòng FDI vào nước tiếp nhận vốn
thì ở một góc nhìn khác, tăng trưởng đặc biệt là tăng trưởng quá cao cũng tác động tiêu cực
tới dòng vốn này. Tác động tiêu cực này được lý giải qua hai kênh truyền dẫn chính sau: (i)
Tăng trưởng kinh tế làm tăng chi phí lao động và (ii) Tăng trưởng kinh tế quá cao làm tăng
lạm phát.
2.3.2 Các kênh truyền dẫn tác động của xã hội tới đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.3.2.1 Các kênh truyền dẫn tác động tích cực
Kênh truyền dẫn tác động chính được Luận án phân tích ở đây là sự ổn định chính trị,
xã hội. Sự ổn định này đặc biệt quan trọng đối với các hoạt động đầu tư có thời gian dài, số
vốn đầu tư tương đối lớn và đặc biệt có sự tham gia kiểm soát và quản lý của nhà đầu tư.
2.3.2.2 Các kênh truyền dẫn tác động tiêu cực
Hai kênh truyền dẫn tác động tiêu cực chính mà Luận án đi sâu tìm hiểu là (i) Tham
nhũng gây cản trở đối với dòng FDI và (ii) Chất lượng lao động thấp là một cản trở đối với
dòng FDI.
2.3.3 Các kênh truyền dẫn tác động của môi trường tới đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.3.3.1 Các kênh truyền dẫn tác động tích cực
Hai kênh truyền dẫn chính của môi trường tới thu hút FDI vào nước nhận đầu tư là (i)
Cơ hội kinh doanh trong các lĩnh vực môi trường và (ii) Tăng khả năng cạnh tranh khi doanh
nghiệp có thể đáp ứng được các quy định môi trường nghiêm nghặt.
2.3.3.2 Các kênh truyền dẫn tác động tiêu cực
Kênh truyền dẫn tác động tiêu cực chính của môi trường tới thu hút FDI mà Luận án
đi sâu phân tích là Yêu cầu và chi phí môi trường tăng lên làm giảm dòng FDI đổ vào nước
Thất nghiệp, Chất lượng nguồn nhân lực, Thu nhập của người lao động, Điều kiện lao động
và Sự phát triển cân đối giữa các ngành kinh tế và cân đối về lao động.
3.1.2.4 Thực trạng môi trường
Môi trường có thể được xem xét dựa trên các thành phần khác nhau. Hai trong số các
thành phần môi trường có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của các nhà đầu tư là không khí và
nước (môi trường nước mặt). Vì vậy, tác giả tập trung vào tìm hiểu môi trường không khí và
môi trường nước, đặc biệt hướng tới ở các khu công nghiệp - nơi hoạt động của các nhà đầu
tư FDI diễn ra chủ yếu và cũng là một trong những nơi gây ra ô nhiễm chính ở Việt Nam.
3.2 Thực trạng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới phát triển bền vững
3.2.1 Thực trạng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế
3.2.1.1 Tác động tích cực
a. Đóng góp vào tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội và tổng sản phẩm quốc nội
Trong giai đoạn 2010-2015, tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI vào tổng vốn đầu tư toàn
xã hội và tổng sản phẩm đã tăng lên.
b. Thúc đẩ y chuyển giao công nghệ
Theo Bùi Văn Hùng (2013), hoa ̣t đô ̣ng chuyể n giao công nghê ̣ qua các dự án FDI vào
Viê ̣t Nam đã diễn ra hế t sức đa da ̣ng và phong phú với nhiề u loa ̣i công nghê ̣ đươ ̣c nhâ ̣p khẩ u
(nhấ t là trong các lıñ h vực như dầ u khı,́ điê ̣n tử, viễn thông…). Ngoài ra, theo kế t quả điề u tra
về Năng lực ca ̣nh tranh và công nghê ̣ ở cấ p đô ̣ doanh nghiê ̣p ta ̣i Viê ̣t Nam năm 2013 do Viện
Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương phố i hơ ̣p cùng Tổ ng cu ̣c Thố ng kê và trường đa ̣i
ho ̣c Copenhagen thực hiê ̣n, FDI đã có đóng góp quan tro ̣ng trong hoa ̣t đô ̣ng chuyể n giao
công nghê ̣ ở Viê ̣t Nam. Trong 2112 doanh nghiê ̣p đươ ̣c khảo sát có mua đầ u vào từ các nhà
cung cấ p quố c tế , nhóm doanh nghiê ̣p FDI là nhóm nhâ ̣n đươ ̣c chuyể n giao công nghê ̣ nhiề u
nhấ t. .
c. Tăng thu ngân sách nhà nước
Tương ứng với đóng góp của khu vực FDI vào tổng sản phẩm trong nước, khu vực
này có mức đóng góp vào thu ngân sách nhà nước không nhỏ, luôn đạt trên 10% tổng thu
trong giai đoạn 2010-2015.
thanh lý ở các nước.
3.2.2 Thực trạng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xã hội
3.2.2.1 Tác động tích cực
a. Tạo việc làm cho người lao động
Theo kết quả khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam về Chỉ số
Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh năm 2015 có tới 62,4% doanh nghiệp trả lời là đã tiến hành
tuyển thêm nhân viên vào năm 2015. Như vậy, rõ ràng, khu vực có vốn FDI đã góp phần
không nhỏ trong việc giải quyết công an việc làm, giúp giảm tình trạng thất nghiệp của người
lao động ở Việt Nam.
b. Nâng cao trình độ người lao động
Bên cạnh tạo việc làm, từ đó giúp giảm tình trạng thất nghiệp, dòng vốn FDI còn giúp
cho người lao động Việt Nam được nâng cao trình độ thông qua các hoạt động đào tạo bên
trong các doanh nghiệp FDI. Theo trích dẫn của tác giả Phạm Thị Ngọc Mai (2015) dựa trên
khảo sát của Viện Khoa học Lao động và Xã hội thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội,
tỷ lệ lao động được đào tạo ở các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam là 14,43% tổng số lao động.
Trong số các lao động được đào tạo này có 27,35% được đào tạo mới, 71,81% là đào tạo
nâng cao và còn lại là đào tạo lại.
c. Tăng thu nhập cho người lao động (so với khu vực ngoài Nhà nước)
Theo Báo cáo điều tra lao động năm 2015, trong khi mức thu nhập từ việc làm (bình
quân theo tháng) của lao động làm công ăn lương của cả nước chỉ đạt khoảng 4,7 triệu đồng
và khu vực ngoài Nhà nước đạt 4,5 triệu thì khu vực FDI đạt 5,3 triệu (cao hơn 600 nghìn
đồng so với mức trung bình chung của cả nước và hơn 800 nghìn so với khu vực Ngoài nhà
nước).
3.2.3.2 Tác động tiêu cực
a. Gây ra tình trạng mất cân đối giữa các ngành, vùng kinh tế và mất cân đối về lao
động
Tình trạng mất cân đối mà dòng FDI gây ra có thể được xem xét ở các góc độ khác
nhau. Thứ nhất, FDI gây ra tình trạng mất cân đối giữa các ngành kinh tế. Nguyên nhân của
b. FDI giúp giảm ô nhiễm môi trường thông qua các hoạt động cộng đồng nhằm nâng
cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường
Rất nhiều các doanh nghiệp FDI đã tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng. Đặc
biệt, một số các doanh nghiệp FDI đã đẩy mạnh phối hợp với các cơ quan chức năng của Việt
Nam, theo đó ký kết các thỏa thuận hợp tác liên quan tới vấn đề bảo vệ và giảm ô nhiễm môi
trường. Cụ thể như, Tổng cục môi trường và công ty Panasonic Việt Nam đã ký thỏa thuận
hợp tác vào ngày 8/12/2015.
3.2.3.2 Tác động tiêu cực
a. Dòng vốn FDI tập trung đổ vào các lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường
cao
Theo kết quả khảo sát về năng lực cạnh tranh và công nghệ ở cấp độ doanh nghiệp tại
Việt Nam năm 2013 do Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương phối hợp cùng Tổng cục
thống kê (2016e) và trường đại học Copenhagen thực hiện, vốn FDI tập trung nhiều nhất
trong các lĩnh vực như dệt may, hóa chất, điện tử, giấy và gang thép - là những ngành tiềm ẩn
nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao.
b. Trình độ công nghệ sử dụng chưa cao dẫn tới tiêu tốn tài nguyên thiên nhiên và phát
thải lớn
Theo Hoàng Thị Hạnh và Nguyễn Tuấn Dũng (2016), tính đến năm 2015, số lượng
các dự án có vốn FDI đến từ các nước phát triển có công nghệ hiện đại như Đức, Pháp, Thụy
Sỹ…còn khá khiêm tốn. Dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam chủ yếu đến từ các nước châu Á
với công nghệ sử dụng có trình độ trung bình, hàm lượng công nghệ cao còn rất thấp.
c. Chất thải gây ô nhiễm môi trường
Trong nghiên cứu về Quản lý môi trường tại các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài
(FDI) tại Việt Nam, Đinh Đức Trường (2015) đã chỉ ra rằng, đối với chất thải, phần lớn
(90%) các doanh nghiệp nhận thức được chất thải chính và chất thải đặc thù của doanh
nghiệp của mình. Bên cạnh đó, khi tự đánh giá về mức độ gây ô nhiễm mà quá trình sản xuất,
kinh doanh của mình gây ra, trên 50 % các doanh nghiệp FDI cho rằng hoạt động của mình
khá gây ô nhiễm (chủ yếu là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thuộc da, dệt
nhuộm…).
d. Thiếu, không có, không áp dụng hoặc áp dụng không đúng hệ thống, quy trình xử lý
tiền lương tối thiểu, từ đó làm tăng chi phí lao động
3.3.2 Thực trạng tác động của xã hội tới đầu tư trực tiếp nước ngoài
3.3.2.1 Tác động tích cực
Khía cạnh quan trọng và được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nhất khi đầu tư vào
Việt Nam chính là sự ổn định chính trị, xã hội. Sự ổn định này giúp các nhà đầu tư yên tâm
khi tiến hành hoạt động đầu tư với thời gian dài như FDI, do đó, một quốc gia đảm bảo được
ổn định chính trị, xã hội sẽ có cơ hội thu hút được nhiều FDI hơn so với các quốc gia khác.
3.3.2.2 Tác động tiêu cực
Bên cạnh tác động tích cực ở trên, bản thân xã hội cũng có thể có các tác động tiêu cực
tới dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam, cụ thể:
a. Tham nhũng gây cản trở đối với dòng FDI
Theo kết quả khảo sát về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 2015 của Phòng Thương
mại và Công nghiệp Việt Nam, hầu hết các doanh nghiệp FDI đều chia sẻ cảm nhận chung là
môi trường kinh doanh của Việt Nam kém hấp dẫn hơn môi trường của các nước khác ở một
trong những nhân tố quan trọng là tình trạng tham nhũng.
b. Chất lượng lao động thấp là một cản trở đối với dòng FDI
Theo một khảo sát do Viện Khoa học Lao động và Xã hội phối hợp cùng tập đoàn
Manpower thực hiện với 6.000 doanh nghiệp ở 9 lĩnh vực kinh tế trên 9 tỉnh, thành phố của
Việt nam thì các doanh nghiệp đánh giá chất lượng lao động lao động ở Việt nam được xếp
vào nhóm 10% thấp nhất khu vực ASEAN.
3.3.3 Thực trạng tác động của môi trường tới đầu tư trực tiếp nước ngoài
3.3.3.1 Tác động tích cực
Cùng với xu hướng thúc đẩy tăng trưởng xanh trên thế giới, các cơ hội kinh doanh
trong các lĩnh vực liên quan tới môi trường ngày càng được mở rộng đối với các nhà đầu tư
vào Việt Nam, đặc biệt khi Nhà nước đã đưa tăng trưởng xanh và phát triển bền vững vào
định hướng phát triển chung của quốc gia.
3.3.3.2 Tác động tiêu cực
Theo tổng hợp của Đinh Đức Trường (2015) thì có 12% doanh nghiệp được hỏi dự
bền vững cho thấy, xét ở góc độ tác động của FDI, có thể thấy, trong ngắn hạn, FDI có thể
giúp làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc gia, tuy nhiên tác động này không tồn tại trong
dài hạn. Trong khi đó, FDI sẽ có ảnh hưởng theo hướng tích cực trong dài hạn tới khía cạnh
xã hội. Trong khi đó, tác động về ngắn và dài hạn của FDI tới môi trường không rõ ràng. Xét
về tác động của các trụ cột của phát triển bền vững tới thu hút dòng FDI vào Việt Nam,
trong ngắn hạn, tăng trưởng kinh tế là một nhân tố quan trọng giúp thu hút FDI nhưng trong
dài hạn tác động này không còn có ý nghĩa thống kê. Xét về mặt xã hội, có thể thấy, ảnh
hưởng của yếu tố xã hội có xu hướng quan trọng về dài hạn đối với việc thu hút FDI vào Việt
Nam. Về môi trường, ảnh hưởng của môi trường tới FDI không có ý nghĩa về mặt thống kê.
3.5 Đánh giá chung về mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển bền
vững của Việt Nam
Trên cơ sở những phân tích về mặt định tính và định lượng trong các nội dung ở trên,
Luận án đã đưa ra một số các đánh giá về các tác động tích cực và tiêu cực chủ yếu, đồng
thời cũng chỉ ra rằng các tác động này có được từ nhiều nguyên nhân khác nhau.
3.5.1 Những tác động tích cực chủ yếu và nguyên nhân
3.5.1.1 Về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới phát triển bền vững
Qua kết quả nghiên cứu, Luận án đã chỉ ra các kết quả liên quan tới tác động tích cực
của FDI tới phát triển bền vững bao gồm: (a) FDI thực sự giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
trong ngắn hạn, (b) FDI thực sự giúp nâng cao đời sống xã hội của người dân, và (c) FDI
cũng có sự cân bằng về tác động tích và tiêu cực tới môi trường.
3.5.1.2 Về tác động của phát triển bền vững tới đầu tư trực tiếp nước ngoài
Các kết quả liên quan tới tác động tích cực của phát triển bền vững đối với việc thu
hút FDI vào Việt Nam bao gồm (a) Tăng trưởng kinh tế cũng góp phần thu hút FDI, (b) Sự
cải thiện về đời sống xã hội thúc đẩy thu hút FDI. Các tác động này có được xuất phát cũng
từ nhiều nguyên nhân khác nhau.
3.5.2 Những tác động tiêu cực chủ yếu và nguyên nhân
3.5.2.1 Về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới phát triển bền vững
Các tác động tiêu cực của FDI tới phát triển bền vững mà Luận án đã chỉ ra bao gồm:
trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới, Việt Nam đã khẳng định rõ quan điểm và định hướng
của mình về vai trò của dòng vốn này và vị trí của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong
nền kinh tế đất nước, cũng như đưa ra định hướng cụ thể về việc thu hút FDI trong thời gian
tới.
4.2.2 Quan điểm và định hướng thúc đẩy phát triển bền vững
Phát triển bền vững là mục tiêu dài hạn đã và đang được rất nhiều nước quan tâm
trong đó có Việt Nam. Quyết định số 432/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 đã khẳng định rõ về quan
điểm và định hướng ưu tiên phát triển bền vững.
4.3 Một số giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của
mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển bền vững của Việt Nam
4.3.1 Nhóm giải pháp về định hướng chung và định hướng thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài
Các giải pháp liên quan tới định hướng chung này được chia thành các nhóm như sau:
(i) Nhà nước nên định hướng ưu tiên dòng FDI các bon thấp từ các nước và nhóm nước phát
triển có công nghệ hiện đại như Liên minh Châu Âu, (ii) Nhà nước nên có định hướng cụ thể
theo đó đẩy mạnh hay hạn chế thu hút FDI vào một số ngành, khu vực nhất định, (iii) Nhà
nước nên tiếp tục định hướng duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định
4.3.2 Nhóm giải pháp về tuyên truyền và đẩy mạnh trao đổi ý kiến hai chiều với doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nhà nước nên đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, ký cam kết và xây dựng các chế tài
cần thiết để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật Việt Nam của các doanh nghiệp có vốn FDI
thông qua các nội dung: Thứ nhất, Nhà nước nên tích cực hơn nữa trong việc tuyên truyền về
vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ người lao động và các mặt khác của đời sống xã hội. Thứ
hai, bên cạnh việc tuyên truyền, Nhà nước có thể thúc đẩy doanh nghiệp ký các cam kết liên
quan như cam kết bảo vệ điều kiện làm việc của người lao động…Thứ ba, Nhà nước nên tạo
điều kiện trao đổi và lấy ý kiến của các doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động về những
vấn đề của họ, những lý do giải thích tại sao họ chưa thể áp dụng các biện pháp cần thiết